Kết luận

Tôi nghĩ, về lý thuyết, Đạo gia là một tư tưởng triết học rất tốt để không còn sợ hãi, nhưng trên thực tế nó lại rất tốt để dung dưỡng sự sợ hãi. Nó tạo thêm gánh nặng cho những ai muốn cam kết với nhau. Những người xây dựng nó có lẽ đã đinh ninh rằng những ai theo nó đều là những người ổn định về mặt tâm lý sẵn rồi. Những nỗi sợ được miêu tả trong Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh là những nỗi sợ không quá nghiêm trọng.

Tôi nghĩ, với những ai đang còn ngập trong sợ hãi, hoặc đang giúp đỡ người đang sợ hãi, thì họ nên một lần dứt khoát vứt bỏ Đạo gia sang một bên, và chuyên tâm vào chuyện chữa lành. Họ rất dễ bị nhầm lẫn, và sẽ thế nào cũng sẽ nhầm lẫn. Sau khi hết sợ rồi thì có thể quay lại cũng được.

Hoặc có thể nói theo hướng khác: Đạo không chấp nhận chuyện người theo nó còn sợ hãi. Khi phát hiện bản thân đang sợ, Đạo yêu cầu họ lập tức nhìn thẳng vào nỗi sợ. Vì có dám đối diện với nó thì mới thấy nó hóa ra chẳng đáng sợ tí nào. Ai còn chần chừ, còn tránh né, là vẫn còn quanh quẩn ở tiểu trí, chưa phải là đại trí. Mọi suy nghĩ, hành động của họ đều không phải vô vi, dù nó trông như vậy tới đâu đi nữa. Đạo sẽ không đến gặp họ, dù họ có hiểu nó đến bao nhiêu.

Phần 2: Mối quan hệ của một bông hoa chết

Để thuận tiện, tôi sẽ đặt tên đạo sĩ có rối loạn tâm lý là Megan, còn người yêu của cô là Cueball.

Đây là Cueball và Megan:

Ta hãy nói về Megan trước. Cô tuy mắc bệnh, nhưng cô cũng là một người thông minh. Chính vì như vậy, nên cô biết ai có mối quan hệ với cô sẽ vô cùng gian nan và vất vả. Nên khi đã xác quyết mình là bông hoa chết, thì kèm theo đó cô cũng có một xác quyết thứ hai: những người kém cỏi không đủ năng lực để yêu cô.

Nếu cô đã chấp nhận bước vào một mối quan hệ với một ai đó, người đó cần phải thông minh như cô, nhìn xa trông rộng như cô, ứng biến tốt với môi trường như cô. Tuy bệnh của cô có làm cô thần tượng hóa người khác thật, nhưng đúng là chỉ một người hoàn hảo mới có thể đáp ứng nổi một bông hoa chết.

Chính vì như thế, nên chỉ cần thấy anh kém linh hoạt là Megan đã kết luận ngay rằng phản ứng của anh quá chán (dấu hiệu 2), trong khi sự chậm chạp đó có rất nhiều lý do. Nếu anh chỉ ra rằng cô đang không nhận ra rằng xấu cũng là tốt và tốt cũng là xấu, cô sẽ vặc lại là đó là những điều anh cần cải thiện.

Bằng con mắt của mình, mọi thiếu sót của anh sẽ bị nhìn ra hết. Cô sẽ không hài lòng khi thấy anh không được như trông đợi, mặc dù chúng có thể vượt quá khả năng của anh. Với cô, anh không khác gì một công ty cung cấp dịch vụ cả. “Anh đã cam kết với tôi, anh phải làm việc chuyên nghiệp. Sản phẩm của anh không được tì vết, thái độ phục vụ phải tận tâm. Tôi không cần biết anh vất vả tới đâu, nhưng nếu những sản phẩm của anh không hoàn thiện thì tôi sẽ không nhận.” Ai muốn bước vào mối quan hệ với cô, người đó cần chuẩn bị tinh thần đó.

Lao động là vinh quang. Một mối quan hệ cần nhiều yếu tố, và những ai chưa chuẩn bị sẵn sàng thì tốt nhất đừng bước vào. Ai chỉ thấy cô ích kỷ, đòi hỏi quá quắt, thì họ chưa thực sự hiểu thế nào là nghiêm túc với một mối quan hệ. Cô làm vậy là vì mối quan hệ đòi hỏi cô làm vậy. Không sớm thì muộn, nếu những vấn đề đó không được đáp ứng, thì nó chỉ đem lại bất mãn và ức chế cho cả hai. Những đòi hỏi của cô phải nói là nghiệt ngã, nhưng không ai có thể phủ nhận giá trị lâu dài của nó. Thà không yêu thì thôi, chứ đã yêu thì không thể thỏa hiệp với cái nửa vời được.

Đó là ở phía Megan. Nếu những điều ở trên chưa đủ ép phê, ta hãy xét đến phía Cueball.

Cueball

Để Cueball trở thành nhà cung cấp dịch vụ hoàn hảo cho Megan, anh phải có ý tưởng khởi nghiệp từ rất sớm.

Để có thể chinh phục được những đòi hỏi nghiệt ngã đó, anh đã phải có ý thức về việc gặp gỡ cô trong tương lai. Vì đoán sẽ rất gian nan để đáp ứng chúng, anh đã vạch ra một lộ trình dài hơi để tích lũy kiến thức. Một cách đại khái, anh đã biết sơ về một số tính cách của cô trước khi gặp cô. Hai người gặp được nhau không chỉ hoàn toàn do sự tình cờ, mà có một phần lớn là do anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó.

Vì biết cô có rối loạn, nên ngay từ đầu anh đã biết sẽ có ngày cô làm tổn thương anh. Những phản bội đều không thể qua được mắt anh, nhưng anh chấp nhận nó, vì thứ quan trọng hơn không phải là dằn vặt cô, mà là cho cô thấy cô không phải là bông hoa chết. Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi về tâm lý học trị liệu, những ai chấp nhận chuyện vẫn quan tâm tới người khác dù bị họ tổn thương có thể sẽ phát triển tính cách đồng phụ thuộc. Nếu là người như vậy, Cueball sẽ cảm thấy tội lỗi khi muốn nói cô đang sai, dù anh biết cô cần anh nói điều đó. Nếu anh không làm cô nhận ra những biện hộ của mình là không có giá trị, thì những ức chế của anh không thể giải quyết được.

Khi gặp anh, cô sẽ lao vào tới tấp (dấu hiệu 2), nhưng anh thấy có gì đó rất không ổn trong chuyện này. Cô nói với anh là cô với anh bổ sung và xung khắc với nhau như âm với dương, nhưng anh biết suy nghĩ này thật nguy hiểm. Nó chỉ củng cố sự lý tưởng hóa của cô (dấu hiệu 2), và thổi thêm rắc rối cho mối quan hệ rối loạn này. Nhưng mặt khác, kết luận đó anh không thấy có gì sai cả. Nếu không thể chỉ ra được nó sai ở đâu đúng ở đâu, anh sẽ không thể giúp cô.

Khi chỉ trích anh, Megan sẽ thường xuyên dùng ẩn dụ và so sánh để miêu tả vấn đề. Thực tế, đó là cách mà Trang Tử hay sử dụng, làm cho khả năng biến đổi góc nhìn của ông ấy cực kì mạnh. Nếu muốn làm Megan tâm phục khẩu phục, anh phải có khả năng dùng chính những ẩn dụ cô đưa ra để lật ngược tình huống, nếu không sẽ bị lạc vào những biến hóa của cô. Bằng trực giác, không khó để anh lật lại chúng. Nhưng nếu như anh chưa thử tra vấn suy nghĩ của mình, thì anh không cho phép mình phát biểu. Vì anh biết là mình có thể sai, nên kể cả khi cô cần anh nói cho cô biết cái nào đúng cái nào sai, anh cũng không nói cho cô. Nói những gì mình chưa thật sự chắc chắn là trái với lương tâm của anh. Điều này làm cho những méo mó cô có không cách nào được sửa chữa.

Vì Megan biết rất khó để có người đáp ứng nổi những đòi hỏi của cô, nên khi có người đem đến cho cô HY VỌNG, cô sẽ cố gắng hết sức để trân trọng nó. Cô sẽ rất giữ gìn để không nổi giận (dấu hiệu 8), và nếu như có nổi giận thì chỉ cần một lời xoa dịu là được. Nhưng anh cảm thấy không thể làm điều đó mãi được. Những gì cô đòi hỏi là hợp lý, và không sự xoa dịu nào có thể giải quyết được những xung đột về mặt tư tưởng một cách rốt ráo. Nếu không có một câu trả lời thuyết phục thì cô sẽ không phục anh, và anh sẽ không phục cô. Cái uy là vô cùng quan trọng để cả hai lắng nghe nhau. Cô có thể không còn nhớ cô đã yêu cầu gì anh (do nhiều dấu hiệu), nhưng anh thì tự thấy những yêu cầu đó là tối quan trọng cho mối quan hệ. Điều đó lại khiến cho cô cảm thấy như mình bị bỏ rơi (dấu hiệu 1), và vòng xoáy lại tiếp tục.

Đó là chưa kể, vì Cueball cũng hiểu Đạo, nên anh hứng thú hơn với việc trở thành một người không đáng tin. Anh thoải mái hơn với việc trở nên vô dụng trong mắt cô, thoải mái hơn khi đánh đổ niềm tin cô dành cho anh. Khi cô có nhu cầu cấp thiết thì anh chỉ làm rất chậm rãi và thong thả. Nhờ có tính cách đó mà anh mới chinh phục được cô. Nhưng lúc này, nó chỉ đổ dầu vô lửa, làm giọt nước tràn ly. Nó làm cho cô tức phát điên, và làm cô cảm thấy bao nhiêu nỗ lực để kiềm chế bản thân lại vuột ra khỏi tầm tay của mình một lần nữa. Cô không biết phải tin anh chỗ nào, dù cô biết anh nói không sai. Cô không biết mình đã làm gì sai, dù thực tế lỗi không phải ở cô. Cô cảm thấy đúng là mình lại đẩy anh ra xa, và cái xác quyết mình là bông hoa chết kia càng được củng cố hơn nữa.

Nói tóm lại, anh không dám nói cô sai, không cho phép mình nói cô sai, thích thú với việc nghĩ rằng mình mới là người sai, và có việc còn quan trọng hơn việc nói cho cô biết cô đang sai ở đâu, dù cả anh và cô đều biết rằng nếu anh không nói thì rối loạn của cô sẽ còn tiếp diễn.

*      *      *

Còn nhiều vấn đề nữa, nhưng nói chung mối quan hệ đó sẽ như thế này:

Khi Cueball muốn tiếp cận Megan bằng con đường tình cảm (màu đỏ), con người lý trí (màu xanh) của cô sẽ thấy vô ích:

Nhưng khi Cueball muốn tiếp cận Megan bằng con đường lý trí, con người cảm xúc của cô sẽ bị tổn thương:

Ngược lại cũng vậy: Megan tiếp cận Cueball bằng con đường nào cũng không được:

Trong trường hợp hiếm hoi, khi cả hai hoặc cùng tình cảm hoặc cùng lý trí, sẽ không có gì ngăn được họ cả. Ta nói họ đồng điệu hoặc cộng hưởng nhau:

Còn không thì họ sẽ cứ luẩn quẩn với nhau:

Kết quả là có một bức tường vô hình chặn lại giữa cả hai, mà mỗi lần họ định giải quyết thì nó lại lẩn đi đâu mất. Nói như Lão Tử thì tường khả tường phi thường tường.

Phần 1: Ví dụ

Để ví dụ, tôi sẽ so sánh Đạo gia với một loại rối loạn tâm lý được xem là vô cùng khó chữa: ri lon nhân cách tâm trng không n đnh (EUPD). Một số người nổi tiếng mắc phải nó có thể kể đến: Amy Winehouse, Marilyn Monroe, Britney Spears, Công nương Diana, Angelina Jolie-Pitt, Zelda Fitzgerald, Thomas Wolfe, Adolf Hitler.

Lưu ý 1: đây chỉ là một ví dụ minh họa, dựa trên những gì tôi quan sát thấy ở một trường hợp cụ thể. Để những kết luận này có giá trị khoa học, cần phải thu thập mẫu với số lượng lớn (tức cần thêm nhiều đạo sĩ có rối loạn tâm lý).

Lưu ý 2: khi nói về “đạo sĩ” ý tôi chỉ là người có hứng thú và làm theo Đạo gia, không nhất thiết là người dành cả đời cho nó. Có khi người chưa từng biết gì về nó cũng đã là đạo sĩ theo cách hiểu này.

Rối loạn này có 9 dấu hiệu nhận biết sau:

  1. Làm đủ chuyện điên rồ để không bị bỏ rơi, dù nó có thật hay chỉ là tưởng tượng
  2. Có các mối quan hệ (không nhất thiết là yêu đương) kịch tính và không bền vững. Khen thì khen tận mây xanh, chê thì chê mạt sát
  3. Không biết đâu mới thật sự là chính mình
  4. Bị kích động bởi những thứ có khả năng gây hại cho bản thân, ví dụ như rượu, tình dục, ăn trộm, lái xe bất cần đời, ăn vô tội vạ
  5. Lâu lâu lại cắt tay hoặc dọa tự tử
  6. Tâm trạng thay đổi thất thường và phản ứng cực đoan với những khó khăn chỉ mang tính tạm thời
  7. Luôn cảm thấy trống rỗng
  8. Thường giận dữ một cách vô lý hoặc quá quắt
  9. Hoang tưởng hoặc mất liên hệ với thực tại trong thời gian ngắn

Còn đây là một số quan niệm của Đạo gia, và mối liên hệ của nó với EUPD.

Biến hóa

Trời đất sinh cùng ta, còn vạn vật hòa làm một với ta

Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau, có khi như tiếng nước chảy ào ào, có khi như tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít, như tiếng người đi trước hô, người đi sau đáp. (T vt lun 1)

Nếu tạo hoá muốn biến cánh tay trái tôi thành con gà thì tôi nhân đó mà gáy sáng; nếu biến tay phải tôi thành cây cung thì tôi sẽ nhân đó mà bắn con chim hào đem về quay; nếu biến đít tôi thành bánh xe, tinh thần tôi thành ngựa thì tôi sẽ nhân đó mà thắng xe.i tôn sư 3)

Cái bóng của cái bóng hỏi cái bóng:

– Lúc nãy anh cúi đầu, bây giờ anh ngửng đầu; lúc nãy tóc anh búi lại, bây giờ nó xoã ra; lúc nãy anh ngồi, bây giờ anh đứng; lúc nãy anh đi, bây giờ anh ngừng, tại sao vậy?

Cái bóng đáp:

– Đó là những chuyện nhỏ, anh hỏi tôi làm gì? Tôi như vậy đó, không hiểu tại sao. Tôi như cái xác từ đó con ve sầu hoặc con rắn thoát ra. Các xác đó giống con ve sầu hoặc con rắn mà không phải con ve sầu hoặc con rắn. Khi có ánh lửa hoặc ánh nắng thì tôi xuất hiện; trong chỗ tối hoặc đêm tối thì tôi biến mất. Tôi có tuỳ thuộc hình thể không? Mà chính hình thể có tuỳ thuộc cái gì khác không? Hình thể qua lại, vận động, thì tôi cũng qua lại, vận động. Những qua lại, vận động đó đều do thiên cơ [do tự nhiên], có gì mà phải hỏi? (Ngụ ngôn 6)

Những người mắc bệnh kể lại rằng họ như con kỳ nhông, lúc nào cũng thay đổi cho phù hợp với môi trường. Có người thì chỉ biến đổi theo những người xung quanh (cách nói chuyện, sở thích, v.v.). Có người thậm chí còn thấy mình là gió, là mây khi nghĩ về gió, về mây. Không bao giờ họ là một con người cố định. Mà quả thực, Đạo gia cổ vũ việc đó.

Thứ họ cần nhất ở đây là biến đổi nguyên nhân ca nỗi sợ trước. Biến đổi nguyên nhân của nỗi sợ thì mình mới có thể biến đổi bản thể một cách trọn vẹn. Còn chỉ biến đổi bản thể của mình không thôi mà nỗi sợ vẫn còn đó thì chỉ là một hình thái khác của sự tránh né. Biến đổi như thế chỉ làm họ không biết mình là ai (dấu hiệu 3).

Thật ảo là một

Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu.

Sống cũng là chết, chết cũng là sống, mộng cũng có thể là thực mà thực cũng có thể là mộng

Sau khi nhận ra rằng mọi thứ không có gì đúng không có gì sai, nó sẽ được quy nạp lên thành quan điểm thật với ảo là một, rằng những thứ trước mắt mình đều chỉ là mơ hồ, ảo ảnh. Điều này lại tương đồng với dấu hiệu số 9 của EUPD: mất liên hệ với thực tại. Nên mỗi khi bị mất liên hệ với thực tại, họ sẽ nghĩ là, à, chắc cái này là “Đạo”.

Chưa hết, để khám phá quan niệm đó thật trọn vẹn, họ sẽ chủ động quên những thứ cần phải nhớ, chủ động tự lừa mình, lừa người, chủ động nói chuyện úp úp mở mở, làm mình trở nên huyền ảo, bí hiểm trong mắt người khác, tất cả chỉ để thấy mọi thứ trước mắt mình hư hư thực thực. Với họ, đó là cách để đến gặp đại đạo, nhưng thực tế, đó cũng là cách để họ tránh né hiện thực. Họ đơn giản là đang gaslighting bản thân (tự inception chính mình). “Đạo”, lúc đó, là cái cớ thuận tiện để biện minh và thoái thác trách nhiệm. Nỗi sợ của họ, vì thế, không có cách nào giải thoát.

Thấy nỗ lực của người khác là buồn cười

Trong bài viết Trang T: Ngôi nhà cưi ca tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul), tác giả có miêu tả vấn đề này như sau:

Mi khi nói v Trang T, tôi đu cm thy không thoi mái, ht như vic tôi thy vic đoán ý ca bn mình ri thay h nói luôn không đưc hay cho lm. Và không phi ch có mình tôi là thy vy. […] Thy Trang […] có v đã thiết kế công trình ca mình sao cho mọi nỗ lc diễn gii nó đu b kháng li. […] Nhà Hán hc và dch gi Burton Watson đã tóm đưc cái cm giác này như sau: “Mi khi tôi ngi xung và c viết mt cái gì đó tht nghiêm túc v Trang T, tôi thy, đâu đó phía sau trong đu mình, Trang T đang cưi khùng khc vi nhng n lc khiên cưng và vô dng như thế

Sự chế diễu này, theo Trang Tử, là cần thiết, để họ có thể thấy được cái trí tuệ của học giả kia theo đuổi chỉ như ếch ngồi đáy giếng. Nhưng như đã nói trong bài Niềm vui hiểu Đạo, trong trường hợp này đơn giản là Trang Tử sai. Nếu nó kết hợp với sự phân ly trong dấu hiệu 2 (lúc khen thì khen tận mây xanh, lúc chê thì chê mạt sát), thì nó càng làm cho họ không thể tĩnh tâm nhìn vào nỗi sợ được.

Lười biếng

Đây là một bài thơ của Bạch Ngọc Thiềm, lấy trong sách Sng đp của Lâm Ngữ Đường, Nguyễn Hiến Lê dịch:

Đan kinh biếng đọc vì Đạo không phải ở trong sách
Tạng kinh biếng coi vì chỉ là cái bì phu của Đạo
Cái tốt của Đạo là trong sự thanh hư
Thanh hư là gì? Là suốt ngày như ngu
Có thơ mà biếng ngâm vì ngâm xong thì ruột héo,
Có đàn mà biếng gảy, vì gảy xong là hết nhạc
Có rượu mà biếng uống vì ngoài cái say còn có sông hồ
Có cờ mà biếng chơi vì ngoài nước cờ còn có can qua
Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi
Biếng ngắm gió trăng vì trong lòng có Bồng Lai rồi
Biếng lo việc đời vì trong lòng có vườn ruộng nhà cửa rồi
Biếng hỏi nóng lạnh vì trong lòng có cảnh tiên ấm áp rồi
Dù tùng héo núi tan, ta cũng vậy thôi,
Cho nên gọi là “Am biếng nhác”, chẳng cũng đúng ư?

Để trả lời câu hỏi cuối bài thơ, tôi nghĩ, sai rồi. Phải gọi là “Am biếng nhác vì trong lòng đã hiểu ý rồi” mới đúng. Bạch Ngọc Thiềm không phải cái gì cũng biếng nhác; ông chỉ biếng nhác trong một điều kiện cụ thể. Nhưng khi người khác đọc bài thơ, thứ còn đọng lại chỉ là lười biếng chung chung. Hiểu ý quên lời nguy hiểm ở chỗ đó, vì một vài lời bị quên sẽ làm biến dạng toàn bộ ý, dù ý đó mình đã hiểu rất rõ.

Nói cách khác, đây là người ở Am biếng nhác:

Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi

Còn đây là người ở Am biếng nhác vì trong lòng đã hiểu ý rồi:

Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi
Nhưng vì biết họa đồ rồi sẽ có lúc xuyên tạc núi khe, nên thôi không biếng nữa

Vô dụng

Nam Bá Tử Kì tới đồi Thương, thấy một cây lớn lạ lùng, tàn nó có thể che cả ngàn cỗ xe bốn ngựa. Ông ta tự hỏi:

– Cây này là cây gì? Nó dùng được vào việc gì không? Từ dưới nhìn lên, những cành nhỏ cong queo của nó không thể xẻ thành cái đòn, cái ruờng nhà được. Ngó xuống, cái thân to lớn nứt nẻ, đầy mắt của nó không làm quan tài được. Liếm lá của nó thì miệng sẽ loét lỡ. Nó hôi thúi, chỉ ngửi thôi cũng hoá điên, mê sảng suốt ba ngày.

Rồi Tử Kì tự kết luận:

Cây đó thật vô dụng cho nên mới lớn được như vậy. Bậc thần nhân cũng cầu được bất tài như cây đó. (Nhân Gian Thế 6)

Việc tự vô dụng hóa bản thân không chỉ là để an toàn, mà còn là để những bản tính của mình được tự do phát triển. Trùng hợp là, những người có EUPD lại thường tự thấy mình vô dụng hơn người khác (do nhiều nguyên nhân kết hợp, không nằm trong các dấu hiệu được nêu).

Sự khác biệt ở đây là vô dụng kiểu Đạo gia là để tránh họa/vô vi, còn vô dụng của EUPD là vô dụng kiểu kém cỏi. Tương tự như từ “lười biếng”, Đạo gia chỉ trông như vô dụng thôi, chứ họ không thực sự vô dụng. Hai từ này là hai từ đồng âm khác nghĩa, nhưng họ sẽ không nhận ra được sự nhập nhằng đó, và sẽ không hiểu tại sao làm người vô dụng lại sai.


Đọc qua, ta có thể thấy những hiểu nhầm này khá buồn cười. Ai hiểu ý rồi thì sẽ thấy chúng khác biệt một trời một vực. Nhưng đó là do bạn dùng con mắt của người bình thường, chứ không phỉa của người đang có nỗi sợ. Nếu không dthì ta sẽ rất bối rối không tài nào hiểu nổi tại sao lại sai. Muốn hết hiểu nhầm, không có cách nào khác là thể hiện suy nghĩ của mình dưới dạng viết, vì lúc đó ta không sợ quên, và từ sẽ không biến nghĩa nữa.

Khi đạo sĩ gặp rối loạn tâm lý

Giả sử một người có một rối loạn tâm lý vì từ nhỏ chịu nhiều tổn thương. Người đó lớn lên và rối loạn của họ trở nên ổn định hơn. Trên con đường đó họ bắt gặp triết học Lão – Trang và cảm thấy đây đúng là thứ mình cần tìm. Họ sẽ như thế nào?

Người hiểu được triết lý đó vốn không phải là tầm thường. Họ vốn thông minh và sắc sảo. Với một người thông minh và sắc sảo, thì không khó để nhìn ra được điểm tích cực giữa những thứ tiêu cực. Độ đàn hồi (resilience) của họ rất tốt, và những tổn thương “tầm thường” sẽ bị bật lại ngay. Nói như Sơn Tùng, thì họ không phải dạng vừa đâu.

Thế nên, để đến mức một người không phải dạng vừa đâu bị rối loạn tâm lý, thì tổn thương họ nhận được hẳn là rất lớn. Vì chẳng có lý do gì một tổn thương tầm thường lại có thể bẻ gãy họ cả, nên nếu họ sụp đổ, thì tổn thương đó hẳn là vượt quá sức tưởng tượng của một con người. Ban đầu họ vẫn tin rằng rồi mọi thứ rồi sẽ qua thôi, rằng mọi chuyện rồi sẽ có cách, nhưng niềm tin trong họ bị xói mòn dần dần, cho tới một lúc họ bàng hoàng kết luận: họ không còn khả năng để hi vọng thêm một lần nào nữa rồi.

Khi đã kết luận là mình là một bông hoa chết, thì toàn bộ thế giới xung quanh họ rùng rùng biến đổi. Kết luận đó giờ trở thành một xác quyết không thể lay chuyển, thấm đẫm vào trong từng chân tơ kẽ tóc của họ. Khi đã chấp nhận mình không bao giờ thoát khỏi vấn đề của mình rồi, thì họ cũng không còn động lực để sửa chữa nó nữa. Họ không còn quá buồn phiền vì có nó nữa. Cuộc sống của họ khi có rối loạn tâm lý cũng giống như một người què chấp nhận không có cánh tay. Việc không được lành lặn giờ là một phần của cuộc sống. Que sera, sera.

Nhưng mặt khác, mất tay thì không giống với việc có rối loạn tâm lý. Hoàn toàn không. Bất cứ nỗi đau nào, dù có lớn đến đâu, cũng chỉ có một lần. Còn rối loạn tâm lý là lp li. Nó dai dng. Nó tun hoàn. Không ai cứ hai ba tuần lại mất tay một lần. Không ai cứ một hai tháng lại mất đi một đứa con. Oán trách. Oán trách. Oán trách. Họ không thể nào ngừng oán trách bản thân, dù đã chấp nhận sự tồn tại của nó.

Nếu có ai đó, vì sự bao dung và trắc ẩn, muốn kéo họ ra khỏi hố sâu đó, họ sẽ cười buồn: “Tôi đã là một bông hoa chết rồi. Xin bạn hãy vì bản thân mà sống cuộc sống của bạn đi.” Nếu ai nhất định tiếp tục, nụ cười buồn đó sẽ thành cười phiền, vì rõ ràng là họ đã chết? Chẳng phải chỉ những kẻ ngây thơ mới tin rằng có thể làm được những điều bất khả sao? Thật khó chịu và phiền phức.

Khi họ bỏ đi thật xa, thì với họ rốt cuộc họ cũng tìm lại được một ít thanh thản cho bản thân. Họ mong mỏi được một lần để lại hết mọi mệt mỏi sau lưng. Nhưng khi họ nằm gác chân lên nhìn trời và lại thấy sau tất cả mọi chuyện họ lại thấy mọi thứ rõ ràng hơn cả, thì cũng là lúc sự oán trách lại kéo đến. Sự rối loạn đâu chỉ ở những lúc phát điên, mà còn ở những lúc họ không hề điên. Những lúc họ nhẹ nhàng, thư thái, thong thả, không lo nghĩ, là những lần cơn bão tiếp theo đang âm thầm kéo đến.

Chủ trương của Đạo gia là từ bỏ ham muốn kiểm soát, và để cho thứ gọi là Đạo dẫn dắt. Để nhận ra Đạo cần phải dùng đến trực giác. Nhưng rối loạn tâm lý làm họ không phân biệt được sự khác nhau giữa trực giác và cảm xúc. Trực giác sẽ đưa ta đến gặp đại đạo, nhưng cảm xúc sẽ tiếm quyền của nó. Vì bị nhầm lẫn, nên thay vì để trực giác dẫn dắt họ sẽ để cảm xúc dẫn dắt. Nhưng nếu chấp nhận chuyện để cảm xúc bên trong dẫn dắt, thì cũng chấp nhận những gì nó đem tới. Nếu bên trong muốn đay nghiến người khác, let it be. Nếu bên trong muốn nuông chiều bản thân, let it be. Nếu bên trong là một nơi trống rỗng và khô khốc, let it be. Nếu bên trong đòi hỏi vô lý quá quắt, let it be. Họ chấp nhận chuyện đó không phải vì không biết chúng sai, mà bởi vì họ đã chấp nhận mình là một bông hoa chết. Nếu đã chấp nhận sống chung với lũ, thì lũ cuốn đến đâu họ sẽ trôi theo đến đấy.

Họ biết mình không xứng đáng được yêu, nên sẽ tìm cách để bảo vệ người đang yêu họ. Họ sẽ đẩy họ ra, bảo rằng họ nên lo cho bản thân mình trước. Ai mà nghe được chắc sẽ bò lăn ra mà cười. Vì nếu thực sự hiểu được sự biến hóa của Tự nhiên, thì sẽ nhận ra mình đang luẩn quẩn với chính bản thân mình thôi.

Như bất cứ ai không còn biết phải tin vào điều gì, họ cần một người đáng tin dẫn dắt. Người có thể làm họ an tâm phải là người có thể nói với họ câu sấm sét này:

Dỏng tai lên mà nghe cho rõ này: tào lao bí đao

Khi nào họ nhận ra được những suy nghĩ của mình là luẩn quẩn, nhận ra rằng những điều họ đang sợ là tào lao bí đao, nhận ra rằng mình không phải là một bông hoa chết, thì họ mới đến gặp được đại đạo.

*       *       *

Hãy thử viết lại bài này theo một cách khác.

Có một thí nghiệm như sau: người ta nhốt một con chó và cho nó bị giựt điện nhẹ. Ban đầu nó tìm mọi cách để thoát, nhưng vì bị nhốt nên nó đành chấp nhận. Sau đó, người ta để nó ra ngoài cùng với những con chó khác và làm lại thí nghiệm. Mặc dù lần này nó không khó khăn gì để thoát cả, và nó thấy rõ ràng là những con khác có thể thoát khỏi sự khó chịu đó, nó vẫn chấp nhận chịu đựng. Người ta phải tự tay đưa nó ra khỏi nơi bị giựt hai ba lần nó mới nhận ra là có thể thoát ra được thật. Con chó đã học được rằng nó sẽ luôn bất lực. Chính s bt lc hc đưc (learned helplessness) này làm nó không chịu thoát, dù nó biết là nó làm được. Clip này miêu tả khá hay vấn đề này:

Khi một người bất lực nhưng chưa nhận ra họ đang bất lực, thì họ vẫn còn cố gắng. Và nếu cố gắng có khi sẽ thành công. Nhưng khi họ đã chấp nhận mình bất lực rồi, thì không thể trông mong họ tự giúp đỡ bản thân nữa. Chỉ có người ngoài mới có thể giúp được họ, còn tự bản thân họ đã đánh mất khả năng giải quyết nó.

Nỗi sợ là một thứ có sức mạnh ghê gớm. Việc ngồi đây mà nói là họ phải tự vượt qua này nọ là chưa hiểu được cảm xúc của họ. Vì là người thông minh, nên họ thừa biết những biện minh họ đưa ra chỉ là triết lý suông. Bảo rằng họ không có ý định muốn thoát khỏi nó là một sự thiếu tôn trọng họ. Nếu có thể đảm bảo chắc chắn là họ sẽ cắt đứt được nỗi sợ, thì họ nhất định sẽ làm.

Nhưng chính vì nỗi sợ có sức mạnh ghê gớm, nên nó sẽ chi phối toàn bộ quan điểm sống của họ. Họ là những người không bao giờ bỏ cuộc, nhưng thế giới quan của họ đã được điều chỉnh cho phù hợp với nỗi sợ đó rồi. Họ rất muốn hết sợ, nhưng nếu không ai giải thích thuyết phục được tại sao thế giới quan đó lại sai, thì họ cũng không biết tại sao phải từ bỏ chúng cả.

Rắc rối là Đạo gia, với tư cách là một trường phái triết học cổ vũ sự trung dung, không có gì là đúng không có gì là sai, sẽ rất dễ bị uốn bởi những quan điểm cố định (fixated) như thế. Nếu ai đó muốn giúp họ hết sợ, người đó phải cho họ thấy những quan niệm đó là để kéo dài nỗi sợ, chứ không phải để hòa mình với Đạo. Đạo gia, từ chỗ là nơi để nhận ra rằng chẳng có gì trên đời là đáng sợ cả, lại rất hợp để dung dưỡng những nỗi sợ đó.

Lý do nó dễ bị uốn là vì cách tư duy của Đạo gia là cách tư duy dựa trên sự biến đổi nghĩa của từ. Chính vì khả năng biến đổi nghĩa của từ mà nó có thể chỉ ra khi nào tốt hóa thành xấu, và xấu hóa thành tốt. Nhưng nghĩa của từ chỉ biến đổi khi và chỉ khi có một điều kiện cụ thể nào đó. Vấn đề là, sau quá trình đảo nghĩa đó, quá trình chú ý và trí nhớ ngắn hạn bước vào, làm cái điều kiện cụ thể đáng lẽ phải có đó bị mờ đi, trả lại nghĩa của chúng về vị trí cũ. Nếu ai không hiểu được cơ chế này, thì sẽ còn nhầm lẫn trong việc thực hành Đạo gia, và những gì họ nói chỉ là confirmation bias và thought-terminating cliché.

Phần tiếp theo sẽ đưa ví dụ để bạn thấy rõ hơn thế nào là sự biến nghĩa của từ, thế nào là trả nghĩa về vị trí cũ, và liên hệ của nó tới một loại rối loạn tâm lý khó chữa nhất. Phần sau đó nữa sẽ nói về chuyện khi một bông hoa chết có hy vọng vào một mối quan hệ thì nó như thế nào. Cái này ít Đạo gia hơn, nhưng vẫn có liên quan. Mời các bạn đọc tiếp.

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Phản biện cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm

Lời mở đầu

Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.

Đã có vô số bài viết bày tỏ niềm yêu mến với cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm của ông Masanobu Fukuoka, mà bài viết Cuộc cách mạng một cọng rơm: cuốn sách lạ và quý của tác giả Nguyên Ngọc, đăng trên báo Người Đô Thị, là một đại diện cho những niềm yêu mến đó. Nhưng chỉ cần lướt qua vài review trên Goodreads, bạn sẽ thấy số ý kiến gay gắt phản đối sự cực đoan của ông ấy cũng không hề nhỏ. Và kỳ lạ hơn nữa, dường như hai bên đều không phủ nhận nhau. Bên phản đối thì không phủ nhận cái hay của nó, còn bên ủng hộ thì cũng không thấy nói là bên kia sai. Những người đứng giữa thì vừa khen vừa chê, chứ cũng không lý giải được tại sao một quan điểm hay như vậy lại thành ra cực đoan, kiêu ngạo.

Cũng như nhiều người trong số họ, tôi cũng bối rối. Một mặt tôi cũng muốn nếu có dịp cũng tự tạo một khu vườn như ông ấy. Mặt khác tôi thấy ông ấy như dựng bù nhìn rơm vào khoa học vậy. Tôi đọc cuốn này lúc nó mới xuất bản ở Việt Nam, và lúc đó tự nhủ là sau này sẽ nhất định làm một bài phản biện cho bằng được. Tôi nghĩ, những lời tán dương ông ấy cũng nghe nhiều rồi, những lời chỉ trích chắc còn nghe nhiều hơn. Nhưng cả hai đều không thể bằng được một lần thấy rằng mình đang nhầm lẫn một cách thỏa đáng. Cái mong muốn dài ba mươi, bốn mươi năm đó nên được đáp ứng một lần. Nên hôm nay tôi sẽ thử góp một chút lời cho chuyện đó.

Bài viết chia làm 3 phần:

  1. Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa
  2. Thứ ông ấy làm lại chính là khoa học đúng nghĩa
  3. Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Lưu ý: tác giả bài viết này chưa đọc về triết học trong khoa học, hay khoa học học. Lương tâm của tác giả bị cắn rứt khi nói những điều mình có thể chưa hiểu rõ. Nhưng có lẽ đây là lúc nên mạnh dạn dẹp sự xấu hổ đó qua một bên để làm điều cần thiết. Cứ tạm viết ra đã, rồi sau đó nhờ người có hiểu biết chỉnh sửa sau cũng không muộn.

Vị trí trong sách của những câu trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.

Ban đầu tôi đứng về phía phản đối để viết bài này, và nó chỉ có 3 phần trên. Sau khi đăng lên, tôi đã có dịp trò chuyện với người dịch cuốn sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều, và tôi phát triển chúng thành các phần sau:

  1. Lý do tại sao mọi người cảm thấy ông ấy thật cao ngạo
  2. Cái sai nghiêm trọng của các nhà khoa học mà ông ấy muốn cảnh tỉnh (nói theo cách các nhà khoa học đều thấy thỏa mãn)
  3. Cách để quay lại Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Bạn có thể đọc thẳng phần đó nếu thích, hoặc bấm Bắt đầu để đọc từ đầu đến cuối. Tôi hy vọng bài viết này sẽ làm cả hai bên cảm thấy thỏa mãn.

Phần 1: Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa

Ông Fukuoka nói:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến chỗ xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho. Người ta làm thế hết lần này đến lần khác. Giống như một gã ngốc dẫm đạp lên mái nhà mình làm vỡ hết ngói. Rồi khi trời bắt đầu mưa và trần nhà bắt đầu rữa ra, hắn mới vội vàng trèo lên chắp vá những chỗ hư hỏng, cuối cùng thì nhảy cẫng lên vui mừng vì mình đã hoàn thành một giải pháp phi thường.

Với nhà khoa học thì cũng tương tự như vậy. Ông ta mải mê đọc sách đêm ngày, căng hết cả mắt ra tới mức trở nên cận thị, mà nếu ta có hỏi ông ta làm cái gì trong suốt thời gian đó – thì đấy là để trở thành nhà phát minh ra kính cận. (19)

Cao Xuân Hạo có câu “Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề”. Vậy tại sao đến lúc mùa xuân tới rồi, thì lại quay sang nói con én là xa rời tự nhiên, là cưỡng cầu, là mắc dính? Việc làm ra kính cận là điều cần thiết, tại sao lại phải chê?

Cái ông ấy chê không phải là việc làm ra kính cận, mà là cái này:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa

Nhưng có thật là vậy không? Tất nhiên không nên chỉ hiểu là ông ấy chê những người làm ăn gian dối, vì lợi nhuận, mà là đang chê sự vô tình phân biệt phân biệt nhị nguyên trong tâm trí. Nhưng có thật là họ đang phân biệt nhị nguyên không? Và sự phân biệt đó có thật là đi ngược tự nhiên không?

Khoa học trong mắt ông ấy là thế này:

Đấy là bởi vì vai trò của khoa học gia trong xã hội cũng tương tự như vai trò của trí phân biệt trong tâm trí của chính chúng ta. (95)

Đó có vẻ không phải là hiểu biết chính xác về khoa học.

Khoa học, theo đúng nghĩa của nó, là phải có sự kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu như “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Với những câu không thể kiểm sai được như vậy, khoa học không quan tâm.

Xuyên suốt quyển sách, tôi không thấy một lời nào nói về tính kiểm sai đó cả. “Khoa học”, trong mắt ông ấy, chỉ là sự vô tình tách biệt khỏi tự nhiên, vô tình phá hoại nó bằng sự nhiệt tình. Ông ấy khẳng định thế này:

Hơn nữa, các nhà khoa học, bất kể họ nghiên cứu thiên nhiên bao nhiêu và bao xa, cuối cùng cũng chỉ đi đến nhận ra thiên nhiên hoàn hảo và bí ẩn tới mức nào. Tin rằng nhờ vào việc nghiên cứu và bằng phát kiến, nhân loại có thể tạo ra một cái gì đó tốt hơn cả tự nhiên là điều ảo tưởng. Tôi nghĩ rằng người ta đang gắng sức không vì lý do nào khác hơn là để biết được cái mà ta có thể gọi là sự ‘bất khả tư nghị’ về cái bao la của tự nhiên. (66)

Ông ấy nói rằng sau khi nghiên cứu thiên nhiên thì các nhà khoa học sẽ chỉ nhận ra rằng thiên nhiên bí ẩn và hoàn hảo. Liệu đó là điều khoa học nói, hay là điều ông ấy cho rằng khoa học nói? Ông ấy không một lần nào nhắc tới tính kiểm sai của khoa học, nhưng lại luôn khẳng định khoa học là phân biệt. Vậy việc dành cả đời mình chỉ để khẳng định với mọi người rằng khoa học là phân biệt liệu có phải là đang phân biệt không? Và rốt cuộc thì, liệu có thật sự là khoa học phân biệt không?

Ông ấy nói:

Một phương pháp kiểm nghiệm khoa học mà đưa được tất cả các yếu tố liên quan vào xem xét là điều bất khả thi. (46)

Cứ cho là như vậy đi, nhưng vậy rồi sao? Nếu người trong cuộc không phàn nàn gì về điều đó, vậy tại sao người ngoài cuộc phải phàn nàn giùm? Ngay từ đầu khoa học đã chẳng màng tới điều đó; thứ duy nhất nó quan tâm chỉ là việc lời nói ra có kiểm sai được hay không. Phân biệt hay không phân biệt, cặp mắt nào được việc hơn thì nó sẽ dùng. Ép nó phải dùng cặp mắt này mà không dùng cặp mắt kia, liệu có hơi thô bạo chăng?

Ông ấy hỏi học bằng tiến sĩ để làm gì (46). Để làm gì ư? Để không làm gì chứ còn để làm gì nữa? Để coi mình là một phần của tự nhiên. Để không phải sợ hãi những thứ không có thật. Để có thể nhân ái với nhau hơn. Liệu nói như thế có đúng ý ông ấy chăng?

Ông ấy nói:

Người ta nói rằng Einstein được trao giải Nobel vật lý là do độ khó hiểu của thuyết tương đối mà ông ta đưa ra. (95)

What? Ông ấy có đùa không? Câu này chỉ là câu nói đùa, vậy mà ông ấy xem nó như thật rồi dựa toàn bộ phê phán của mình lên trên câu nói ấy. Đáng ra ông ấy chỉ cần hỏi các nhà khoa học “này các anh, đây có phải là ý các anh muốn nói không”, thì lúc đó mọi hiểu lầm sẽ được giải quyết. Đành rằng vào thập niên 1970 thì khó mà email cho Einstein thiệt, nhưng quan trọng là ông ấy có suy nghĩ rằng nhỡ đâu mình đang nghĩ sai về Einstein hay không? Hay như chính lời ông ấy nói, cách làm không quan trọng, quan trọng là có nhận thức ra được không (31).

Không phải là ông ấy không đặt những câu hỏi như vậy. Nhưng sau khi hỏi, ông ấy lại nhảy ngay lập tức tới kết luận tiêu cực mà chưa thử tìm cách nghĩ ngược lại, chưa thử kiếm bằng chứng chống lại mình. Đây đâu phải là vượt lên trên suy nghĩ nhị nguyên; đây chỉ đơn giản là lỗi lập luận sơ đẳng mà thôi. Có vẻ như, các từ khoá như “hóa chất” hay “khoa học” sẽ luôn chặn đứng khả năng không phân biệt mà ông ấy vốn có.

Ông ấy nói:

Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. Tôi gần như biết về những điều sai sót có thể xảy ra khi trồng cây nông nghiệp nhiều hơn bất kỳ ai khác ở Nhật. Lần đầu thành công trong việc trồng lúa và ngũ cốc mùa đông bằng phương pháp vô canh, tôi cảm thấy vui sướng như Columbus hẳn đã cảm thấy khi ông tìm ra châu Mỹ. (34)

Vậy ông ấy vui sướng như Columbus, nhưng lại coi khinh Einstein. Ông ấy nói rằng “Thậm chí nếu chỉ gọi tên cây cối, một cây quýt thuộc họ cam quýt, một cây thông thuộc họ thông, thì tự nhiên đã không còn được thấy trong đúng nguyên bản của nó nữa” (24). Vậy nhưng ông ấy lại gọi Columbus là Columbus, gọi Einstein là Einstein. Chuyện đó có mâu thuẫn không? Hay là ông ấy chọn người này bỏ người kia để thuận tiện cho lập luận của mình?

Mà nói về chuyện vui sướng, thì người vui sướng nhất phải là Einstein mới đúng chứ? Ông ấy đến Mỹ là để trốn phát xít Đức cơ mà. Còn Columbus chỉ đang muốn đi đường tắt tới Ấn Độ thôi. Cảm giác khi đến châu Mỹ của Columbus chắc phải là chưng hửng mới đúng.

Quyển sách của ông ấy có bao nhiêu từ thì tôi đã thấy ông ấy phân biệt bấy nhiêu lần. Phân biệt giữa “ngũ cốc” và “đào hang”, giữa “đồng lúa cân bằng sinh thái” và “cộng đồng côn trùng và thực vật”. Ông ấy có thể bảo: “ừ thì chúng ta không thể thoát khỏi ngôn ngữ, nhưng ý của tôi là một thứ cao hơn”. Vậy thì ta cũng có thể nói ngược lại: “nếu chúng ta không thể thoát khỏi nó, thì đừng lảng tránh nó nữa, mà hãy đối diện với nó, đón chào nó như một người bạn”. Xem ra cũng chẳng khác biệt nhau là mấy.

Vậy tại sao một người dành cả tuổi trẻ hăng say để làm khoa học như ông ấy lại không hiểu gì về khoa học? Ông ấy cũng trả lời luôn:

Nhưng thực ra trong suốt tám năm đó, tôi ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên. Nền nông nghiệp hoá chất, sử dụng những sản phẩm của trí tuệ con người, đã được xem là siêu việt hơn. Câu hỏi luôn lởn vởn trong tâm trí tôi là liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không. (17)

Vậy là trong tám năm đó, ông ấy ngẫm nghĩ về “mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên”, chứ không phải là “bản chất của khoa học”. Thứ lởn vởn trong tâm trí ông ấy là “liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không”, chứ không phải là “khi nào thì một suy luận được xem là có cơ sở khoa học”, hay là “liệu tính kiểm sai có phải là phán quyết cuối cùng cho công cuộc hiểu biết tự nhiên hay không”. Chưa kể, ông ấy làm công việc khoa học, nhưng đầu óc không dành cho nó. Vậy thì cũng đâu thể gọi là hiểu được nó đâu?

Thật sự là các nhà khoa học không cần hiểu lắm bản chất của nó, chỉ cần nắm vững một số nguyên lý thực hành là có thể làm được. Có người là thầy, có người là thợ. Có những người thợ là thầy của những người khác. Có những người thầy là thợ của những người khác. Người làm trong một chuyên môn cụ thể không nhất thiết phải đọc triết học, đặc biệt là các ngành thực nghiệm như sinh học hay khoa học nông nghiệp. Ngay cả toán học cũng vậy. Người ta nói toán học như ngôi nhà được xây trên cát, vì nền tảng của nó đang có vô số lỗ hổng. Vậy nhưng các nhà toán học không quan tâm, mà outsource hết cho triết gia. Biết thì tốt, còn không biết thì cũng không quá nghiêm trọng. Bạn cũng đâu có một lần mảy may áy náy khi đọc những dòng này mà không biết cách hoạt động của chip máy tính đúng không?

Vì vậy, việc ông ấy làm khoa học mà không hiểu về bản chất của nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng không hiểu mà vẫn làm được là một chuyện, không hiểu mà phê phán người khác lại là chuyện khác.

Phần 2: Thứ ông ấy làm lại là khoa học đúng nghĩa

Ở phần 1 là chuyện ông ấy nghĩ gì về khoa học. Vậy còn chính những gì ông ấy làm thì sao?

Cách thông thường để phát triển một phương pháp là đặt câu hỏi “Thử cái này xem sao?” hoặc “Thử cái kia xem sao? […] Cách nghĩ của tôi là “Không làm điều này thì sao nhỉ? Không làm điều kia thì sao nhỉ?” (18)

Vậy, bằng đúng phương pháp của ông ấy, ta có thể hỏi: không làm nông nghip t nhiên thì sao nh? Và ta cũng sẽ có được kết quả tương tự: chẳng việc gì phải làm nông nghiệp tự nhiên cả. Cả làng ông ấy không ai làm nông nghiệp tự nhiên, nhưng mọi người vẫn vui vẻ hòa thuận với nhau. Đất đai cằn cỗi ư? Chẳng phải cằn cỗi và màu mỡ là một sao? Tại sao lại phân biệt giữa cằn cỗi và màu mỡ? Tại sao lại phân biệt giữa tự nhiên và hóa chất? Cho rằng làm đất đai cằn cỗi là xấu, dùng thuốc hóa học là có hại, vậy có phải là tâm phân biệt, suy nghĩ nhị nguyên hay không? Tại sao không xem chúng là món quà mà tự nhiên ban tặng?

Tại sao ông ấy lại nhất quyết cho rằng hóa chất là độc hại? Ta hãy tiếp tục lần theo những suy nghĩ của ông ấy:

Người ta không thể biết đâu là nguyên nhân thật sự của căn bệnh trên cây thông, cũng như không thể biết hệ quả sau rốt của cách “chữa trị” mà hđưa ra. Nếu can thiệp bừa vào tình huống này thì người ta chỉ gieo mầm mống cho đại hoạ kế tiếp. Không, tôi không thể vui mừng khi biết rằng sự thiệt hại tức thời do loài mọt này gây ra đã được giảm thiểu nhờ vào việc phun hoá chất. Sử dụng hoá chất nông nghiệp là phương pháp dớ dẩn nhất đđối phó với những vấn đề như thế này, và nó chỉ dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai. (29)

Vậy với ông ấy, “hóa chất” nghĩa là “can thiệp bừa”, là “gieo mầm mống cho đại họa kế tiếp”, là “dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai”. Nhưng nếu tôi nói rằng, loài tảo lam cũng tiết cyanotoxin một cách bừa bãi để hủy diệt hệ sinh thái địa phương thì sao? Vậy thật ra, loài người cũng chỉ đang học tập loài tảo lam vô tri vô giác đó thôi?

Ta cũng có thể hỏi tiếp: không nghĩ cách nghĩ ca ông y thì sao nh? Nếu ta cứ nghĩ như bình thường trước đây vẫn nghĩ thì sao? Lúc đó, ta sẽ nhận ra: thứ ông ấy đang phê phán là cứ làm việc theo quán tính mà không dừng lại để đánh giá, chứ không phải là bản thân chuyện đặt câu hỏi. Nếu trong câu hỏi của ta có tinh thần dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý, thì hỏi câu nào chẳng được?

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Lão Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, đặt nền móng cho triết học phương Tây. Và chính từ cái truyền thống triết học đó mà khoa học hình thành. Ông ấy nói là các nhà khoa học trước khi làm việc hãy trở thành triết gia (46), nhưng ông ấy quên rằng chính triết gia đã đẻ ra khoa học. Thật vậy, khoa học trước đây không được gọi là khoa học, mà được gọi là triết học tự nhiên. Chủ động thách thức những gì bản thân trước giờ vẫn nghĩ, chẳng phải là thấm đẫm trong cái nguyên tắc kiểm sai đó sao? Khoa hc không nói rng cái nào là đúng, cái nào là sai. Khoa hc ch cho phép ta không tin vào nhng gì nó nói. Vậy có phải, cái ông ấy làm cũng chính là tinh thần khoa học, mà ông ấy không nhận ra?

Sẽ thật là hồ đồ nếu vội kết luận như vậy, vì cho tới giờ vẫn chỉ là suy diễn. Ta hãy kiểm tra xem điều đó có đúng là như vậy không, bằng cách xem thế nào là làm theo phương pháp khoa học. Nó là một chuỗi tuần tự những bước sau: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Tất cả những bước này chính là cái nguyên lý thực hành đã nói ở phần 1. Nếu bạn làm chúng, thì dù bạn có để ý là bạn có đang làm nó hay không, công việc của bạn cũng sẽ được xem là có tính khoa học.

Tôi thấy, những bước thực hành khoa học ông ấy đều làm đủ cả:

Ông ấy đề ra giả thuyết:

  • Tôi tin rằng cây trồng tự chúng mọc và không cần phải chăm sóc. (17)
  • Ý tưởng là không diệt cỏ ba lá mà chỉ làm chúng yếu đi để những cây mạ mọc vững trước đã. (35)
  • Những năm gần đây, tôi đang thử phát triển một giống lúa nếp cổ từ miền Nam. […] Tôi tin rằng với giống lúa này, một ngày nào đó tôi có thể gặt hái được sản lượng gần chạm tới ngưỡng tối đa về mặt lý thuyết có thể có, căn cứ trên năng lượng mặt trời đổ xuống cánh đồng. (36)

Ông ấy làm thí nghiệm nhiều lần để kiểm định giả thuyết. Sau khi thí nghiệm thì phân tích kết quả và loại bỏ giả thuyết sai:

  • Trong quá trình đi đến được câu trả lời, tôi đã cho 400 cây nữa đi tong. Cuối cùng thì tôi cảm thấy mình đã có thể nói một cách chắc chắn: “Đây chính là hình thái tự nhiên.” (18)
  • Trong hai mươi, ba mươi năm qua, phương pháp trồng lúa gạo và ngũ cốc mùa đông này đã được kiểm nghiệm trên diện rộng với nhiều kiểu thời tiết và điều kiện tự nhiên khác nhau. (22)
  • Tôi đã từng dùng cách thả hạt vào những lỗ nhỏ trên đất, hoặc vào những rãnh đất mà không phủ đất lên, nhưng tôi đều thất bại nhiều lần với cả hai phương pháp này. (33)
  • Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. (34)

Ông ấy có sự kế thừa kiến thc/có trích dẫn nghiên cứu của người khác:

  • Gần đây, tôi có trao đổi về điều này với Giáo sư Iinuma ở Đại học Kyoto. Một nghìn năm trước, nông nghiệp được thực hành tại Nhật mà không có chuyện cày ruộng, và phải đến tận triều đại Tokugawa – khoảng 300-400 năm trước – thì việc cày xới sơ sơ một lớp mỏng trên bề mặt mới được đưa vào. (20)
  • Bệnh mọt ăn cây này, theo các nghiên cứu gần đây nhất không phải là lây nhiễm trực tiếp, mà xuất hiện theo sau hoạt động của loài giun tròn trung gian (28)

Giả thuyết sau khi được sàng lọc có tính tiên đoán và kim sai:

  • Ngay cả giống cỏ khó chịu như cỏ mần trầu, vấn đề khó khăn nhất gặp phải trong phương pháp không cày xới, cũng có thể kiểm soát được. (33)
  • Vào đầu tháng tám, khi những cây lúa trên ruộng của láng giềng đã cao ngang lưng, thì trên ruộng của tôi, chúng chỉ cao bằng một nửa. Tầm cuối tháng bảy, những người tới thăm ruộng luôn tỏ ra hoài nghi và hỏi: “Tiên sinh Fukuoka à, chỗ lúa này liệu có nên cơm cháo gì không?” “Chắc chứ,” tôi trả lời: “Không cần phải lo.” (35)
  • Một trong những giống cây thú vị nhất, dù chẳng phải cây bản địa, là cây keo Morishima. […] Nó giúp phòng tránh côn trùng phá hoại trong vườn, đóng vai trò chắn gió và loại vi khuẩn rhizobium sống trong rễ của nó làm màu mỡ thêm cho đất. (39)

Nểu giở mục lục cuốn sách ra, ta sẽ thấy ông ấy phân chia công việc làm nông rất ngăn nắp: cách cày xới đất, cách dùng phân bón, cách sử dụng rơm, cách trồng cây ăn quả, cách đối phó với sâu bệnh, cách ăn uống cân bằng, v.v. Hay trong một phần nhỏ như làm rơm, ông ấy lại tiếp tục chia ra thành: rải rơm còn nguyên chất, rơm làm màu mỡ đất, không cần chuẩn bị phân ủ, nảy mầm, v.v.  Bố cục cuốn sách rất rõ ràng, vậy không thể nói là ông ấy đang không chẻ nhỏ cái tổng thể thành những cái riêng lẻ được.

Tất cả những bước này đều vô cùng quan trọng để ông ấy đạt được mục đích của mình. Vậy có thể khẳng định, thứ gì ông ấy làm chính là khoa học đúng nghĩa.

Phần 3: Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Ta hãy nói về sự tham lam. Cách đây vài tuần tôi có dịp đến Sun World Phú Quốc. Phải nói là chán. Hay nói như Thế Lữ thì là thế này:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nhưng trên đường đi đến đó tôi phải đi cáp treo qua biển. Và cảnh tượng phía dưới là tuyệt đẹp. Lúc đó là sau bão nên biển động, nước đánh mạnh vào các bãi đá ở dưới. Khi sóng rút, bọt trắng len lỏi giữa các rãnh đá, khá vuông vắn chứ không lộn xộn như bình thường. Tra ra thì đó có vẻ là cát kết xen lẫn cuội kết, hình thành từ kỷ Jura. Nghĩa là thứ đang ở trước mắt tôi đây đã có từ thời bọn khủng long còn sinh sống.

Tôi tự hỏi, không biết là có bao nhiêu con người chấp nhận bị nói là tham lam, để tôi có thể thấy được một cảnh đẹp đến thế. Những người ở cấp lãnh đạo thừa biết xây ra sẽ bị chỉ trích, nhưng họ vẫn mặc kệ dư luận để tiếp tục xây dựng. Họ cứ việc mình mình làm, không cần sự ủng hộ của người khác. Vậy chẳng phải là họ đang như con én đưa thoi mà không màng xem mùa xuân có đến hay không ư?

Họ tham lam, vậy đó là điều tốt. Ta nên ủng hộ sự tham lam của họ, tìm cách để giúp họ trở nên tham lam hơn. Hoặc hay hơn, là tham lam cùng với họ, trở thành một người tham lam hệt như họ. Nhưng có lẽ hay nhất, là từ đầu là một người tham lam. Tham lam tột cùng. Có thể làm được điều đó, thì ta mới thật sự không còn tham lam. Cứ tham lam đi, rồi những điều bất ngờ sẽ đến.

Đó là nói theo kiểu Lão, khi cứ khù khờ, không hay biết gì cả, sống cho riêng mình. Còn nói theo kiểu Phật, là từ bi hỷ xả. Một người cố gắng làm bánh mì ngon có thể làm bánh mì ngon biến mất. Nhưng nếu nhờ có nó mà con của họ hào hứng học tập, còn bản thân họ thấy cuộc sống có ý nghĩa, thì lúc đó bánh mì ngon có mất không? Khi cái mong muốn không phải là để thỏa mãn ham muốn bản thân, mà là để đạt được một góc nhìn cao hơn, rộng hơn, để đặt mình vào góc nhìn của người khác, thì ta đâu phải lo họ tham lam?

Điều gì khiến con én không dính chấp vào mùa xuân, nếu không phải là sự từ bi? Tôi nghĩ, nếu người dù phân biệt đến mấy có tâm từ bi, thì hành động của họ chẳng còn phân biệt gì nữa. Và ngược lại, nếu thấy một người khác đang phân biệt, thì hãy từ bi với họ mà phân biệt cùng họ. Dám biến mình thành người phân biệt là phép thử tốt nhất cho sự không phân biệt của chúng ta.

Sự từ bi sẽ phi-phân-biệt-hóa mọi suy nghĩ phân biệt. Nhờ có nó, ta có thể làm mà như không làm, ngồi im như tượng phỗng bằng cách chạy nhảy lung tung. Người vô dụng tham lam ở chỗ không phải vì họ không làm gì có ích, mà ở chỗ họ không giải thích cho người ngoài hiểu được chuyện mình đang làm. Người ngoài không hiểu thì không phải là lỗi của họ, nhưng bản thân người vô dụng lại để sự hiểu lầm tiếp tục xảy ra. Sự hiểu lầm đó làm gia tăng stress ở người ngoài, mà chỉ có sự giải thích của người vô dụng thì căng thẳng đó mới được giải tỏa.

Điều đó đòi hỏi người giác ngộ phải có khả năng tư duy trong sự trống rỗng. Tôi cho rằng các vị đã giác ngộ vẫn đang loay hoay không biết cách nào để chỉ ra được – một cách dễ hiểu và trực quan – cách để làm như thế.  Vì để giải thích cái ý trống rỗng còn chưa xong, thì thời gian đâu để giải thích cái ý thõng tay vào chợ? Tôi nghĩ rằng ông Fukuoka cũng đang loay hoay cho việc đó. Nếu không thì ông ấy đã chẳng hay nổi giận khi người khác không hiểu rồi. Vì người ta chỉ nổi giận khi họ thấy rối bời và bất lực.

Khoa học sẽ giúp ông ấy hết loay hoay. Hay nói đúng hơn, mọi suy nghĩ phân biệt sẽ giúp cho sự từ bi và trống rỗng đạt hiệu quả cao. Nếu có cả hai yếu tố này, thì một cuộc cách mạng rơm là hoàn toàn trong tầm tay.

Kết luận

Cái từ “khoa học” đó đã bị biến nghĩa rồi. Thứ ông ấy nói không phải là khoa học đúng nghĩa. Nhưng thứ ông ấy làm, từ đầu chí cuối, lại là khoa học đúng nghĩa. Nghĩa là ông ấy nói một đằng làm một nẻo.

Ông ấy có thể đã giác ngộ, có thể là người vô vi. Ông ấy cũng là một chuyên gia nông nghiệp giỏi, có tầm nhìn xa. Nhưng khi nói về bản chất của khoa học, có lẽ ông ấy chưa hiểu đủ về nó. Mà nói về một thứ mà mình không hiểu gì, thì có lẽ đó không phải là tinh thần của thiền. Nhưng làm một thứ mà mình còn không nghĩ là mình đang làm nó, thì lại là tinh thần vô vi.

Đọc lại từ đầu

Đọc tiếp

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Bài liên quan

Tranh luận hiền hòa

Mọi người cũng biết, tranh luận là tốt. Ai tham gia tranh luận cũng mong suy nghĩ của mình giúp ích được cho người khác, chứ không mong áp đặt người khác phải theo ý mình…

Tranh luận hiền hòa

Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi. Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”…

Niềm vui hiểu Đạo