Bạn Nguyễn Trần Anh gửi: Chuyện Tiểu Cúc | Một lời đáp

Vài dòng phản hồi, cho lời bình thơ trong bài Chuyện Tiểu Cúc

Chắc tại cơ duyên sảo hợp, mà mình được biết đến bài thơ này, cùng những lời bình trân trọng dành cho thơ và tác giả. Mà, bởi tác giả (bài viết) đã dành nhiều tâm, nhiều tình cho lời bình luận về bài thơ, mình đọc rồi, bỗng cảm thấy phải viết một điều gì, để hồi đáp cái tâm tình ấy. 

Thơ viết:

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say – nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

***

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ – hóa mộng giữa sương ngời…
….
Tiểu Cúc à…
…Tiểu Cúc của ai ơi?

Bình viết, 

Bài thơ là một bức chân dung, phác thảo Tiểu Cúc như là một cuộc đời đầy đong những kỷ niệm và cảm nghiệm – với sắc lá vàng, gió heo may, tiếng dế ca, cơn mưa mùa, và lão lang thang. Và Tiểu Cúc, trong ánh mắt của một kẻ si mê, đang lạc lối giữa trập trùng cảm xúc ấy. Kẻ si mê, hay tác giả kia, thì mải miết gọi với, mải miết đeo đuổi, còn Tiểu Cúc, thì cứ lạnh lùng mà làm ngơ. “Ai mặc kệ được sự mặc kệ của Tiểu Cúc, thì mới là người Tiểu Cúc cần tìm”, chính là ý vậy. Song, dẫu được theo đuổi đầy nhiệt thành, Tiểu Cúc lại chẳng chọn để mình sà vào lòng tác giả. Ngược lại, quyết định hoá thành hư ảo, đắm vào mỹ mộng, rồi tan đi. 

Mình, đọc bình văn lần thứ nhất, chỉ thấy đồng tình: bởi ai chê bài thơ này rời rạc, thì thật là chẳng biết thưởng thơ. Đọc đến lần thứ hai, thấy hết đồng tình, bởi cách nhìn của mình về bài thơ thật ra hơi khác. Mà đọc tới lần thứ ba, tư, năm… thì chỉ thấy còn lại trên con chữ, những lời tự bạch của người viết bình văn. 

Lần đầu chạm tới bài thơ, mình liền cảm thấy lâng lâng. Có lẽ một phần là vì thơ thật nhịp nhàng đầy giai điệu. Nghe mỗi lời thơ như một lần đưa võng, đu đưa lòng người đọc vào một chốn tư yên. Lại nói, bài thơ đọc lên liền nghe như mùa Thu đã về rất cận, như thể Thu hiện diện quanh khắp, trong mọi giác quan và trong mọi cảm nhận. Thơ như thế, ắt không thể không hay. 

Lại nói, thực ra, Tiểu Cúc đối với mình không phải là một bức chân dung, mà là một ước vọng. Từ lúc xuất hiện, Tiểu Cúc đem về cả một không gian dậy cả mùa, như nói rằng bên em, người ta chạm mặt với vô vàn ký ức sinh động của mùa Thu – mà không gặp em, không phải cùng em, thì khó lòng nào người ta cảm thấy được. Tiểu Cúc đem đến sự cảm nghiệm, và cảm nghiệm làm ta khao khát – khao khát chính cảm nghiệm, và khao khát em. 

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say – nói nhảm

Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Tha thiết yêu Tiểu Cúc, mong muốn có Tiểu Cúc, nên mới sinh ra cái câu hỏi khao khát “Tiểu Cúc của ta đâu?”. Mà, khao khát ấy, còn như kèm cả xót thương, bởi Tiểu Cúc chỉ cần một người – người trăm năm ấy – thôi. Nhưng “người trăm năm” dường như chẳng biết tìm kiếm em. Cho nên, dẫu được khao khát, Tình em lại vẫn chưa trọn.

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Có cảm giác, bài thơ như là tuyệt vọng ở sau hai dấu chấm lửng. Dấu đầu tiên, là cái nhận thức bàng hoàng rằng dẫu Ta khao khát em, Ta vẫn không phải là người em cần; còn dấu thứ hai, là xót xa rằng dẫu Ta chờ đợi em, lời ngỏ mời của Ta chỉ là tiếng mời bị buông lơ, tuyệt vọng. Tiểu Cúc chẳng cần Ta, dẫu rằng em cần một sự hiện diện nào đó.

Chính bởi thế, mà Tiểu Cúc là một ước vọng xa vời. Bởi em chọn tan đi, tan thành mộng, mau mất đi như lời nói dối, trong sự chờ đợi một “người trăm năm biết đi tìm”. Và em mãi chẳng thuộc về, Ta.

Cũng là bởi cách nhìn vào bài thơ, và cảm nhận bài thơ thật khác nhau, mà mình cảm thấy – rất mạnh mẽ, từ bình văn, con người của tác giả. Cách nhìn của tác giả đến bài thơ, và đến Tiểu Cúc, thật cá nhân, chân thật, và đầy tính con người. (Khác với cách nhìn của mình, chắc hơi nhiều… drama!?) Một người nghĩ nhiều, và đôi khi cô độc; một người có nhiều suy tư về giá trị của bản thân, cũng như giá trị của mỗi cá nhân; đồng thời, cũng là một người kiên quyết với lựa chọn của chính mình, và cũng có một tấm lòng biết yêu thương mãnh liệt. 

Và bài viết, dẫu chỉ bình một đôi câu thơ, lại cũng gợi lên những câu hỏi làm người ta phải ngẫm. Giả như, liệu, có nên mải miết sống trọng theo cái lý tưởng của mình, đến tan thành giấc mộng? Và liệu người yêu thương, dẫu không thuộc về mình (nữa), có hạnh phúc không. 

Tựu trung lại, đọc được bài bình văn này, mình như đi lạc vào một nơi xa lạ. Lạc giữa những câu thơ rất thơ, và giữa những lời văn đanh thép đầy cá tính. Và, cũng không biết tác giả bài bình văn lỡ đọc được lời phản hồi này sẽ nghĩ gì. Chỉ mong rằng tác giả hiểu, mình chẳng dám ngông cuồng khen chê, mà đang chân thành góp thêm một lời nhiều chuyện.

Mà, lại thêm một lời nhiều chuyện nữa: Tiểu Cúc và Ta, nếu đã lựa chọn, đừng hối tiếc.

07.05.2019

(Bài gốc: Chuyện Tiểu Cúc|Một lời đáp – Nhà của Gió)

Bạn Đoàn Phương Thảo gửi: Chuyện Tiểu Cúc

Thỉnh theo lời đề nghị hết sức chân thành, tôi quyết định góp một lời bình về “Chuyện Tiểu Cúc” cho những người yêu thơ dù không mấy sẵn sàng. Lý do thì đã rõ, thứ nhất là tôi còn mơ hồ về bài thơ ấy, thứ hai là tôi không phải dân chuyên. Mà dù không phải người trong ngành, tôi cũng hiểu được một bài thơ hay luôn có vẻ đẹp, ẩn chứa thông điệp nào đó. Nhiệm vụ của người bình thơ là phải làm rõ nó ra, đẩy cái ý hay, cái đẹp ấy lên cho mọi người cùng thưởng thức, thậm chí lôi ra cái vẻ riêng mà không phải độc giả nào cũng thấy được, dù cho cái đẹp là một khái niệm trừu tượng và luôn biết cách làm bất lực ngôn từ. Giống như dù Đạo không thể diễn giải ra nhưng ta vẫn cần dùng lời để nói về Đạo là vậy. Suy đi tính lại, đứa hay đọc chùa như tôi nghĩ mình nên có chút trách nhiệm với bài thơ và với tác giả.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi thân thương, tiếng gọi một cô gái trong hình hài bông cúc nhỏ bé:

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.

“Lá đổ vàng” và “gió heo may” là tiếng nói riêng của mùa thu, là cách thức mùa thu giao tiếp với con người và giao thoa với cảm xúc. Nó đứng riêng, tách mình với tất cả các thời điểm khác trong năm và mang cái hồn riêng biệt động lòng tác giả. Ta đã quen với nỗi niềm vu vơ, lành lạnh, man mác của “heo may” xuất hiện xuyên suốt trong tập “Dấu vết thiên di”. Thu đến với lá vàng và gió se lạnh, hiển nhiên như nó vẫn là, từ năm này qua năm khác. Chính vì nhận ra những dấu hiệu của mùa thu ấy không hề tình cờ, thật bình thường và hiển nhiên quá, nên bỗng dưng tác giả thấy “rất lạ” vì lâu nay không để ý đến cách mà mọi sự vận động rất đỗi tự nhiên.

Hoa cúc từ lâu đã trở thành một biểu tượng cho mùa thu, điều này chẳng ai bàn cãi. Nhưng tiếng gọi Tiểu Cúc ngay từ câu thơ đầu tiên khiến ta dấy lên mối nghi ngờ. Là hình ảnh Tiểu Cúc đã gợi lên cả một mùa thu sống động như thật hay thu về nhắc nhớ đến bóng dáng thân thuộc của Tiểu Cúc? Tôi đồ rằng câu trả lời nằm gọn trong trong ý thứ nhất, vì chúng ta hãy cùng nhìn xem hình ảnh Tiểu Cúc nối liền, “dây mơ rễ má” và rung động mạnh mẽ đến thế giới tâm tưởng như thế nào:

Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tất cả những hình ảnh gợi ra trong đoạn này là từng phần nhỏ của cả một bức tranh thu rộng lớn chứ không hề rời rạc. Có điều bức tranh này khiến ta có cảm giác cô đơn, trật nhịp trong cái bao la rộng ngợp, mênh mang xa mãi. Nào là “heo may”, “trầm tư”, “buồn” rồi đến “bơ vơ”, “bão”, “lang thang”, “lạc nhịp” với mức độ tăng tiến. Tôi đã mường tượng ra một cánh đồng rộng lớn trải dài ngút mắt bên cạnh con sông trước khi bão về. Bầu trời xám lại mù mịt trong gió. Những gợn sóng xô nhau vỗ nước văng ra thành từng giọt như bay về trời để làm mưa. Hình ảnh dòng sông cũng là một hình ảnh quen thuộc trong thơ Nguyễn Băng Ngọc, vừa là dòng sông của hiện tại, dòng sông Hồng chảy nặng phù sa nơi tác giả được nuôi dưỡng và trưởng thành “Cây cơm nguội vàng trút lá đầu đông/Và những buổi chiều nắng tắt trên sông”, vừa là dòng sông hồi ức “Một khúc sông trôi chở miên man những suy tư thời thiếu nữ”, “Người hoạ sĩ bước ra từ giấc mơ/Đi qua sông, đi lạc miền hoài niệm”, vừa là dòng tâm tưởng “Gửi cho anh dìu dịu màu lá mới/Màu dòng sông bình yên – như màu trái tim biết đợi”. Có những khi dòng sông bám lấy cô gái như một đứa trẻ đáng yêu “Có dòng sông màu hồng chảy miết/ Quanh cổ chân bé nhỏ đung đưa”. Có những khi dòng sông như dòng nước mắt chảy cuốn xuôi nỗi buồn “Và chuyện dòng sông màu đỏ…/…bốn mùa say…/Chảy quanh co hờn tủi con phố ngắn/Dường như Mặt Trời khóc ai bên chiều lặng/Nước mắt rơi, loang lổ trải sông dài…”. Dòng sông biến hóa khôn lường là thế, trở về trong “Chuyện Tiểu Cúc” không còn dáng vẻ hiền hòa, không một giọt nắng đậu lấp lánh áng sông trôi. Dòng sông đang trở mình, run lên như thế giới nội tâm đầy xáo động. Ẩn hiện trong bức tranh thiên nhiên tâm tưởng ấy lẻ loi hình ảnh một “lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu”. Con người đó chẳng có tên riêng dù đã bước vào cuộc hành trình từ lâu. Ôi cái sự tự do, lãng du nhưng đơn độc và nhỏ bé. Đó là cảm giác mà Tiểu Cúc mang đến cho tác giả, thứ cảm giác định hình luôn khung cảnh xung quanh. Giống như nỗi buồn hay gắn liền với khung cảnh tối, lạnh. Nghĩ về Tiểu Cúc, tác giả liền tưởng tượng ra cả một thế giới ôm trọn lấy cô. Tiểu Cúc tự tại và không lo nghĩ đến cái nhìn từ bên ngoài. Thế nhưng có đôi khi cô cũng quay đầu lại, để thấy rằng cuộc đời vẫn trôi như thế dù cô có chú ý đến hay không, đời vẫn thật thà “hồn nhiên tấu nhạc” dẫu trong lòng cô là giông bão. Chợt nhận ra điều ấy, nỗi buồn lo bỗng chốc trở nên vô lý và tan đi.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say - nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Có người cho rằng câu hỏi “Tiểu Cúc của ta đâu” là ám chỉ Tiểu Cúc đang lạc lối trong dòng suy tư ngổn ngang của chính mình. Tôi không nghĩ thế vì đơn giản Tiểu Cúc không hề đi lạc, cô ấy biết cách đi đến nơi mình muốn đến. Câu hỏi ngỏ là cách gọi với một cô gái đang không ở gần bên “anh”, ý tứ rằng “em ơi hãy lại đây nghe anh nói”. Em đừng để bị cám dỗ bởi vẻ đẹp nơi ấy vì đối với anh, nó xa xôi và có vẻ vô thực, vô dụng: “mùa thu say nói nhảm”, “vầng trăng khóc trên trời”. Nhưng Tiểu Cúc có lý lẽ của riêng mình, cô để cho cảm xúc “lên ngôi” và lấn át giọng nói anh. Thế giới của cô có gì anh nào đâu biết, “đàn chim sẻ”, “đồi mộng mị”, ngay đến ngọn cỏ, lá cây cũng là một phần trong đó. Thế giới không có thực nhưng mang đến sức sống thực, là nơi cư ngụ, là nơi cô tạm trốn đi những toan tính đời thường, thả lỏng và bình yên. “Tôi-đã nhiều khi-thấy bóng mình nằm yên trên một ngọn đồi, dưới một bóng cây tán rộng. Một ngọn đồi xanh xao mềm mại, rưng rưng tiếng chim qua các ngọn cây. Còn tôi, tôi nằm đó xuôi tay thanh thản.”, “Ngọn đồi nhỏ đó, như niềm an ủi nỗi lòng, gợi nhắc tôi nghỉ ngơi và an thái. Muôn nẻo đường tôi đi có một chốn dừng chân. Nơi mà chỉ cần nằm xuống và nhắm mắt lại, ngọn đồi ấy sẽ ôm trùm tôi rồi biến vào tận cùng hư ảo.”. Vậy nhưng với cái nhìn vật lý từ bên ngoài, anh tưởng cô như người say, bị vẻ đẹp ảo mộng kia mê hoặc và cứ chìm vào đó mãi. Anh liệu có biết đi tìm em không? Vì hình như anh yêu em mất rồi. Anh chẳng biết những điều anh cho là phù du hoá ra lại rất có ý nghĩa với em. Anh chẳng thể hiểu được, chẳng thể nắm bắt được em. Anh không thấy những gì em nhìn thấy. Mà thật ra chính Tiểu Cúc cũng đang trông mong một người có thể tìm đến khoảng không bí mật của mình. Cô chờ đợi “người trăm năm” trong thinh lặng, chỉ viết vội một “chữ Tình” dẫn lối, buộc người yêu thương cô tự kiếm tìm.

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Tiếng gọi Tiểu Cúc da diết, đong đầy lo lắng và yêu thương. Tác giả muốn Tiểu Cúc sống là chính mình, chẳng tình yêu nào lớn lao hơn thế nữa. Ngay cả khi em tồn tại nơi “mùa hạ” bản thân không thuộc về, em hãy cứ “rong chơi” vô ưu vô tư. Khi đêm thu đến, hãy trở về với khoảng lặng của riêng em, để nghỉ ngơi và thanh thản, để hồi sinh nguồn năng lượng.

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ - hóa mộng giữa sương ngời…
....
Tiểu Cúc à...
...Tiểu Cúc của ai ơi?

Tôi đã ngồi ngẫm nghĩ câu này mãi: “Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối”. “Lời nói dối” ở đây là gì? Liệu có phải vì em vừa muốn anh đến, vừa không chào đón, nửa kín nửa hở mời gọi rồi cuối cùng lại lựa chọn “hoá mộng” nên tưởng như em đang lừa dối anh? Hay là em đang lừa dối chính bản thân mình khi muốn vùi mãi trong mộng tưởng? Chữ “mỏng” ở đây đã làm rất tốt công việc của nó khi ranh giới giữa hư và thực, giữa thật thà và lừa dối rất mong manh. Và dù mâu thuẫn là thế hoặc chính vì mâu thuẫn là thế, Tiểu Cúc lựa chọn miền hư ảo đầy ánh sáng “hoá mộng giữa sương ngời”. Khoảnh khắc ấy cô trở nên nhẹ bẫng, chẳng còn lưu luyến điều gì rồi tan đi trong rực sáng thuần khiết. Ta tưởng như có đức Phật, có một ông chúa vừa xuất hiện, Tiểu Cúc thoát ra khỏi vòng luân hồi, tan biến mãi vào hư không, chẳng còn buồn đau hay hạnh phúc, để người ở lại chỉ biết ngước mắt trông theo “Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ai ơi”. Những dấu chấm lửng lơ là những tiếc nuối cuối cùng, những nghẹn ngào, những nhớ mong chưa thành hình dội đến, vang vọng trong không gian. Tiểu Cúc cuối cùng chẳng thuộc về ai, ngay cả bản thân cô ấy.

Có đôi điều thế này. Người thầy mà tôi vô cùng ngưỡng mộ – thầy Chu Văn Sơn đã từng nhận định: “Mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc văn, căn cứ tin cậy nhất, trước sau, vẫn là văn bản tác phẩm. Đó là một nguyên tắc. Và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng hiểu và hiểu thấu đáo là hai cấp độ. Không am tường tác giả thì khó mà thấu đáo tác phẩm.” Hiểu được vậy, mong tác giả hãy thứ lỗi khi có một người vô duyên tự dưng đến xâm phạm vào suy tư cá nhân, để rồi đi vòng quanh, cầm lên đặt xuống mà phân tích, mà bóc tách và lột trần thế giới cảm xúc riêng của Tiểu Cúc, rồi thì ba hoa chích chòe, nói lời mông muội.

Và để đáp lại tâm tình người ở lại ngày ấy, gửi tặng anh bài hát này, như một đoạn kết buồn, hoặc như một “dấu vết thiên di”: Đông kiếm em-Thái Vũ.

Tiểu Cúc sẽ đối xử thế nào với người trăm năm?

Nhân có nhiều bạn gửi phản hồi rất thích bài Chuyện Tiểu Cúc, mình sẽ phát triển thêm một số vấn đề đằng sau hai ý này:

Tiểu Cúc

Nếu Tiểu Cúc có cảm xúc với một ai đó, cô sẽ:

  • Đùa cợt với tình cảm của anh
  • Gạt phắt tất cả những gì trái ý mình
  • Xem dối trá là một sự hiển nhiên
  • Luôn khẳng định chỉ có cảm xúc là chân thực nhất
  • Vẽ ra trong đầu hình ảnh xấu xí về anh, luôn khẳng định với mọi người là cô không hề dính líu đến anh, và anh rất phiền
  • Bắt anh phải chứng kiến sự phản bội của mình
  • Nâng tầm các quan điểm của mình thành triết lý
  • Đủ khả năng để khiến những quan điểm đó nghe rất xuôi tai
  • Thà chết chứ không bao giờ nói là anh đúng, dù trong thâm tâm thừa biết anh nói trúng tim cô
  • Thà chết chứ không bao giờ nói là yêu anh, dù trong thâm tâm thừa biết không yêu anh thì cô không thể nào yêu được ai khác
  • Chỉ dừng lại những điều này khi người trăm năm đã thuyết phục được mình

Có làm được hết những điều đó, thì mới là đi trọn vẹn cái tinh thần “chữ Tình ai viết vội” và “mỏng như lời nói dối”. Ai không dám lựa chọn những điều này, người đó không phải là Tiểu Cúc.

Bài chi tiết: Khi đạo sĩ gặp rối loạn tâm lý →

Người trăm năm

Để xứng đáng trở thành người trăm năm của Tiểu Cúc, anh phải:

  • Chấp nhận bị nói là làm phiền, mặc dù đó thật ra là âm thầm đi bên cạnh
  • Chấp nhận bị cô vu khống, dù đó thật ra là bao dung
  • Chấp nhận bị xem là dại gái, mặc dù thật ra anh biết chỉ tốn vài năm để hoàn thành dự án chinh phục cô
  • Không thỏa hiệp với trò chơi mèo vờn chuột của cô, và chấp nhận bị hiểu lầm là có cái tôi cao
  • Không thỏa hiệp với những thứ ngắn hạn, hời hợt, nửa vời
  • Cảm thấy những phản bội của cô là hiển nhiên, không khó để đoán trước, và cũng không liên quan tới mình
  • Không cảm thấy áy náy khi làm phiền cô, vì đó là điều cô yêu cầu anh làm
  • Có một nền tảng kiến thức rộng lớn để luôn có thể đảo ngược tình thế khi cô bày trò
  • Đủ bản lĩnh để khẳng định rằng chẳng có gì có thể khiến anh chùn bước

Có làm được hết những điều đó, thì mới là đi trọn vẹn cái tinh thần “phớt lờ sự phớt lờ của Tiểu Cúc”. Ai không dám lựa chọn những điều này, người đó không phải là người trăm năm của Tiểu Cúc.

Bài chi tiết: Rắc rối của từ bi →

Những người xung quanh

Nếu những người xung quanh thực sự mong mỏi Tiểu Cúc được tốt lên, yêu quý và muốn giúp hai người, họ cần:

  • Hiểu rằng dù tận mắt nhìn thấy sự thật cô cũng sẽ tìm ra được lý do để gạt đi
  • Hiểu rằng thoạt nhìn anh trông rất mâu thuẫn, và cô thì rất đáng tin. Nhưng chỉ cần tìm hiểu thêm một chút sẽ thấy điều anh làm là rất đáng tin còn cô thì rất mâu thuẫn
  • Hiểu rằng những khó chịu cô cảm thấy ở anh đều là do mối quan hệ này nó đặc thù như vậy. Chứ nếu làm được khác thì anh đã làm khác rồi
  • Hiểu rằng do chính những lựa chọn của mỗi người mà họ mới có thể trở thành một nửa của nhau
  • Hiểu rằng sự cao ngạo mà hai bên dành cho nhau thực chất là đặt mình vào vị trí của người kia
  • Giữ thái độ hoài nghi với những gì cô nói. Không ngại tìm hiểu sự thật đằng sau những lời cô kể. Không ngại gặng hỏi khi cô tỏ ra khó chịu. Không chấp nhận thỏa hiệp khi cô không đưa ra được lý do hợp lý. Đặt câu hỏi Socrat
  • Làm hình mẫu tốt để cô noi theo
  • Thấy rằng tham gia câu chuyện này là cơ hội để học hỏi được rất nhiều điều
  • Hiểu rằng bản chất của cái tôi là sự chú ý. Xem: What is the self if not that which pays attention? | Aeon Essays

Bài chi tiết: Con mắt lạnh như băng →

Trăm năm khép lại

Em xòe bàn tay như năm cánh hoa nhỏ
Con bướm vàng vẫy cánh khẽ bay xa…
Gió cứ kể hoài một câu truyện đã qua
Thuở trăm năm có khi nào trở lại…
Sóng giận điều gì mà cứ xô bờ mãi?
Cung đàn xưa đã đứt phím tơ hồng.
Con nhện giăng tơ…
…con xít lội sông…
Còn đâu nữa má hồng thời con gái?
Nước mắt chảy xuôi, xin đừng đọng lại…
Ngậm ngùi chi trên môi nhạt màu son?
Điều mặn chát muôn năm nữa vẫn còn
Xin trăm năm thêm một lần nhung lụa…

Em xòe bàn tay đợi mãi trong mưa
Trời mùa này hay nắng mưa bất chợt
Nỗi niềm bể dâu nào có ai biết trước
Thoáng chớp mi, con sáo đã sổ lồng…

Bươm bướm vàng theo gió lạc ra sông
Bay chấp chới…
rồi vỡ òa theo sóng…

Người con gái úp mặt khóc mây trôi
Con nhện giăng tơ…
…con sáo sổ lồng…
Mùa khép trọn giấc mộng thuở trăm năm…

Nhân một đêm trăng sáng vô ngần

Lập đông, cô gái ta không biết ngồi se từng sợi gió mỏng. Từng sợi mỏng như tơ, vấn vít quanh co như thể ngụy biện cho lòng người rất đỗi mơ hồ. Cây khô hàng hàng lá đổ, làm rối tung mạch bi hoan trần thế. Chẳng còn biết đâu là nỗi niềm giản phác chân phương, chẳng còn biết đâu là khối tâm tình chân thật. Cô gái – người mà ta không biết- giữa đêm đông ngồi se từng sợi tơ mộng hồ ảo, phiêu bồng. Trùng trùng ngộ tưởng ấy dẫn về bao nhiêu cuồng hận cõi thế. Ta muốn dìu em về trên cõi nhân gian, cúi đầu xin em buông dòng lệ. Để cuộc trầm luân dìu dặt trong khúc hát dạ sầu. Đêm mỏng như tờ, cả thiên hà bày cuộc thiêng liêng trong tịnh lặng. Những mùa tới tới lui lui, cát bụi nhạt nhòa, hết thảy đều tụ ngộ về đây, làm chứng cho một đêm trăng sáng vô ngần.

Thênh thang trong cõi cùng tận, chùng chình giữa buổi hoang mang, em ngồi đối diện nhân gian, đung đưa nhịp phách luân hồi. Trăng một vầng tỏ biệt thinh không, an nhiên như thể giọt lệ sáng chảy từ trong mắt ngọc. Buồn vui kết nụ từ tâm. Ta cúi xin em thư thả khóc cười, để giữa trận bày dâu bể vẫn còn đọng lại một ánh trăng hoang, một vầng giản dị.

Giữa cuộc hoan trầm, đăng quang lệ nguyệt. Em ném vầng trăng xuống sông, mà không ngờ một dòng thong thả sáng trắng nhòa hiện. Như ta gieo một chữ tình vào nhân gian rồi chợt hay, chính nhân gian chìm nổi trong ánh tình hư ảo.

Đêm nay, nhân một đêm trăng sáng vô ngần, ta xin dìu em về giữa cuộc thăng trầm hồ ảo. Để được thấy em dẫu khi tròn khi khuyết vẫn giữ được trong lòng một vầng sáng vô ưu, giản phác- đến không lời.

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Phản biện cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm

Lời mở đầu

Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.

Đã có vô số bài viết bày tỏ niềm yêu mến với cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm của ông Masanobu Fukuoka, mà bài viết Cuộc cách mạng một cọng rơm: cuốn sách lạ và quý của tác giả Nguyên Ngọc, đăng trên báo Người Đô Thị, là một đại diện cho những niềm yêu mến đó. Nhưng chỉ cần lướt qua vài review trên Goodreads, bạn sẽ thấy số ý kiến gay gắt phản đối sự cực đoan của ông ấy cũng không hề nhỏ. Và kỳ lạ hơn nữa, dường như hai bên đều không phủ nhận nhau. Bên phản đối thì không phủ nhận cái hay của nó, còn bên ủng hộ thì cũng không thấy nói là bên kia sai. Những người đứng giữa thì vừa khen vừa chê, chứ cũng không lý giải được tại sao một quan điểm hay như vậy lại thành ra cực đoan, kiêu ngạo.

Cũng như nhiều người trong số họ, tôi cũng bối rối. Một mặt tôi cũng muốn nếu có dịp cũng tự tạo một khu vườn như ông ấy. Mặt khác tôi thấy ông ấy như dựng bù nhìn rơm vào khoa học vậy. Tôi đọc cuốn này lúc nó mới xuất bản ở Việt Nam, và lúc đó tự nhủ là sau này sẽ nhất định làm một bài phản biện cho bằng được. Tôi nghĩ, những lời tán dương ông ấy cũng nghe nhiều rồi, những lời chỉ trích chắc còn nghe nhiều hơn. Nhưng cả hai đều không thể bằng được một lần thấy rằng mình đang nhầm lẫn một cách thỏa đáng. Cái mong muốn dài ba mươi, bốn mươi năm đó nên được đáp ứng một lần. Nên hôm nay tôi sẽ thử góp một chút lời cho chuyện đó.

Với những ai làm nông nghiệp tự nhiên, có thể những điều ở đây chỉ là tranh cãi chữ nghĩa, và đọc bài viết này cũng không giúp mấy cho việc phụng sự tự nhiên. Nhưng vấn đề là, chính chữ nghĩa tạo nên thái độ của con người, và nói gì thì nói, muốn phụng sự được tự nhiên thì phải có thái độ đúng đắn. Nếu xem nhẹ chuyện này, thì không sớm thì muộn, sự hiểu lầm, biến tướng và định kiến sẽ xảy ra.

Một vấn đề tương tự tôi có chỉ ra trong bài Khi đạo sĩ gặp rối loạn tâm lý: việc từ chối phân tích thay vì xóa bỏ nỗi sợ như ý định của những người xây dựng Đạo giáo, thật ra sẽ làm dung dưỡng nó, và làm cho mối quan hệ trở nên nặng nề hơn.

Bài viết chia làm 3 phần:

  1. Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa
  2. Thứ ông ấy làm lại chính là khoa học đúng nghĩa
  3. Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Lưu ý: tác giả bài viết này chưa đọc về triết học trong khoa học, hay khoa học học. Lương tâm của tác giả bị cắn rứt khi nói những điều mình có thể chưa hiểu rõ. Nhưng có lẽ đây là lúc nên mạnh dạn dẹp sự xấu hổ đó qua một bên để làm điều cần thiết. Cứ tạm viết ra đã, rồi sau đó nhờ người có hiểu biết chỉnh sửa sau cũng không muộn.

Vị trí trong sách của những câu trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.

Ban đầu tôi đứng về phía phản đối để viết bài này, và nó chỉ có 3 phần trên. Sau khi đăng lên, tôi đã có dịp trò chuyện với người dịch cuốn sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều, và tôi phát triển chúng thành các phần sau:

  1. Lý do tại sao mọi người cảm thấy ông ấy thật cao ngạo
  2. Cái sai nghiêm trọng của các nhà khoa học mà ông ấy muốn cảnh tỉnh (nói theo cách các nhà khoa học đều thấy thỏa mãn)
  3. Cách để quay lại Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Bạn có thể đọc thẳng phần đó nếu thích, hoặc bấm Bắt đầu để đọc từ đầu đến cuối. Tôi hy vọng bài viết này sẽ làm cả hai bên cảm thấy thỏa mãn.

Phần 1: Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa

Ông Fukuoka nói:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến chỗ xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho. Người ta làm thế hết lần này đến lần khác. Giống như một gã ngốc dẫm đạp lên mái nhà mình làm vỡ hết ngói. Rồi khi trời bắt đầu mưa và trần nhà bắt đầu rữa ra, hắn mới vội vàng trèo lên chắp vá những chỗ hư hỏng, cuối cùng thì nhảy cẫng lên vui mừng vì mình đã hoàn thành một giải pháp phi thường.

Với nhà khoa học thì cũng tương tự như vậy. Ông ta mải mê đọc sách đêm ngày, căng hết cả mắt ra tới mức trở nên cận thị, mà nếu ta có hỏi ông ta làm cái gì trong suốt thời gian đó – thì đấy là để trở thành nhà phát minh ra kính cận. (19)

Có một câu nói thế này của Cao Huy Thuần: “Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề”. Vậy tại sao đến lúc mùa xuân tới rồi, thì lại quay sang nói con én là xa rời tự nhiên, là cưỡng cầu, là mắc dính? Việc làm ra kính cận là điều cần thiết, tại sao lại phải chê?

Cái ông ấy chê không phải là việc làm ra kính cận, mà là cái này:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa

Nhưng có thật là vậy không? Tất nhiên không nên chỉ hiểu là ông ấy chê những người làm ăn gian dối, vì lợi nhuận, mà là đang chê sự vô tình phân biệt nhị nguyên trong tâm trí. Nhưng có thật là họ đang phân biệt nhị nguyên không? Và sự phân biệt đó có thật là đi ngược tự nhiên không?

Khoa học trong mắt ông ấy là thế này:

Đấy là bởi vì vai trò của khoa học gia trong xã hội cũng tương tự như vai trò của trí phân biệt trong tâm trí của chính chúng ta. (95)

Đó có vẻ không phải là hiểu biết chính xác về khoa học.

Khoa học, theo đúng nghĩa của nó, là phải có sự kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu như “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Với những câu không thể kiểm sai được như vậy, khoa học không quan tâm.

Xuyên suốt quyển sách, tôi không thấy một lời nào nói về tính kiểm sai đó cả. “Khoa học”, trong mắt ông ấy, chỉ là sự vô tình tách biệt khỏi tự nhiên, vô tình phá hoại nó bằng sự nhiệt tình. Ông ấy khẳng định thế này:

Hơn nữa, các nhà khoa học, bất kể họ nghiên cứu thiên nhiên bao nhiêu và bao xa, cuối cùng cũng chỉ đi đến nhận ra thiên nhiên hoàn hảo và bí ẩn tới mức nào. Tin rằng nhờ vào việc nghiên cứu và bằng phát kiến, nhân loại có thể tạo ra một cái gì đó tốt hơn cả tự nhiên là điều ảo tưởng. Tôi nghĩ rằng người ta đang gắng sức không vì lý do nào khác hơn là để biết được cái mà ta có thể gọi là sự ‘bất khả tư nghị’ về cái bao la của tự nhiên. (66)

Ông ấy nói rằng sau khi nghiên cứu thiên nhiên thì các nhà khoa học sẽ chỉ nhận ra rằng thiên nhiên bí ẩn và hoàn hảo. Liệu đó là điều khoa học nói, hay là điều ông ấy cho rằng khoa học nói? Ông ấy không một lần nào nhắc tới tính kiểm sai của khoa học, nhưng lại luôn khẳng định khoa học là phân biệt. Vậy việc dành cả đời mình chỉ để khẳng định với mọi người rằng khoa học là phân biệt liệu có phải là đang phân biệt không? Và rốt cuộc thì, liệu có thật sự là khoa học phân biệt không?

Ông ấy nói:

Một phương pháp kiểm nghiệm khoa học mà đưa được tất cả các yếu tố liên quan vào xem xét là điều bất khả thi. (46)

Cứ cho là như vậy đi, nhưng vậy rồi sao? Nếu người trong cuộc không phàn nàn gì về điều đó, vậy tại sao người ngoài cuộc phải phàn nàn giùm? Ngay từ đầu khoa học đã chẳng màng tới điều đó; thứ duy nhất nó quan tâm chỉ là việc lời nói ra có kiểm sai được hay không. Phân biệt hay không phân biệt, cặp mắt nào được việc hơn thì nó sẽ dùng. Ép nó phải dùng cặp mắt này mà không dùng cặp mắt kia, liệu có hơi thô bạo chăng?

Ông ấy hỏi học bằng tiến sĩ để làm gì (46). Để làm gì ư? Để không làm gì chứ còn để làm gì nữa? Để coi mình là một phần của tự nhiên. Để không phải sợ hãi những thứ không có thật. Để có thể nhân ái với nhau hơn. Liệu nói như thế có đúng ý ông ấy chăng?

Ông ấy nói:

Người ta nói rằng Einstein được trao giải Nobel vật lý là do độ khó hiểu của thuyết tương đối mà ông ta đưa ra. (95)

What? Ông ấy có đùa không? Câu này chỉ là câu nói đùa, vậy mà ông ấy xem nó như thật rồi dựa toàn bộ phê phán của mình lên trên câu nói ấy. Đáng ra ông ấy chỉ cần hỏi các nhà khoa học “này các anh, đây có phải là ý các anh muốn nói không”, thì lúc đó mọi hiểu lầm sẽ được giải quyết. Đành rằng vào thập niên 1970 thì khó mà email cho Einstein thiệt, nhưng quan trọng là ông ấy có suy nghĩ rằng nhỡ đâu mình đang nghĩ sai về Einstein hay không? Hay như chính lời ông ấy nói, cách làm không quan trọng, quan trọng là có nhận thức ra được không (31).

Không phải là ông ấy không đặt những câu hỏi như vậy. Nhưng sau khi hỏi, ông ấy lại nhảy ngay lập tức tới kết luận tiêu cực mà chưa thử tìm cách nghĩ ngược lại, chưa thử kiếm bằng chứng chống lại mình. Đây đâu phải là vượt lên trên suy nghĩ nhị nguyên; đây chỉ đơn giản là lỗi lập luận sơ đẳng mà thôi. Có vẻ như, các từ khoá như “hóa chất” hay “khoa học” sẽ luôn chặn đứng khả năng không phân biệt mà ông ấy vốn có.

Ông ấy nói:

Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. Tôi gần như biết về những điều sai sót có thể xảy ra khi trồng cây nông nghiệp nhiều hơn bất kỳ ai khác ở Nhật. Lần đầu thành công trong việc trồng lúa và ngũ cốc mùa đông bằng phương pháp vô canh, tôi cảm thấy vui sướng như Columbus hẳn đã cảm thấy khi ông tìm ra châu Mỹ. (34)

Vậy ông ấy vui sướng như Columbus, nhưng lại coi khinh Einstein. Ông ấy nói rằng “Thậm chí nếu chỉ gọi tên cây cối, một cây quýt thuộc họ cam quýt, một cây thông thuộc họ thông, thì tự nhiên đã không còn được thấy trong đúng nguyên bản của nó nữa” (24). Vậy nhưng ông ấy lại gọi Columbus là Columbus, gọi Einstein là Einstein. Chuyện đó có mâu thuẫn không? Hay là ông ấy chọn người này bỏ người kia để thuận tiện cho lập luận của mình?

Mà nói về chuyện vui sướng, thì người vui sướng nhất phải là Einstein mới đúng chứ? Ông ấy đến Mỹ là để trốn phát xít Đức cơ mà. Còn Columbus chỉ đang muốn đi đường tắt tới Ấn Độ thôi. Cảm giác khi đến châu Mỹ của Columbus chắc phải là chưng hửng mới đúng.

Quyển sách của ông ấy có bao nhiêu từ thì tôi đã thấy ông ấy phân biệt bấy nhiêu lần. Phân biệt giữa “ngũ cốc” và “đào hang”, giữa “đồng lúa cân bằng sinh thái” và “cộng đồng côn trùng và thực vật”. Ông ấy có thể bảo: “ừ thì chúng ta không thể thoát khỏi ngôn ngữ, nhưng ý của tôi là một thứ cao hơn”. Vậy thì ta cũng có thể nói ngược lại: “nếu chúng ta không thể thoát khỏi nó, thì đừng lảng tránh nó nữa, mà hãy đối diện với nó, đón chào nó như một người bạn”. Xem ra cũng chẳng khác biệt nhau là mấy.

Vậy tại sao một người dành cả tuổi trẻ hăng say để làm khoa học như ông ấy lại không hiểu gì về khoa học? Ông ấy cũng trả lời luôn:

Nhưng thực ra trong suốt tám năm đó, tôi ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên. Nền nông nghiệp hoá chất, sử dụng những sản phẩm của trí tuệ con người, đã được xem là siêu việt hơn. Câu hỏi luôn lởn vởn trong tâm trí tôi là liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không. (17)

Vậy là trong tám năm đó, ông ấy ngẫm nghĩ về “mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên”, chứ không phải là “bản chất của khoa học”. Thứ lởn vởn trong tâm trí ông ấy là “liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không”, chứ không phải là “khi nào thì một suy luận được xem là có cơ sở khoa học”, hay là “liệu tính kiểm sai có phải là phán quyết cuối cùng cho công cuộc hiểu biết tự nhiên hay không”. Chưa kể, ông ấy làm công việc khoa học, nhưng đầu óc không dành cho nó. Vậy thì cũng đâu thể gọi là hiểu được nó đâu?

Thật sự là các nhà khoa học không cần hiểu lắm bản chất của nó, chỉ cần nắm vững một số nguyên lý thực hành là có thể làm được. Có người là thầy, có người là thợ. Có những người thợ là thầy của những người khác. Có những người thầy là thợ của những người khác. Người làm trong một chuyên môn cụ thể không nhất thiết phải đọc triết học, đặc biệt là các ngành thực nghiệm như sinh học hay khoa học nông nghiệp. Ngay cả toán học cũng vậy. Người ta nói toán học như ngôi nhà được xây trên cát, vì nền tảng của nó đang có vô số lỗ hổng. Vậy nhưng các nhà toán học không quan tâm, mà outsource hết cho triết gia. Biết thì tốt, còn không biết thì cũng không quá nghiêm trọng. Bạn cũng đâu có một lần mảy may áy náy khi đọc những dòng này mà không biết cách hoạt động của chip máy tính đúng không?

Vì vậy, việc ông ấy làm khoa học mà không hiểu về bản chất của nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng không hiểu mà vẫn làm được là một chuyện, không hiểu mà phê phán người khác lại là chuyện khác.

Phần 2: Thứ ông ấy làm lại là khoa học đúng nghĩa

Ở phần 1 là chuyện ông ấy nghĩ gì về khoa học. Vậy còn chính những gì ông ấy làm thì sao?

Cách thông thường để phát triển một phương pháp là đặt câu hỏi “Thử cái này xem sao?” hoặc “Thử cái kia xem sao? […] Cách nghĩ của tôi là “Không làm điều này thì sao nhỉ? Không làm điều kia thì sao nhỉ?” (18)

Vậy, bằng đúng phương pháp của ông ấy, ta có thể hỏi: không làm nông nghip t nhiên thì sao nh? Và ta cũng sẽ có được kết quả tương tự: chẳng việc gì phải làm nông nghiệp tự nhiên cả. Cả làng ông ấy không ai làm nông nghiệp tự nhiên, nhưng mọi người vẫn vui vẻ hòa thuận với nhau. Đất đai cằn cỗi ư? Chẳng phải cằn cỗi và màu mỡ là một sao? Tại sao lại phân biệt giữa cằn cỗi và màu mỡ? Tại sao lại phân biệt giữa tự nhiên và hóa chất? Cho rằng làm đất đai cằn cỗi là xấu, dùng thuốc hóa học là có hại, vậy có phải là tâm phân biệt, suy nghĩ nhị nguyên hay không? Tại sao không xem chúng là món quà mà tự nhiên ban tặng?

Tại sao ông ấy lại nhất quyết cho rằng hóa chất là độc hại? Ta hãy tiếp tục lần theo những suy nghĩ của ông ấy:

Người ta không thể biết đâu là nguyên nhân thật sự của căn bệnh trên cây thông, cũng như không thể biết hệ quả sau rốt của cách “chữa trị” mà hđưa ra. Nếu can thiệp bừa vào tình huống này thì người ta chỉ gieo mầm mống cho đại hoạ kế tiếp. Không, tôi không thể vui mừng khi biết rằng sự thiệt hại tức thời do loài mọt này gây ra đã được giảm thiểu nhờ vào việc phun hoá chất. Sử dụng hoá chất nông nghiệp là phương pháp dớ dẩn nhất đđối phó với những vấn đề như thế này, và nó chỉ dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai. (29)

Vậy với ông ấy, “hóa chất” nghĩa là “can thiệp bừa”, là “gieo mầm mống cho đại họa kế tiếp”, là “dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai”. Nhưng nếu tôi nói rằng, loài tảo lam cũng tiết cyanotoxin một cách bừa bãi để hủy diệt hệ sinh thái địa phương thì sao? Vậy thật ra, loài người cũng chỉ đang học tập loài tảo lam vô tri vô giác đó thôi?

Ta cũng có thể hỏi tiếp: không nghĩ cách nghĩ ca ông y thì sao nh? Nếu ta cứ nghĩ như bình thường trước đây vẫn nghĩ thì sao? Lúc đó, ta sẽ nhận ra: thứ ông ấy đang phê phán là cứ làm việc theo quán tính mà không dừng lại để đánh giá, chứ không phải là bản thân chuyện đặt câu hỏi. Nếu trong câu hỏi của ta có tinh thần dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý, thì hỏi câu nào chẳng được?

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Lão Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, đặt nền móng cho triết học phương Tây. Và chính từ cái truyền thống triết học đó mà khoa học hình thành. Ông ấy nói là các nhà khoa học trước khi làm việc hãy trở thành triết gia (46), nhưng ông ấy quên rằng chính triết gia đã đẻ ra khoa học. Thật vậy, khoa học trước đây không được gọi là khoa học, mà được gọi là triết học tự nhiên. Chủ động thách thức những gì bản thân trước giờ vẫn nghĩ, chẳng phải là thấm đẫm trong cái nguyên tắc kiểm sai đó sao? Khoa hc không nói rng cái nào là đúng, cái nào là sai. Khoa hc ch cho phép ta không tin vào nhng gì nó nói. Vậy có phải, cái ông ấy làm cũng chính là tinh thần khoa học, mà ông ấy không nhận ra?

Sẽ thật là hồ đồ nếu vội kết luận như vậy, vì cho tới giờ vẫn chỉ là suy diễn. Ta hãy kiểm tra xem điều đó có đúng là như vậy không, bằng cách xem thế nào là làm theo phương pháp khoa học. Nó là một chuỗi tuần tự những bước sau: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Tất cả những bước này chính là cái nguyên lý thực hành đã nói ở phần 1. Nếu bạn làm chúng, thì dù bạn có để ý là bạn có đang làm nó hay không, công việc của bạn cũng sẽ được xem là có tính khoa học.

Tôi thấy, những bước thực hành khoa học ông ấy đều làm đủ cả:

Ông ấy đề ra giả thuyết:

  • Tôi tin rằng cây trồng tự chúng mọc và không cần phải chăm sóc. (17)
  • Ý tưởng là không diệt cỏ ba lá mà chỉ làm chúng yếu đi để những cây mạ mọc vững trước đã. (35)
  • Những năm gần đây, tôi đang thử phát triển một giống lúa nếp cổ từ miền Nam. […] Tôi tin rằng với giống lúa này, một ngày nào đó tôi có thể gặt hái được sản lượng gần chạm tới ngưỡng tối đa về mặt lý thuyết có thể có, căn cứ trên năng lượng mặt trời đổ xuống cánh đồng. (36)

Ông ấy làm thí nghiệm nhiều lần để kiểm định giả thuyết. Sau khi thí nghiệm thì phân tích kết quả và loại bỏ giả thuyết sai:

  • Trong quá trình đi đến được câu trả lời, tôi đã cho 400 cây nữa đi tong. Cuối cùng thì tôi cảm thấy mình đã có thể nói một cách chắc chắn: “Đây chính là hình thái tự nhiên.” (18)
  • Trong hai mươi, ba mươi năm qua, phương pháp trồng lúa gạo và ngũ cốc mùa đông này đã được kiểm nghiệm trên diện rộng với nhiều kiểu thời tiết và điều kiện tự nhiên khác nhau. (22)
  • Tôi đã từng dùng cách thả hạt vào những lỗ nhỏ trên đất, hoặc vào những rãnh đất mà không phủ đất lên, nhưng tôi đều thất bại nhiều lần với cả hai phương pháp này. (33)
  • Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. (34)

Ông ấy có sự kế thừa kiến thc/có trích dẫn nghiên cứu của người khác:

  • Gần đây, tôi có trao đổi về điều này với Giáo sư Iinuma ở Đại học Kyoto. Một nghìn năm trước, nông nghiệp được thực hành tại Nhật mà không có chuyện cày ruộng, và phải đến tận triều đại Tokugawa – khoảng 300-400 năm trước – thì việc cày xới sơ sơ một lớp mỏng trên bề mặt mới được đưa vào. (20)
  • Bệnh mọt ăn cây này, theo các nghiên cứu gần đây nhất không phải là lây nhiễm trực tiếp, mà xuất hiện theo sau hoạt động của loài giun tròn trung gian (28)

Giả thuyết sau khi được sàng lọc có tính tiên đoán và kim sai:

  • Ngay cả giống cỏ khó chịu như cỏ mần trầu, vấn đề khó khăn nhất gặp phải trong phương pháp không cày xới, cũng có thể kiểm soát được. (33)
  • Vào đầu tháng tám, khi những cây lúa trên ruộng của láng giềng đã cao ngang lưng, thì trên ruộng của tôi, chúng chỉ cao bằng một nửa. Tầm cuối tháng bảy, những người tới thăm ruộng luôn tỏ ra hoài nghi và hỏi: “Tiên sinh Fukuoka à, chỗ lúa này liệu có nên cơm cháo gì không?” “Chắc chứ,” tôi trả lời: “Không cần phải lo.” (35)
  • Một trong những giống cây thú vị nhất, dù chẳng phải cây bản địa, là cây keo Morishima. […] Nó giúp phòng tránh côn trùng phá hoại trong vườn, đóng vai trò chắn gió và loại vi khuẩn rhizobium sống trong rễ của nó làm màu mỡ thêm cho đất. (39)

Nểu giở mục lục cuốn sách ra, ta sẽ thấy ông ấy phân chia công việc làm nông rất ngăn nắp: cách cày xới đất, cách dùng phân bón, cách sử dụng rơm, cách trồng cây ăn quả, cách đối phó với sâu bệnh, cách ăn uống cân bằng, v.v. Hay trong một phần nhỏ như làm rơm, ông ấy lại tiếp tục chia ra thành: rải rơm còn nguyên chất, rơm làm màu mỡ đất, không cần chuẩn bị phân ủ, nảy mầm, v.v.  Bố cục cuốn sách rất rõ ràng, vậy không thể nói là ông ấy đang không chẻ nhỏ cái tổng thể thành những cái riêng lẻ được.

Tất cả những bước này đều vô cùng quan trọng để ông ấy đạt được mục đích của mình. Vậy có thể khẳng định, thứ gì ông ấy làm chính là khoa học đúng nghĩa.

Phần 3: Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Ta hãy nói về sự tham lam. Cách đây vài tuần tôi có dịp đến Sun World Phú Quốc. Phải nói là chán. Hay nói như Thế Lữ thì là thế này:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nhưng trên đường đi đến đó tôi phải đi cáp treo qua biển. Và cảnh tượng phía dưới là tuyệt đẹp. Lúc đó là sau bão nên biển động, nước đánh mạnh vào các bãi đá ở dưới. Khi sóng rút, bọt trắng len lỏi giữa các rãnh đá, khá vuông vắn chứ không lộn xộn như bình thường. Tra ra thì đó có vẻ là cát kết xen lẫn cuội kết, hình thành từ kỷ Jura. Nghĩa là thứ đang ở trước mắt tôi đây đã có từ thời bọn khủng long còn sinh sống.

Tôi tự hỏi, không biết là có bao nhiêu con người chấp nhận bị nói là tham lam, để tôi có thể thấy được một cảnh đẹp đến thế. Những người ở cấp lãnh đạo thừa biết xây ra sẽ bị chỉ trích, nhưng họ vẫn mặc kệ dư luận để tiếp tục xây dựng. Họ cứ việc mình mình làm, không cần sự ủng hộ của người khác. Vậy chẳng phải là họ đang như con én đưa thoi mà không màng xem mùa xuân có đến hay không ư?

Họ tham lam, vậy đó là điều tốt. Ta nên ủng hộ sự tham lam của họ, tìm cách để giúp họ trở nên tham lam hơn. Hoặc hay hơn, là tham lam cùng với họ, trở thành một người tham lam hệt như họ. Nhưng có lẽ hay nhất, là từ đầu là một người tham lam. Tham lam tột cùng. Có thể làm được điều đó, thì ta mới thật sự không còn tham lam. Cứ tham lam đi, rồi những điều bất ngờ sẽ đến.

Đó là nói theo kiểu Lão, khi cứ khù khờ, không hay biết gì cả, sống cho riêng mình. Còn nói theo kiểu Phật, là từ bi hỷ xả. Một người cố gắng làm bánh mì ngon có thể làm bánh mì ngon biến mất. Nhưng nếu nhờ có nó mà con của họ hào hứng học tập, còn bản thân họ thấy cuộc sống có ý nghĩa, thì lúc đó bánh mì ngon có mất không? Khi cái mong muốn không phải là để thỏa mãn ham muốn bản thân, mà là để đạt được một góc nhìn cao hơn, rộng hơn, để đặt mình vào góc nhìn của người khác, thì ta đâu phải lo họ tham lam?

Điều gì khiến con én không dính chấp vào mùa xuân, nếu không phải là sự từ bi? Tôi nghĩ, nếu người dù phân biệt đến mấy có tâm từ bi, thì hành động của họ chẳng còn phân biệt gì nữa. Và ngược lại, nếu thấy một người khác đang phân biệt, thì hãy từ bi với họ mà phân biệt cùng họ. Dám biến mình thành người phân biệt là phép thử tốt nhất cho sự không phân biệt của chúng ta.

Sự từ bi sẽ phi-phân-biệt-hóa mọi suy nghĩ phân biệt. Nhờ có nó, ta có thể làm mà như không làm, ngồi im như tượng phỗng bằng cách chạy nhảy lung tung. Người vô dụng tham lam ở chỗ không phải vì họ không làm gì có ích, mà ở chỗ họ không giải thích cho người ngoài hiểu được chuyện mình đang làm. Người ngoài không hiểu thì không phải là lỗi của họ, nhưng bản thân người vô dụng lại để sự hiểu lầm tiếp tục xảy ra. Sự hiểu lầm đó làm gia tăng stress ở người ngoài, mà chỉ có sự giải thích của người vô dụng thì căng thẳng đó mới được giải tỏa.

Điều đó đòi hỏi người giác ngộ phải có khả năng tư duy trong sự trống rỗng. Tôi cho rằng các vị đã giác ngộ vẫn đang loay hoay không biết cách nào để chỉ ra được – một cách dễ hiểu và trực quan – cách để làm như thế.  Vì để giải thích cái ý trống rỗng còn chưa xong, thì thời gian đâu để giải thích cái ý thõng tay vào chợ? Tôi nghĩ rằng ông Fukuoka cũng đang loay hoay cho việc đó. Nếu không thì ông ấy đã chẳng hay nổi giận khi người khác không hiểu rồi. Vì người ta chỉ nổi giận khi họ thấy rối bời và bất lực.

Khoa học sẽ giúp ông ấy hết loay hoay. Hay nói đúng hơn, mọi suy nghĩ phân biệt sẽ giúp cho sự từ bi và trống rỗng đạt hiệu quả cao. Nếu có cả hai yếu tố này, thì một cuộc cách mạng rơm là hoàn toàn trong tầm tay.