Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Phản biện cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm

Lời mở đầu

Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.

Đã có vô số bài viết bày tỏ niềm yêu mến với cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm của ông Masanobu Fukuoka, mà bài viết Cuộc cách mạng một cọng rơm: cuốn sách lạ và quý của tác giả Nguyên Ngọc, đăng trên báo Người Đô Thị, là một đại diện cho những niềm yêu mến đó. Nhưng tôi nghĩ, cái ông ấy cần nhất không phải là những lời tán dương, mà là một bằng chứng chứng tỏ mình đang nhầm lẫn. Tôi nghĩ, cái mong muốn dài ba mươi, bốn mươi năm đó nên được đáp ứng một lần. Nên hôm nay tôi sẽ thử góp một chút lời cho chuyện đó.

Bài viết chia làm 3 phần:

  1. Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa
  2. Thứ ông ấy làm lại chính là khoa học đúng nghĩa
  3. Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Lưu ý: tác giả bài viết này chưa đọc về triết học trong khoa học, hay khoa học học. Lương tâm của tác giả bị cắn rứt khi nói những điều mình có thể chưa hiểu rõ. Nhưng có lẽ đây là lúc nên mạnh dạn dẹp sự xấu hổ đó qua một bên để làm điều cần thiết. Cứ tạm viết ra đã, rồi sau đó nhờ người có hiểu biết chỉnh sửa sau cũng không muộn.

Vị trí trong sách của những câu trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.

Sau khi 3 phần này được đăng lên, tôi đã có dịp được trò chuyện với người dịch cuốn sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều, và tôi gom chúng lại thành một bài viết riêng: Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi. Nó sẽ nói về lý do tại sao mọi người cảm thấy ông ấy thật cao ngạo, về cái sai nghiêm trọng của các nhà khoa học mà ông ấy muốn cảnh tỉnh (nói theo cách các nhà khoa học đều thấy thỏa mãn), và cách để quay lại Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm. Nếu bạn vốn là người đã yêu mến cuốn sách này, và cảm thấy những lời ông ấy nói dành cho khoa học không hề cực đoan mà chỉ là sự cảnh tỉnh cần thiết, thì bạn có thể bỏ qua bài phản biện và đọc thẳng bài viết đó.

Phần 1: Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa

Ông Fukuoka nói:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến chỗ xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho. Người ta làm thế hết lần này đến lần khác. Giống như một gã ngốc dẫm đạp lên mái nhà mình làm vỡ hết ngói. Rồi khi trời bắt đầu mưa và trần nhà bắt đầu rữa ra, hắn mới vội vàng trèo lên chắp vá những chỗ hư hỏng, cuối cùng thì nhảy cẫng lên vui mừng vì mình đã hoàn thành một giải pháp phi thường.

Với nhà khoa học thì cũng tương tự như vậy. Ông ta mải mê đọc sách đêm ngày, căng hết cả mắt ra tới mức trở nên cận thị, mà nếu ta có hỏi ông ta làm cái gì trong suốt thời gian đó – thì đấy là để trở thành nhà phát minh ra kính cận. (19)

Cao Xuân Hạo có câu “Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề”. Vậy tại sao đến lúc mùa xuân tới rồi, thì lại quay sang nói con én là xa rời tự nhiên, là cưỡng cầu, là mắc dính? Việc làm ra kính cận là điều cần thiết, tại sao lại phải chê?

Cái ông ấy chê không phải là việc làm ra kính cận, mà là cái này:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa

Nhưng có thật là vậy không? Tất nhiên không nên chỉ hiểu là ông ấy chê những người làm ăn gian dối, vì lợi nhuận, mà là đang chê sự vô tình phân biệt phân biệt nhị nguyên trong tâm trí. Nhưng có thật là họ đang phân biệt nhị nguyên không? Và sự phân biệt đó có thật là đi ngược tự nhiên không?

Khoa học trong mắt ông ấy là thế này:

Đấy là bởi vì vai trò của khoa học gia trong xã hội cũng tương tự như vai trò của trí phân biệt trong tâm trí của chính chúng ta. (95)

Đó có vẻ không phải là hiểu biết chính xác về khoa học.

Khoa học, theo đúng nghĩa của nó, là phải có sự kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu như “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Với những câu không thể kiểm sai được như vậy, khoa học không quan tâm.

Xuyên suốt quyển sách, tôi không thấy một lời nào nói về tính kiểm sai đó cả. “Khoa học”, trong mắt ông ấy, chỉ là sự vô tình tách biệt khỏi tự nhiên, vô tình phá hoại nó bằng sự nhiệt tình. Ông ấy khẳng định thế này:

Hơn nữa, các nhà khoa học, bất kể họ nghiên cứu thiên nhiên bao nhiêu và bao xa, cuối cùng cũng chỉ đi đến nhận ra thiên nhiên hoàn hảo và bí ẩn tới mức nào. Tin rằng nhờ vào việc nghiên cứu và bằng phát kiến, nhân loại có thể tạo ra một cái gì đó tốt hơn cả tự nhiên là điều ảo tưởng. Tôi nghĩ rằng người ta đang gắng sức không vì lý do nào khác hơn là để biết được cái mà ta có thể gọi là sự ‘bất khả tư nghị’ về cái bao la của tự nhiên. (66)

Ông ấy nói rằng sau khi nghiên cứu thiên nhiên thì các nhà khoa học sẽ chỉ nhận ra rằng thiên nhiên bí ẩn và hoàn hảo. Liệu đó là điều khoa học nói, hay là điều ông ấy cho rằng khoa học nói? Ông ấy không một lần nào nhắc tới tính kiểm sai của khoa học, nhưng lại luôn khẳng định khoa học là phân biệt. Vậy việc dành cả đời mình chỉ để khẳng định với mọi người rằng khoa học là phân biệt liệu có phải là đang phân biệt không? Và rốt cuộc thì, liệu có thật sự là khoa học phân biệt không?

Ông ấy nói:

Một phương pháp kiểm nghiệm khoa học mà đưa được tất cả các yếu tố liên quan vào xem xét là điều bất khả thi. (46)

Cứ cho là như vậy đi, nhưng vậy rồi sao? Nếu người trong cuộc không phàn nàn gì về điều đó, vậy tại sao người ngoài cuộc phải phàn nàn giùm? Ngay từ đầu khoa học đã chẳng màng tới điều đó; thứ duy nhất nó quan tâm chỉ là việc lời nói ra có kiểm sai được hay không. Phân biệt hay không phân biệt, cặp mắt nào được việc hơn thì nó sẽ dùng. Ép nó phải dùng cặp mắt này mà không dùng cặp mắt kia, liệu có hơi thô bạo chăng?

Ông ấy hỏi học bằng tiến sĩ để làm gì (46). Để làm gì ư? Để không làm gì chứ còn để làm gì nữa? Để coi mình là một phần của tự nhiên. Để không phải sợ hãi những thứ không có thật. Để có thể nhân ái với nhau hơn. Liệu nói như thế có đúng ý ông ấy chăng?

Ông ấy nói:

Người ta nói rằng Einstein được trao giải Nobel vật lý là do độ khó hiểu của thuyết tương đối mà ông ta đưa ra. (95)

What? Ông ấy có đùa không? Câu này chỉ là câu nói đùa, vậy mà ông ấy xem nó như thật rồi dựa toàn bộ phê phán của mình lên trên câu nói ấy. Đáng ra ông ấy chỉ cần hỏi các nhà khoa học “này các anh, đây có phải là ý các anh muốn nói không”, thì lúc đó mọi hiểu lầm sẽ được giải quyết. Đành rằng vào thập niên 1970 thì khó mà email cho Einstein thiệt, nhưng quan trọng là ông ấy có suy nghĩ rằng nhỡ đâu mình đang nghĩ sai về Einstein hay không? Hay như chính lời ông ấy nói, cách làm không quan trọng, quan trọng là có nhận thức ra được không (31).

Không phải là ông ấy không đặt những câu hỏi như vậy. Nhưng sau khi hỏi, ông ấy lại nhảy ngay lập tức tới kết luận tiêu cực mà chưa thử tìm cách nghĩ ngược lại, chưa thử kiếm bằng chứng chống lại mình. Đây đâu phải là vượt lên trên suy nghĩ nhị nguyên; đây chỉ đơn giản là lỗi lập luận sơ đẳng mà thôi. Có vẻ như, các từ khoá như “hóa chất” hay “khoa học” sẽ luôn chặn đứng khả năng không phân biệt mà ông ấy vốn có.

Ông ấy nói:

Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. Tôi gần như biết về những điều sai sót có thể xảy ra khi trồng cây nông nghiệp nhiều hơn bất kỳ ai khác ở Nhật. Lần đầu thành công trong việc trồng lúa và ngũ cốc mùa đông bằng phương pháp vô canh, tôi cảm thấy vui sướng như Columbus hẳn đã cảm thấy khi ông tìm ra châu Mỹ. (34)

Vậy ông ấy vui sướng như Columbus, nhưng lại coi khinh Einstein. Ông ấy nói rằng “Thậm chí nếu chỉ gọi tên cây cối, một cây quýt thuộc họ cam quýt, một cây thông thuộc họ thông, thì tự nhiên đã không còn được thấy trong đúng nguyên bản của nó nữa” (24). Vậy nhưng ông ấy lại gọi Columbus là Columbus, gọi Einstein là Einstein. Chuyện đó có mâu thuẫn không? Hay là ông ấy chọn người này bỏ người kia để thuận tiện cho lập luận của mình?

Mà nói về chuyện vui sướng, thì người vui sướng nhất phải là Einstein mới đúng chứ? Ông ấy đến Mỹ là để trốn phát xít Đức cơ mà. Còn Columbus chỉ đang muốn đi đường tắt tới Ấn Độ thôi. Cảm giác khi đến châu Mỹ của Columbus chắc phải là chưng hửng mới đúng.

Quyển sách của ông ấy có bao nhiêu từ thì tôi đã thấy ông ấy phân biệt bấy nhiêu lần. Phân biệt giữa “ngũ cốc” và “đào hang”, giữa “đồng lúa cân bằng sinh thái” và “cộng đồng côn trùng và thực vật”. Ông ấy có thể bảo: “ừ thì chúng ta không thể thoát khỏi ngôn ngữ, nhưng ý của tôi là một thứ cao hơn”. Vậy thì ta cũng có thể nói ngược lại: “nếu chúng ta không thể thoát khỏi nó, thì đừng lảng tránh nó nữa, mà hãy đối diện với nó, đón chào nó như một người bạn”. Xem ra cũng chẳng khác biệt nhau là mấy.

Vậy tại sao một người dành cả tuổi trẻ hăng say để làm khoa học như ông ấy lại không hiểu gì về khoa học? Ông ấy cũng trả lời luôn:

Nhưng thực ra trong suốt tám năm đó, tôi ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên. Nền nông nghiệp hoá chất, sử dụng những sản phẩm của trí tuệ con người, đã được xem là siêu việt hơn. Câu hỏi luôn lởn vởn trong tâm trí tôi là liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không. (17)

Vậy là trong tám năm đó, ông ấy ngẫm nghĩ về “mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên”, chứ không phải là “bản chất của khoa học”. Thứ lởn vởn trong tâm trí ông ấy là “liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không”, chứ không phải là “khi nào thì một suy luận được xem là có cơ sở khoa học”, hay là “liệu tính kiểm sai có phải là phán quyết cuối cùng cho công cuộc hiểu biết tự nhiên hay không”. Chưa kể, ông ấy làm công việc khoa học, nhưng đầu óc không dành cho nó. Vậy thì cũng đâu thể gọi là hiểu được nó đâu?

Thật sự là các nhà khoa học không cần hiểu lắm bản chất của nó, chỉ cần nắm vững một số nguyên lý thực hành là có thể làm được. Có người là thầy, có người là thợ. Có những người thợ là thầy của những người khác. Có những người thầy là thợ của những người khác. Người làm trong một chuyên môn cụ thể không nhất thiết phải đọc triết học, đặc biệt là các ngành thực nghiệm như sinh học hay khoa học nông nghiệp. Ngay cả toán học cũng vậy. Người ta nói toán học như ngôi nhà được xây trên cát, vì nền tảng của nó đang có vô số lỗ hổng. Vậy nhưng các nhà toán học không quan tâm, mà outsource hết cho triết gia. Biết thì tốt, còn không biết thì cũng không quá nghiêm trọng. Bạn cũng đâu có một lần mảy may áy náy khi đọc những dòng này mà không biết cách hoạt động của chip máy tính đúng không?

Vì vậy, việc ông ấy làm khoa học mà không hiểu về bản chất của nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng không hiểu mà vẫn làm được là một chuyện, không hiểu mà phê phán người khác lại là chuyện khác.

Phần 2: Thứ ông ấy làm lại là khoa học đúng nghĩa

Ở phần 1 là chuyện ông ấy nghĩ gì về khoa học. Vậy còn chính những gì ông ấy làm thì sao?

Cách thông thường để phát triển một phương pháp là đặt câu hỏi “Thử cái này xem sao?” hoặc “Thử cái kia xem sao? […] Cách nghĩ của tôi là “Không làm điều này thì sao nhỉ? Không làm điều kia thì sao nhỉ?” (18)

Vậy, bằng đúng phương pháp của ông ấy, ta có thể hỏi: không làm nông nghip t nhiên thì sao nh? Và ta cũng sẽ có được kết quả tương tự: chẳng việc gì phải làm nông nghiệp tự nhiên cả. Cả làng ông ấy không ai làm nông nghiệp tự nhiên, nhưng mọi người vẫn vui vẻ hòa thuận với nhau. Đất đai cằn cỗi ư? Chẳng phải cằn cỗi và màu mỡ là một sao? Tại sao lại phân biệt giữa cằn cỗi và màu mỡ? Tại sao lại phân biệt giữa tự nhiên và hóa chất? Cho rằng làm đất đai cằn cỗi là xấu, dùng thuốc hóa học là có hại, vậy có phải là tâm phân biệt, suy nghĩ nhị nguyên hay không? Tại sao không xem chúng là món quà mà tự nhiên ban tặng?

Tại sao ông ấy lại nhất quyết cho rằng hóa chất là độc hại? Ta hãy tiếp tục lần theo những suy nghĩ của ông ấy:

Người ta không thể biết đâu là nguyên nhân thật sự của căn bệnh trên cây thông, cũng như không thể biết hệ quả sau rốt của cách “chữa trị” mà hđưa ra. Nếu can thiệp bừa vào tình huống này thì người ta chỉ gieo mầm mống cho đại hoạ kế tiếp. Không, tôi không thể vui mừng khi biết rằng sự thiệt hại tức thời do loài mọt này gây ra đã được giảm thiểu nhờ vào việc phun hoá chất. Sử dụng hoá chất nông nghiệp là phương pháp dớ dẩn nhất đđối phó với những vấn đề như thế này, và nó chỉ dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai. (29)

Vậy với ông ấy, “hóa chất” nghĩa là “can thiệp bừa”, là “gieo mầm mống cho đại họa kế tiếp”, là “dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai”. Nhưng nếu tôi nói rằng, loài tảo lam cũng tiết cyanotoxin một cách bừa bãi để hủy diệt hệ sinh thái địa phương thì sao? Vậy thật ra, loài người cũng chỉ đang học tập loài tảo lam vô tri vô giác đó thôi?

Ta cũng có thể hỏi tiếp: không nghĩ cách nghĩ ca ông y thì sao nh? Nếu ta cứ nghĩ như bình thường trước đây vẫn nghĩ thì sao? Lúc đó, ta sẽ nhận ra: thứ ông ấy đang phê phán là cứ làm việc theo quán tính mà không dừng lại để đánh giá, chứ không phải là bản thân chuyện đặt câu hỏi. Nếu trong câu hỏi của ta có tinh thần dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý, thì hỏi câu nào chẳng được?

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Lão Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, đặt nền móng cho triết học phương Tây. Và chính từ cái truyền thống triết học đó mà khoa học hình thành. Ông ấy nói là các nhà khoa học trước khi làm việc hãy trở thành triết gia (46), nhưng ông ấy quên rằng chính triết gia đã đẻ ra khoa học. Thật vậy, khoa học trước đây không được gọi là khoa học, mà được gọi là triết học tự nhiên. Chủ động thách thức những gì bản thân trước giờ vẫn nghĩ, chẳng phải là thấm đẫm trong cái nguyên tắc kiểm sai đó sao? Khoa hc không nói rng cái nào là đúng, cái nào là sai. Khoa hc ch cho phép ta không tin vào nhng gì nó nói. Vậy có phải, cái ông ấy làm cũng chính là tinh thần khoa học, mà ông ấy không nhận ra?

Sẽ thật là hồ đồ nếu vội kết luận như vậy, vì cho tới giờ vẫn chỉ là suy diễn. Ta hãy kiểm tra xem điều đó có đúng là như vậy không, bằng cách xem thế nào là làm theo phương pháp khoa học. Nó là một chuỗi tuần tự những bước sau: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Tất cả những bước này chính là cái nguyên lý thực hành đã nói ở phần 1. Nếu bạn làm chúng, thì dù bạn có để ý là bạn có đang làm nó hay không, công việc của bạn cũng sẽ được xem là có tính khoa học.

Tôi thấy, những bước thực hành khoa học ông ấy đều làm đủ cả:

Ông ấy đề ra giả thuyết:

  • Tôi tin rằng cây trồng tự chúng mọc và không cần phải chăm sóc. (17)
  • Ý tưởng là không diệt cỏ ba lá mà chỉ làm chúng yếu đi để những cây mạ mọc vững trước đã. (35)
  • Những năm gần đây, tôi đang thử phát triển một giống lúa nếp cổ từ miền Nam. […] Tôi tin rằng với giống lúa này, một ngày nào đó tôi có thể gặt hái được sản lượng gần chạm tới ngưỡng tối đa về mặt lý thuyết có thể có, căn cứ trên năng lượng mặt trời đổ xuống cánh đồng. (36)

Ông ấy làm thí nghiệm nhiều lần để kiểm định giả thuyết. Sau khi thí nghiệm thì phân tích kết quả và loại bỏ giả thuyết sai:

  • Trong quá trình đi đến được câu trả lời, tôi đã cho 400 cây nữa đi tong. Cuối cùng thì tôi cảm thấy mình đã có thể nói một cách chắc chắn: “Đây chính là hình thái tự nhiên.” (18)
  • Trong hai mươi, ba mươi năm qua, phương pháp trồng lúa gạo và ngũ cốc mùa đông này đã được kiểm nghiệm trên diện rộng với nhiều kiểu thời tiết và điều kiện tự nhiên khác nhau. (22)
  • Tôi đã từng dùng cách thả hạt vào những lỗ nhỏ trên đất, hoặc vào những rãnh đất mà không phủ đất lên, nhưng tôi đều thất bại nhiều lần với cả hai phương pháp này. (33)
  • Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. (34)

Ông ấy có sự kế thừa kiến thc/có trích dẫn nghiên cứu của người khác:

  • Gần đây, tôi có trao đổi về điều này với Giáo sư Iinuma ở Đại học Kyoto. Một nghìn năm trước, nông nghiệp được thực hành tại Nhật mà không có chuyện cày ruộng, và phải đến tận triều đại Tokugawa – khoảng 300-400 năm trước – thì việc cày xới sơ sơ một lớp mỏng trên bề mặt mới được đưa vào. (20)
  • Bệnh mọt ăn cây này, theo các nghiên cứu gần đây nhất không phải là lây nhiễm trực tiếp, mà xuất hiện theo sau hoạt động của loài giun tròn trung gian (28)

Giả thuyết sau khi được sàng lọc có tính tiên đoán và kim sai:

  • Ngay cả giống cỏ khó chịu như cỏ mần trầu, vấn đề khó khăn nhất gặp phải trong phương pháp không cày xới, cũng có thể kiểm soát được. (33)
  • Vào đầu tháng tám, khi những cây lúa trên ruộng của láng giềng đã cao ngang lưng, thì trên ruộng của tôi, chúng chỉ cao bằng một nửa. Tầm cuối tháng bảy, những người tới thăm ruộng luôn tỏ ra hoài nghi và hỏi: “Tiên sinh Fukuoka à, chỗ lúa này liệu có nên cơm cháo gì không?” “Chắc chứ,” tôi trả lời: “Không cần phải lo.” (35)
  • Một trong những giống cây thú vị nhất, dù chẳng phải cây bản địa, là cây keo Morishima. […] Nó giúp phòng tránh côn trùng phá hoại trong vườn, đóng vai trò chắn gió và loại vi khuẩn rhizobium sống trong rễ của nó làm màu mỡ thêm cho đất. (39)

Nểu giở mục lục cuốn sách ra, ta sẽ thấy ông ấy phân chia công việc làm nông rất ngăn nắp: cách cày xới đất, cách dùng phân bón, cách sử dụng rơm, cách trồng cây ăn quả, cách đối phó với sâu bệnh, cách ăn uống cân bằng, v.v. Hay trong một phần nhỏ như làm rơm, ông ấy lại tiếp tục chia ra thành: rải rơm còn nguyên chất, rơm làm màu mỡ đất, không cần chuẩn bị phân ủ, nảy mầm, v.v.  Bố cục cuốn sách rất rõ ràng, vậy không thể nói là ông ấy đang không chẻ nhỏ cái tổng thể thành những cái riêng lẻ được.

Tất cả những bước này đều vô cùng quan trọng để ông ấy đạt được mục đích của mình. Vậy có thể khẳng định, thứ gì ông ấy làm chính là khoa học đúng nghĩa.

Phần 3: Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Ta hãy nói về sự tham lam. Cách đây vài tuần tôi có dịp đến Sun World Phú Quốc. Phải nói là chán. Hay nói như Thế Lữ thì là thế này:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nhưng trên đường đi đến đó tôi phải đi cáp treo qua biển. Và cảnh tượng phía dưới là tuyệt đẹp. Lúc đó là sau bão nên biển động, nước đánh mạnh vào các bãi đá ở dưới. Khi sóng rút, bọt trắng len lỏi giữa các rãnh đá, khá vuông vắn chứ không lộn xộn như bình thường. Tra ra thì đó có vẻ là cát kết xen lẫn cuội kết, hình thành từ kỷ Jura. Nghĩa là thứ đang ở trước mắt tôi đây đã có từ thời bọn khủng long còn sinh sống.

Tôi tự hỏi, không biết là có bao nhiêu con người chấp nhận bị nói là tham lam, để tôi có thể thấy được một cảnh đẹp đến thế. Những người ở cấp lãnh đạo thừa biết xây ra sẽ bị chỉ trích, nhưng họ vẫn mặc kệ dư luận để tiếp tục xây dựng. Họ cứ việc mình mình làm, không cần sự ủng hộ của người khác. Vậy chẳng phải là họ đang như con én đưa thoi mà không màng xem mùa xuân có đến hay không ư?

Họ tham lam, vậy đó là điều tốt. Ta nên ủng hộ sự tham lam của họ, tìm cách để giúp họ trở nên tham lam hơn. Hoặc hay hơn, là tham lam cùng với họ, trở thành một người tham lam hệt như họ. Nhưng có lẽ hay nhất, là từ đầu là một người tham lam. Tham lam tột cùng. Có thể làm được điều đó, thì ta mới thật sự không còn tham lam. Cứ tham lam đi, rồi những điều bất ngờ sẽ đến.

Đó là nói theo kiểu Lão, khi cứ khù khờ, không hay biết gì cả, sống cho riêng mình. Còn nói theo kiểu Phật, là từ bi hỷ xả. Một người cố gắng làm bánh mì ngon có thể làm bánh mì ngon biến mất. Nhưng nếu nhờ có nó mà con của họ hào hứng học tập, còn bản thân họ thấy cuộc sống có ý nghĩa, thì lúc đó bánh mì ngon có mất không? Khi cái mong muốn không phải là để thỏa mãn ham muốn bản thân, mà là để đạt được một góc nhìn cao hơn, rộng hơn, để đặt mình vào góc nhìn của người khác, thì ta đâu phải lo họ tham lam?

Điều gì khiến con én không dính chấp vào mùa xuân, nếu không phải là sự từ bi? Tôi nghĩ, nếu người dù phân biệt đến mấy có tâm từ bi, thì hành động của họ chẳng còn phân biệt gì nữa. Và ngược lại, nếu thấy một người khác đang phân biệt, thì hãy từ bi với họ mà phân biệt cùng họ. Dám biến mình thành người phân biệt là phép thử tốt nhất cho sự không phân biệt của chúng ta.

Sự từ bi sẽ phi-phân-biệt-hóa mọi suy nghĩ phân biệt. Nhờ có nó, ta có thể làm mà như không làm, ngồi im như tượng phỗng bằng cách chạy nhảy lung tung. Người vô dụng tham lam ở chỗ không phải vì họ không làm gì có ích, mà ở chỗ họ không giải thích cho người ngoài hiểu được chuyện mình đang làm. Người ngoài không hiểu thì không phải là lỗi của họ, nhưng bản thân người vô dụng lại để sự hiểu lầm tiếp tục xảy ra. Sự hiểu lầm đó làm gia tăng stress ở người ngoài, mà chỉ có sự giải thích của người vô dụng thì căng thẳng đó mới được giải tỏa.

Điều đó đòi hỏi người giác ngộ phải có khả năng tư duy trong sự trống rỗng. Tôi cho rằng các vị đã giác ngộ vẫn đang loay hoay không biết cách nào để chỉ ra được – một cách dễ hiểu và trực quan – cách để làm như thế.  Vì để giải thích cái ý trống rỗng còn chưa xong, thì thời gian đâu để giải thích cái ý thõng tay vào chợ? Tôi nghĩ rằng ông Fukuoka cũng đang loay hoay cho việc đó. Nếu không thì ông ấy đã chẳng hay nổi giận khi người khác không hiểu rồi. Vì người ta chỉ nổi giận khi họ thấy rối bời và bất lực.

Khoa học sẽ giúp ông ấy hết loay hoay. Hay nói đúng hơn, mọi suy nghĩ phân biệt sẽ giúp cho sự từ bi và trống rỗng đạt hiệu quả cao. Nếu có cả hai yếu tố này, thì một cuộc cách mạng rơm là hoàn toàn trong tầm tay.

Kết luận

Cái từ “khoa học” đó đã bị biến nghĩa rồi. Thứ ông ấy nói không phải là khoa học đúng nghĩa. Nhưng thứ ông ấy làm, từ đầu chí cuối, lại là khoa học đúng nghĩa. Nghĩa là ông ấy nói một đằng làm một nẻo.

Ông ấy có thể đã giác ngộ, có thể là người vô vi. Ông ấy cũng là một chuyên gia nông nghiệp giỏi, có tầm nhìn xa. Nhưng khi nói về bản chất của khoa học, có lẽ ông ấy chưa hiểu đủ về nó. Mà nói về một thứ mà mình không hiểu gì, thì có lẽ đó không phải là tinh thần của thiền. Nhưng làm một thứ mà mình còn không nghĩ là mình đang làm nó, thì lại là tinh thần vô vi.

Đọc lại từ đầu

Bài liên quan

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Tranh luận hiền hòa

Mọi người cũng biết, tranh luận là tốt. Ai tham gia tranh luận cũng mong suy nghĩ của mình giúp ích được cho người khác, chứ không mong áp đặt người khác phải theo ý mình…

Tranh luận hiền hòa

Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi. Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”…

Niềm vui hiểu Đạo

Con mắt lạnh như băng

Bài viết dành cho những ai biết mình cần phải thay đổi, nhưng gom mãi mà không đủ quyết tâm. Hoặc cho những ai biết mình cần phải thoát ra khỏi sự sợ hãi hoặc ảo tưởng, nhưng không biết làm sao để cắt đứt chúng.

Xem phần giới thiệu trước →


Nam đang suy nghĩ về Linh. Mối quan hệ của họ thật không lành mạnh chút nào, vì những gì cô nói đều làm cho anh lúc thì như ở trên mây, lúc thì như dưới địa ngục. Nam biết anh cần phải thoát khỏi tình trạng này, nhưng anh phải làm sao đây?

Nam sẽ thoát khỏi được những cảm xúc đó nếu anh đạt được một góc nhìn mới. Khi đó, Nam sẽ không còn sợ, không còn kiêu, không còn thiên kiến, không còn vô tình bóp méo sự thật nữa. Tư duy của Nam sẽ sắc bén và tỉnh táo ở một góc nhìn mới.

Nhưng làm sao để có thể có được một góc nhìn mới, khi theo định nghĩa ta luôn bị kẹt trong một góc nhìn bản thân? Giả sử Linh làm Nam như rơi xuống địa ngục, làm sao để anh có thể thôi tức giận khi cô không có một chút gì gọi là hối hận? Anh đã thử hết mọi cách để cô hiểu lòng mình, nhưng thứ duy nhất anh thấy là cô đang trốn tránh, chống đối, coi thường, định kiến, phớt lờ, hoặc thậm chí là chế diễu anh. Anh cố gắng tách mình khỏi cô, nhưng nỗi căm giận luôn kéo đến bất ngờ, làm xáo trộn sinh hoạt của anh, làm anh kiệt quệ.

Như mọi khi, nếu như logic không thể dùng để giải quyết vấn đề, thì ta phải dùng đến trí tưởng tượng. Tất cả những gì Nam mong muốn là thấy được cảnh Linh thôi phớt lờ Nam nữa. Vậy nếu điều đó xảy ra, thì cô sẽ nói gì với anh? Đâu là thứ thực sự có khả năng cô sẽ nói nhất, chứ không phải là chỉ những tưởng tượng trong đầu anh? Nếu cô không còn hứng thú với anh, thì rất có thể, đây là thứ cô sẽ nói:

Anh sẽ làm gì để vượt qua nỗi đau này? Bởi vì nếu anh vượt qua được, thì tôi sẽ hối hận. Tôi sẽ giúp anh trả thù tôi, và tôi sẽ làm tất cả mọi thứ để lấy lại được niềm tin anh trao cho tôi. Nhưng trước hết, hãy cho tôi bằng chứng rằng anh là người mạnh mẽ.

Điều này thật bất ngờ, nhưng lại là thứ anh đã muốn nghe từ lâu. Cô, người đẩy anh vào đau khổ, giờ lại đòi hỏi anh trở nên mạnh mẽ. Một mặt, anh rất muốn đáp trả lại những gì cô đã gây ra cho anh, mặt khác trong cô vẫn có một thứ gì đó khiến anh rất muốn gắn bó. Phải hin ngôn được điều đó, thì anh mới nhận ra được mình cần gì. Một luồng điện chạy trong đầu anh, khiến cho tất cả mọi thứ anh biết về cô trở nên hợp lý, làm anh bật ra được câu hỏi mà anh đã phải hỏi mình từ rất lâu: “ủa, mắc gì mình phải khổ đến vậy?”

Lần đầu tiên trải nghiệm cái nhìn đó, anh sẽ có cảm giác nỗi sợ trong anh bị cắt làm đôi. Cái nhìn đó lnh như băng, cắt xuyên qua thân thể anh, như một bác sĩ phẫu thuật rạch da anh ra, cắt khối ung thư đang dày vò anh bao năm nay, và khâu vết mổ lại. Suốt cả buổi phẫu thuật vị bác sĩ không hề để lộ ra một chút gì gọi là đau xót cho bệnh nhân; điều duy nhất họ làm là chú tâm vào công việc cho đến khi hoàn thành. Anh phải đặt mạng sống của mình vào tay một người xa lạ, một người hoàn toàn không hề có một sợi dây liên kết gì với anh, vậy mà anh lại phải tin tưởng người đó tuyệt đối. Tất cả những ký ức riêng tư của anh từ trong ra ngoài đều được phơi bày dưới con mắt đó. Anh muốn che dấu lại để không bị tổn thương lần nữa, nhưng dưới con mắt đó, anh bị tê liệt. Đáng lẽ ánh mắt lạnh lùng đó sẽ làm anh rất đau, nhưng vì nó quá lạnh, anh lại không thấy đau gì cả.

Người có thể đảm nhận được vai trò bác sĩ cho ta phải là người ta luôn tôn trọng tuyệt đối. Họ là người mà bạn vẫn cảm thấy gắn bó và tin tưởng, dù nỗi đau lớn tới đâu. Đó có thể là người đã làm tổn thương bạn (như Linh đối với Nam), là một người bạn khác, hoặc là người bạn luôn thấy mỗi lần soi gương. Người trong gương đó có thể là quá khứ của ta, là tương lai của ta, là đứa trẻ trong ta, hoặc là người thầy của ta. Họ có đời sống của riêng họ, nhưng họ vẫn quan tâm tới ta. Bạn có tìm ra được chính bản thân mình hay vẫn đang lạc lối thì cũng không phải là việc của họ, tuy nhiên họ vẫn mong bạn được toàn thiện hơn. Bạn không muốn làm họ thất vọng chút nào, nhưng bạn lại đang làm họ vô cùng thất vọng.

Nhiều lúc ta cũng biết là ta đang bóp méo những thứ ta đang nhìn, nhưng vẫn không biết phải làm sao để cắt đứt. Nhưng khi mọi nỗi đau bị con mắt đó cắt đứt, ta sẽ có cảm giác rất lạ, hơi lâng lâng. Con mắt đó làm ta thấy được hết những thứ ta không để ý, chỉ ra cho ta thấy ta sai chỗ nào. Nó chỉ rõ sự mong cầu được đáp lại mà ta đang cố gắng che dấu bằng đủ loại triết lý, và loại bỏ nó. Nó giúp ta thấy được sự khác biệt giữa thật sự yêu và na ná yêu. Dưới ánh mắt này, bạn trở nên vô cảm và tách biệt với chính bản thân mình, nhưng vẫn thấy là mình đang được yêu thương và bảo vệ.

Tất cả những cái nhìn này đều là sản phẩm của trí tưởng tượng, vì thật ra Linh đâu có nói gì với Nam? Nam chỉ đang nghĩ xem Linh sẽ nói gì với mình mà thôi. Nhiều người nói ta không nên đoán ý người khác, nhưng tôi cho rằng không nhất thiết phải đi ngược lại tự nhiên. Việc đoán ý nhau là cần thiết, vì con người là một loài xã hội và có trí tò mò cao. Nhờ có đoán được ý người khác mà ta mới có thể đặt mình vào trong góc nhìn của họ. Nhưng đoán ý người khác trước khi vết thương chưa được lành chỉ làm cho góc nhìn của ta bị bóp méo, và làm vết thương nặng hơn. Quá trình chữa lành chỉ bắt đầu khi ta tập trung vào những giá trị cốt lõi bên trong, và để thấy được điều đó ta cần phải nhìn ra được sự méo mó ở cả ta lẫn họ. Nếu ta cần phải giả định ở họ điều gì, thì hãy giả định là họ đang bn rn đ tr thành ngưi tt. Bởi nếu muốn một người bận rộn để ý đến ta, thì cách tốt nhất là làm cho công việc của họ nhẹ nhàng hơn. Và nếu ta có thể luôn nhìn thấy điểm tốt ở họ, thì dù họ có làm tổn thương ta đến mấy ta cũng sẽ luôn mỉm cười được với họ. Rốt cuộc, việc ta muốn gắn bó với họ là vì ta thấy được những điểm tốt đó.


Sau khi Nam thấy Linh không còn phớt lờ mình nữa, anh vẫn còn một bước nữa cần thực hiện: cắt bỏ cảm giác tội lỗi vì đã không tha thứ cho Linh. Lúc này Nam cần nhìn vào mắt cô và nói:

Cô sẽ nói gì với một người cô đã phản bội? Cô mong chờ điều gì ở một người bị cô phản bội?

Cho tới khi Linh có thể đưa ra được một câu trả lời thỏa đáng, cuối cùng anh cũng đã tìm được sự im lặng cần thiết để nhìn cô. Anh không bỏ rơi cô, anh chỉ đang nhìn cô từ rất xa. Anh không còn đau khổ nữa, mà chỉ còn thấy buồn vì cô chưa thoát khỏi đau khổ của mình. Chính sự im lặng này sẽ cắt nỗi sợ của cô và cho cô thấy giá trị thực sự của mình. Nhờ có thể nhìn cô với ánh mắt lạnh lùng đó mà anh thấy bản chất thật sự của cô. Và như vậy, dù cô lựa chọn điều gì đi chăng nữa, anh cũng sẽ không cảm thấy hối hận vì đã hơi tàn nhẫn với cô.

Sự hờ hững của Linh với nỗi đau của Nam là món quà quý nhất cô có thể tặng cho anh. Anh sẽ phải cám ơn cô vì điều đó.

Con mắt lạnh như băng (lời giới thiệu)

Chào mọi người,

Mình muốn giới thiệu với mọi người một cách thức mình hay dùng để có động lực cho bản thân. Trong bài viết này, mình thử sử dụng khái niệm “cái nhìn của bác sĩ” của Foucault, một triết gia hậu hiện đại, để cắt đứt huyễn tưởng của mình và thấy được điều cần phải làm. Nội dung của nó có thể được tóm tắt bằng câu chuyện ngắn sau:

An có cảm tình với Bình vì Bình học giỏi nhất lớp. An cũng muốn mình học giỏi, nhưng vì An cũng ham chơi, nên không bao giờ tập trung được. Một lần lúc đang lướt Facebook, An chợt nghĩ là nếu là Bình, Bình sẽ không chìm đắm trong đó mà mà chỉ lo học. An nhận ra nếu Bình đang nghĩ gì về An vào lúc này, thì đó không phải là khen ngợi An, mà là hơi thất vọng về An. Khi An đặt mình vào vị trí của Bình, đột nhiên An không còn muốn chơi nữa, mà chỉ muốn học thôi.

Về cơ bản, thật ra trong thâm tâm mình cũng tự biết làm gì là cần thiết. Chỉ là ta bị những cảm xúc như sợ hãi, phấn khích hoặc né tránh lấn át mà thôi. Nhưng với người ngoài thì họ cũng không quan tâm đến những cảm xúc này, mà chỉ thấy là mình đang không làm điều quan trọng nhất. Nếu ta có thể đứng ở góc nhìn của họ, nhận ra được suy nghĩ khách quan của họ và đồng cảm với nó, thì những cảm xúc đó sẽ tan biến.

Đúng ra thì bài này không có quá nhiều triết học Phật giáo trong đây, nhưng mình nghĩ mình cũng có thể liên hệ tới nó. Một vấn đề của Phật giáo là Phật tử dùng pháp để phá chấp, xong chấp luôn pháp. Một cách nào đó, Bình cũng là một ngón tay để chỉ trăng, là chiếc đò để qua sông. Nhưng khác với kinh sách, Bình là một con người với cuộc sống riêng, nên An sẽ không muốn nương nhờ đến Bình hoài, nên ta không sợ An chấp vào Bình. Đồng thời, Bình cũng chỉ là một hình mẫu trong đầu An, nên những gì An nghĩ Bình nghĩ thật ra là những gì An tự nhận ra, nên cũng không sợ Bình làm thay An. Nói cách khác, Bình tự động giết chính mình sau khi An qua được bờ bên kia.

Trong bài viết chính, mình sử dụng câu chuyện tình cảm giữa Nam và Linh, trong đó Linh là người phản bội Nam, để đẩy vấn đề lên cực đoan hơn. Bài viết chỉ là suy nghĩ của riêng Mình, nhưng nó được gợi ý từ các khái niệm sau:

  • Cái nhìn của bác sĩ (medical gaze – Foucault): bác sĩ là một người vô cảm với bệnh nhân nhưng lại có quyền lực tuyệt đối với thân thể anh ta
  • Buông bỏ, tách mình (detachment – Phật giáo): nếu bỏ được tham sân si thì tâm ta sẽ trong sạch và bình thản, và sẽ thấy được thực tánh
  • Tâm thức luận (theory of mind – tâm lý học nhận thức): nếu ta có thể nhận thức về niềm tin và mong muốn của người khác thì sẽ hiểu được góc nhìn của họ
  • Giá trị cốt lõi (core values – tâm lý học lâm sàng): để chữa lành những vết thương tâm lý, hãy chú tâm vào những giá trị cốt lõi thay vì bản thân nỗi đau

Thành thực mà nói kiến thức của mình rất sơ khởi. Mời mọi người đọc và cho ý kiến. Nếu có gì sai xin mọi người giúp đỡ. mình cảm ơn rất nhiều.

Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi.

Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”. Nhưng nếu ta tra vấn lại mối quan hệ ngữ nghĩa đó, thì nghĩa của “nóng” và “lạnh” sẽ thay đổi. Khi nghĩa này thay đổi, thì góc nhìn của ta cũng sẽ thay đổi theo. Tương tự với lập luận “ngựa trắng không phải là ngựa”. Khi Công Tôn Long tra vấn lại mối quan hệ giữa “ngựa” và “ngựa trắng”, lật lại cái ngầm định rằng ngựa trắng là ngựa, thì nghĩa của hai từ nay đã bị biến đổi. (Ta cũng có thể nói là nghĩa của từ “là” bị thay đổi cũng được.)

Điều này khác với trò chơi ngôn ngữ của Derrida. Ở đây vẫn là chuyện các từ có nghĩa, và góc nhìn của chủ thể được hình thành bởi nghĩa của từ (the perspective is created by word’s meaning).

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Trang Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, cơ sở của việc dạy học và trị liệu tâm lý hiện đại. Nên tôi nghĩ khi ta tra vấn những thứ ta ngầm định, nghĩa của từ bị biến đổi, và góc nhìn của bản thân cũng thay đổi theo (challenging assumption = meaning shifting = perspective changing).

Vì bản chất của ngôn ngữ là nghĩa luôn thay đổi, nếu nhận ra được điều đó thì ta có thể thoải mái dùng ngôn ngữ mà không sợ nó trói buộc mình nữa. Nói như nhà Phật thì là không còn chấp niệm nữa. Lúc đó thì những giận dữ, sợ hãi, kiêu ngạo do bị cố định vào một ý niệm không còn nữa, mà chắc chỉ ngồi nghệch mặt ra cười vì thấy một góc nhìn khác. Khi ta có thể tra vấn lại những thứ ta luôn tin là đúng, thì có khi thấy rằng nhiều khi cái mình cho là sai lại không sai nữa. Nếu sai lại hóa thành không sai, thì thật và ảo sẽ thành một. Nên tôi nghĩ khi Lão Tử nói “danh khả danh phi thường danh”, ông ấy đang nói rằng các từ luôn biến đổi nghĩa không ngừng.

Cũng vì luôn tạo ra được nét nghĩa mới của từ, mà ta sẽ luôn lách vào được những chỗ khó khăn để xử lý. Tôi nghĩ, nói ra bản chất của một thứ gì đó rất dễ, chứ không phải là bất khả đắc, bất khả tư nghị. Ví dụ, ta biết rằng vị chua của cam, quýt và chanh rất khác nhau, nhưng ta chỉ có thể diễn tả chung chung là chua, chứ không nói được gì hơn. Nhưng đó là do kiến thức ngầm rất khó để nói ra mà thôi. Nếu là một nhà nghiên cứu về tính acid của các cây họ cam, họ có thể nói ra được sự khác nhau đó mà vẫn súc tích dễ hiểu. Làm được những điều tưởng như bất khả một cách dễ dàng mới chính là tinh thần vô vi.

Để hiểu cụ thể hơn chuyện đó được xử lý thế nào, xin xem:
  1. Making concrete analogy and big picture
  2. Connections between cognitive linguistics, cognitive psychology, Buddhism and Daoism

Đạo gia với sự học

Năm mầu khiến người mù mắt.
Năm giọng khiến người điếc tai.
Năm mùi khiến người tê lưỡi.
Sải ngựa săn bắn,
Khiến lòng người hoá cuồng.

Đạo gia thường không đề cao kiến thức, vì cho rằng nó làm ta mù mắt, mù tai. Thật ra tôi nghĩ nó lại rất đề cao hiểu biết, chỉ là do vào ngày xưa thì không biết phải diễn tả nó ra sao mà thôi. Cái mù mắt, mù tai đơn giản là hiện tượng mồi (priming). Bạn có thể xem một thí nghiệm về nó ở đây.

Tuy vậy, vẫn có một điều gì đó bí ẩn mà ngay đến cả các học giả nghiên cứu Đạo gia cũng cảm thấy là họ sẽ không bao giờ làm vừa lòng được Trang Tử. Điều này được thể hiện rõ qua bài viết của Alan Jay Levinovitz, Trang Tử: Ngôi nhà cười của tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul):

Mỗi khi nói về Trang Tử, tôi đều cảm thấy không thoải mái, hệt như việc tôi thấy việc đoán ý của bạn mình rồi thay họ nói luôn không được hay cho lắm. Và không phải chỉ có mình tôi là thấy vậy. […] Thầy Trang […] có vẻ đã thiết kế công trình của mình sao cho mọi nỗ lực diễn giải nó đều bị kháng lại. […] Nhà Hán học và dịch giả Burton Watson đã tóm được cái cảm giác này như sau: “Mỗi khi tôi ngồi xuống và cố viết một cái gì đó thật nghiêm túc về Trang Tử, tôi thấy, ở đâu đó phía sau trong đầu mình, Trang Tử đang cười khùng khục với những nỗ lực khiên cưỡng và vô dụng như thế”

Thử hỏi, một người xem Trang Tử là bạn, mà nói cái gì cũng bị cười, thì còn làm gì được nữa?

Trước khi đi tiếp, ta hãy nhắc lại xem Đạo là gì. Theo như tác giả Edward Slingerland trong cuốn Vô vi như là mt n d khái nim và lý tưng tinh thn thi Chiến Quc (Effortless Action: Wu-wei as Conceptual Metaphor and Spiritual Ideal in Early China), thì với những nhà tư tưởng Trung Quôc thời đó:

Sự tích lũy kiến thức không được hiểu theo kiểu nắm bắt quy luật trừu tượng, mà bằng khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng (hòa hợp được với Đạo).

The culmination of knowledge is understood not in terms of a grasp of abstract principles but rather as an ability to move through the world and human society in a manner that is completely spontaneous and yet still fully in harmony with the normative order of the natural and human worlds—the Dao or “Way.”

Thế nào là “đi lại giữa thế giới”? Lấy ví dụ, bạn thấy nhà cháy to, và bạn cứ xông vào mà cứu người. Điều đó rất nguy hiểm, vì bạn không có đồ bảo hộ, cũng không được huấn luyện như lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nhờ trước đó bạn đã biết sơ về nguyên lý cứu người khi xảy ra hỏa hoạn (bò dưới sàn vì khi khói bay ở trên sẽ chừa không khí giàu oxy ở dưới, dùng khăn tẩm nước bịt mũi), mà đt nhiên ni s ca bn biến mt. Từ việc lửa, khói là một thứ nguy hiểm, chúng giờ chỉ là một trở ngại nhỏ đến mục tiêu của bạn, thậm chí là nơi bạn cảm thấy thân thuộc và an toàn, và bạn “move through the world”.

Tuy nhiên, để có thể đạt được sự tự phát mà vẫn hòa hợp được với mọi thứ đó, không thể không học hành nghiêm chỉnh. Đây đơn giản là cách bộ não hoạt động. Mà cách bộ não hoạt động cũng chính là một quy luật khách quan. Nếu ta đòi phải bỏ qua bước này, thì cái cảm giác hòa hợp với tự nhiên đó chỉ là cảm giác khoái chí vì mình hiểu được thứ mà người khác không hiểu. Nó sẽ bồi đắp cho sự tự tôn của mình, và điều này rất nguy hiểm, vì nó là thứ Đạo giáo cố gắng loại bỏ.

Nói gì thì nói, đã gọi là giả định ngầm thì không phải cứ muốn lật lại là sẽ lật được. Phải suy tư, phải học hành thì mới làm được. Và người học cũng không cảm thấy gò bó gì ở đó mà chỉ thấy vui khi mình có khả năng đi lại giữa thế giới một cách tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của nó. Nghĩa là họ đang vô vi.

Nên quay lại chuyện Trang Tử cười khùng khục, nếu Trang Tử cười những lúc người khác đang tập trung nghiêm túc, thì đơn gin là Trang T sai. Cố gắng làm vừa lòng Trang Tử chỉ càng làm cho Trang Tử thấy mình vẫn còn đang mắc kẹt. Cách tốt nhất là pht lờ và tiếp tc vic đang làm. Hoặc thậm chí là cưi ngưc li Trang T. Chỉ có như vậy mới làm Trang Tử cảm thấy hài lòng. Đó là câu trả lời mà Trang Tử mong ta nhận ra.