EUPD: xem thêm

Cái tên “ranh giới – borderline” là do ngày xưa người ta tưởng nó là bệnh nằm ở giữa loạn thần kinh chức năng (neurosis) và loạn tâm thần (psychosis), rồi từ đó bị kẹt lại cho tới bây giờ. Mình ủng hộ việc gọi tên cho đúng, nên gọi chính xác là rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định (emotional unstable personality disorder).

Một số nguồn tài liệu để bạn có thể hiểu rõ hơn bệnh này:

  • Sách: Kreisman, I Hate You, Don’t Leave Me: Understanding the Borderline Personality
  • Video ngắn: Borderline Personality Disorder (2017)

Về phương pháp trị liệu hiệu quả nhất là liệu pháp hành vi biện chứng (dialectical behavior therapy). Bạn có thể xem thêm các clip minh họa sau:

Liệu pháp này sử dụng chánh niệm và từ bi của Phật giáo làm nòng cốt.

Tranh luận hiền hòa

Mọi người cũng biết, tranh luận là tốt. Ai tham gia tranh luận cũng mong suy nghĩ của mình giúp ích được cho người khác, chứ không mong áp đặt người khác phải theo ý mình. Tuy nhiên, nói thì dễ làm mới khó, nhiều khi muốn tự soi chiếu mình mà cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Vì vậy, mình xin trình bày một số “cơ sở lý thuyết” mình góp nhặt được mấy năm qua để việc tự soi chiếu bản thân dễ dàng hơn. Chúng là các khái niệm trong tâm lý học xã hội và tâm lý học nhận thức.

Những rào cản có thể xảy ra khi tranh luận

  • Naïve realism: xu hướng tin rằng ta khách quan và không thiên kiến, và thấy những ai bất đồng với mình là chưa hiểu rõ vấn đề hoặc phi lý. Cái này rất hay, vì khi ta tranh luận, một điều cơ bản là cả hai phải ngầm định rằng mình sẽ đạt đến sự thống nhất. Naïve realism được xem như là một trong bốn khám phá quan trọng nhất trong ngành tâm lý học xã hội.
  • Egocentrism: không nhận ra là cái mình nhìn khác với cái người khác nhìn; đánh đồng góc nhìn của người khác với góc nhìn của mình. Cái này khác với ái kỷ (egotism)
  • Illusion of transparency: luôn nghĩ rằng những thứ mình nói ra người khác sẽ hiểu hệt như mình. Có một thí nghiệm thế này: người tham dự sẽ được chia thành 2 nhóm: người gõ và người nghe. Nhiệm vụ của người gõ là sẽ chọn ra một bài hát bất kỳ và gõ nhịp của nó lên bàn. Nhiệm vụ của người nghe là đoán bài hát đó. Khi người gõ được hỏi là người nghe sẽ đoán trúng được bao nhiêu, họ đoán khoảng 50%. Thật ra tỉ lệ đoán trúng chỉ khoảng 3%.
  • Self-conscious emotions: những cảm xúc được sinh ra khi ta có ý thức về bản thân, như xấu hổ, mặc cảm, tội lỗi, ghen tị, kiêu hãnh, v.v. Trong đó kiêu hãnh/tự hào (pride) có lẽ là thứ khó chịu nhất.
  • Thought-terminating cliché: những câu nghe thì hay, cũng khá thuyết phục, nhưng bên trong chỉ là sáo rỗng, không giúp ích được gì cả. Chúng làm người nghe thêm ức chế, vì dù có thể dùng chúng để tạm xoa dịu vấn đề, nhưng không giúp họ xử lý được những vấn đề tương tự trong tương lai. Bản thân người nói cũng sẽ không thể áp dụng được khi chính họ gặp vấn đề. Ví dụ như “đời là thế, chịu thôi”, “hãy để tâm trí được cởi mở hơn”, hay “mỗi người mỗi ý”, v.v.

Những thứ có thể làm khi tranh luận

  • Socratic questioning: giả ngu và đặt câu hỏi mà ai cũng biết câu trả lời. Vì khi người được hỏi bị buộc phải trả lời những câu hỏi ngu ngu đó, thì họ mới tự nhận ra được vấn đề mình mắc kẹt là gì.
  • Assume good faith/Presumption of innocence/Suspension of judgment: ngay cả khi rõ mười mươi là họ đang có ý xấu, thì mình vẫn luôn tìm ra được điểm tốt trong đó, và giúp họ làm việc tốt đó. Còn những cái xấu họ làm thì đơn giản là phớt lờ. Vì khi họ làm vậy, thì họ đang mong mình phản ứng lại. Nhưng nếu mình không phản ứng lại, thì họ mới không làm điều đó nữa.
  • Perspective-taking: đặt mình vào góc nhìn của người khác (làm được điều này thì sẽ được xem là trưởng thành :P)

Tất cả những khái niệm này có thể được thực hiện thông qua một hành động duy nhất: tò mò.

Những thứ làm ta không thể làm những thứ trên

Đó chính là sự chú ý (attention). Vì ta chỉ có thể chú ý vào một thông tin trong một thời điểm, nên nếu ta đang vướng bận một cái gì đó, thì có muốn cũng không thể tập trung vào cái khác được. Mà nếu không thể tập trung vào chuyện của người khác, thì làm sao mà chấp nhận nhau?

Ngoài ra, trí nhớ (memory) cũng đóng vai trò quan trọng. Vì để có thể đặt mình vào vị trí của người khác, thì sẽ phải nhớ nhiều chi tiết, không chỉ của mình mà còn cả của người kia. Mà nhớ chuyện của mình còn không xong, thì cũng khó mà nhớ chuyện của người kia. Nhưng có nhớ chuyện của người kia, thì mới có thể đặt mình vào vị trí của họ được.

Đó là chưa kể, dù mình có thể vượt qua được tất cả những vấn đề này, thì sẽ tới lượt người kia cũng sẽ gặp phải chúng. Chừng nào một trong hai người còn chưa giải quyết hết được, thì sẽ còn hiểu nhầm ý của nhau. Và như vậy thì rất mệt.

Nhưng nếu có thể sắp xếp để vượt qua được những rào cản đó, thì việc dĩ hòa vi quý mà vẫn tôn trọng sự thật là điều nằm trong tầm tay.

Rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định

Một đứa trẻ trong quá trình hình thành nhân cách cần một sự ổn định, và gia đình là nguồn cung cấp gần như duy nhất sự ổn định đó. (Trưởng thành là khi đã đủ sự vững vàng để đối diện với thế giới xung quanh đầy biến động, chứ không phải đủ 18 tuổi. Đủ khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật không có nghĩa là đủ khả năng chịu trách nhiệm với chính bản thân.) Nếu bản thân gia đình không thể cung cấp sự ổn định đó, nhân cách của nó rất dễ bị rối loạn.

Tùy vào trường hợp cụ thể mà sẽ có những rối loạn khác nhau, một trong số đó là rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định (thường được gọi là rối loạn nhân cách ranh giới – borderline personality disorder – BPD). Những trận giận dữ vô lý phải chịu đựng từ thuở bé làm cho con mắt của họ bị méo mó, và trái tim thì luôn mù mờ. Họ là những đứa trẻ bị mắc kẹt trong thân xác người lớn. Họ thường thiếu một cái tôi rõ ràng. Họ sợ bị bỏ rơi khủng khiếp. Cảm xúc của họ luôn bị đẩy lên thái quá nhưng lại nhanh đổi chóng tàn, và thường tuôn ra những điều thóa mạ không kiểm soát nổi.

Vì thiếu một cái tôi nên họ luôn mượn môi trường xung quanh làm cái tôi của mình. Họ có thể rất sắc sảo và khéo léo, nhưng lại không thể chịu được một chút áp lực, dù là những việc ban đầu rất hào hứng. Họ có khả năng nhìn người thiên phú, nhưng lại mắc kẹt trong thiên kiến chủ quan, không thể dung hòa tốt xấu vào làm một. Với họ, chỉ có cảm xúc là đúng nhất, dù người bình thường chắc chắn sẽ cảm thấy có gì đó không lành mạnh trong đó.

Cũng vì để lấp đầy sự trống rỗng ấy, họ luôn tìm kiếm một người hoàn hảo. Họ sẽ tiến đến rất nhanh, nhanh chóng thể hiện sự yếu đuối của mình để kích hoạt sự che chở của đối phương, nhưng cùng lúc là kiểm soát và điều khiển họ. Người có tính cách độc tài, ái kỷ sẽ cho họ cảm giác về sự rõ ràng, còn người hay quan tâm lo lắng cho người khác sẽ luôn gác lại nhu cầu bản thân, nên những người này đặc biệt thu hút họ (và bị họ thu hút). Những lời hứa hẹn sẽ bị họ quên sạch, nhưng lại là gánh nặng cho người yêu họ. Ngoại tình cũng là chuyện thường gặp.

Họ như một người bị bỏng nặng, chỉ cần chạm nhẹ thôi là đã gào lên đau đớn. Nếu có ai có vẻ hiểu được họ, họ sẽ đẩy người đó ra để không phải chịu cảnh bỏ rơi. Đôi khi làm đủ mọi trò điên cuồng, tự tổn thương bản thân, thậm chí tự tử, là cách duy nhất để họ cảm thấy mình không phải là cái gì đó trống rỗng, và rằng mình vẫn còn được quan tâm. Sẽ có những lúc họ đòi hỏi rất nhiều thứ, nhưng rồi đột nhiên họ lại chẳng thiết tha với điều gì cả.

*     *     *

Trong tiếng Anh có câu “turn over a new leaf”, nghĩa là bỏ lại quá khứ sau lưng và khởi đầu một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Ngày nào với họ cũng là một chiếc lá mới.

*     *     *

Khi một làn khói bắt đầu rời khỏi ngọn lửa, đầu tiên nó vẫn giữ được sự ổn định của nó. Nhưng chỉ cần một nhiễu loạn rất nhỏ, làn khói sẽ trở nên hỗn loạn không thể kiểm soát. Các luồng xoáy sẽ được sinh ra để phát tán sức nóng ra bên ngoài thật nhanh, chúng cuộn rối vào nhau và làm cho năng lượng càng lúc càng bị mất. Và sau khi đã cạn kiệt năng lượng rồi, chúng sẽ tan vào môi trường xung quanh và không để lại tăm tích gì nữa.

Xem thêm

Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi.

Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”. Nhưng nếu ta tra vấn lại mối quan hệ ngữ nghĩa đó, thì nghĩa của “nóng” và “lạnh” sẽ thay đổi. Khi nghĩa này thay đổi, thì góc nhìn của ta cũng sẽ thay đổi theo. Tương tự với lập luận “ngựa trắng không phải là ngựa”. Khi Công Tôn Long tra vấn lại mối quan hệ giữa “ngựa” và “ngựa trắng”, lật lại cái ngầm định rằng ngựa trắng là ngựa, thì nghĩa của hai từ nay đã bị biến đổi. (Ta cũng có thể nói là nghĩa của từ “là” bị thay đổi cũng được.)

Điều này khác với trò chơi ngôn ngữ của Derrida. Ở đây vẫn là chuyện các từ có nghĩa, và góc nhìn của chủ thể được hình thành bởi nghĩa của từ (the perspective is created by word’s meaning).

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Trang Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, cơ sở của việc dạy học và trị liệu tâm lý hiện đại. Nên tôi nghĩ khi ta tra vấn những thứ ta ngầm định, nghĩa của từ bị biến đổi, và góc nhìn của bản thân cũng thay đổi theo (challenging assumption = meaning shifting = perspective changing).

Vì bản chất của ngôn ngữ là nghĩa luôn thay đổi, nếu nhận ra được điều đó thì ta có thể thoải mái dùng ngôn ngữ mà không sợ nó trói buộc mình nữa. Nói như nhà Phật thì là không còn chấp niệm nữa. Lúc đó thì những giận dữ, sợ hãi, kiêu ngạo do bị cố định vào một ý niệm không còn nữa, mà chắc chỉ ngồi nghệch mặt ra cười vì thấy một góc nhìn khác. Khi ta có thể tra vấn lại những thứ ta luôn tin là đúng, thì có khi thấy rằng nhiều khi cái mình cho là sai lại không sai nữa. Nếu sai lại hóa thành không sai, thì thật và ảo sẽ thành một. Nên tôi nghĩ khi Lão Tử nói “danh khả danh phi thường danh”, ông ấy đang nói rằng các từ luôn biến đổi nghĩa không ngừng.

Cũng vì luôn tạo ra được nét nghĩa mới của từ, mà ta sẽ luôn lách vào được những chỗ khó khăn để xử lý. Tôi nghĩ, nói ra bản chất của một thứ gì đó rất dễ, chứ không phải là bất khả đắc, bất khả tư nghị. Ví dụ, ta biết rằng vị chua của cam, quýt và chanh rất khác nhau, nhưng ta chỉ có thể diễn tả chung chung là chua, chứ không nói được gì hơn. Nhưng đó là do kiến thức ngầm rất khó để nói ra mà thôi. Nếu là một nhà nghiên cứu về tính acid của các cây họ cam, họ có thể nói ra được sự khác nhau đó mà vẫn súc tích dễ hiểu. Làm được những điều tưởng như bất khả một cách dễ dàng mới chính là tinh thần vô vi.

Để hiểu cụ thể hơn chuyện đó được xử lý thế nào, xin xem:
  1. Making concrete analogy and big picture
  2. Connections between cognitive linguistics, cognitive psychology, Buddhism and Daoism

Đạo gia với sự học

Năm mầu khiến người mù mắt.
Năm giọng khiến người điếc tai.
Năm mùi khiến người tê lưỡi.
Sải ngựa săn bắn,
Khiến lòng người hoá cuồng.

Đạo gia thường không đề cao kiến thức, vì cho rằng nó làm ta mù mắt, mù tai. Thật ra tôi nghĩ nó lại rất đề cao hiểu biết, chỉ là do vào ngày xưa thì không biết phải diễn tả nó ra sao mà thôi. Cái mù mắt, mù tai đơn giản là hiện tượng mồi (priming). Bạn có thể xem một thí nghiệm về nó ở đây.

Tuy vậy, vẫn có một điều gì đó bí ẩn mà ngay đến cả các học giả nghiên cứu Đạo gia cũng cảm thấy là họ sẽ không bao giờ làm vừa lòng được Trang Tử. Điều này được thể hiện rõ qua bài viết của Alan Jay Levinovitz, Trang Tử: Ngôi nhà cười của tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul):

Mỗi khi nói về Trang Tử, tôi đều cảm thấy không thoải mái, hệt như việc tôi thấy việc đoán ý của bạn mình rồi thay họ nói luôn không được hay cho lắm. Và không phải chỉ có mình tôi là thấy vậy. […] Thầy Trang […] có vẻ đã thiết kế công trình của mình sao cho mọi nỗ lực diễn giải nó đều bị kháng lại. […] Nhà Hán học và dịch giả Burton Watson đã tóm được cái cảm giác này như sau: “Mỗi khi tôi ngồi xuống và cố viết một cái gì đó thật nghiêm túc về Trang Tử, tôi thấy, ở đâu đó phía sau trong đầu mình, Trang Tử đang cười khùng khục với những nỗ lực khiên cưỡng và vô dụng như thế”

Thử hỏi, một người xem Trang Tử là bạn, mà nói cái gì cũng bị cười, thì còn làm gì được nữa?

Trước khi đi tiếp, ta hãy nhắc lại xem Đạo là gì. Theo như tác giả Edward Slingerland trong cuốn Vô vi như là mt n d khái nim và lý tưng tinh thn thi Chiến Quc (Effortless Action: Wu-wei as Conceptual Metaphor and Spiritual Ideal in Early China), thì với những nhà tư tưởng Trung Quôc thời đó:

Sự tích lũy kiến thức không được hiểu theo kiểu nắm bắt quy luật trừu tượng, mà bằng khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng (hòa hợp được với Đạo).

The culmination of knowledge is understood not in terms of a grasp of abstract principles but rather as an ability to move through the world and human society in a manner that is completely spontaneous and yet still fully in harmony with the normative order of the natural and human worlds—the Dao or “Way.”

Thế nào là “đi lại giữa thế giới”? Lấy ví dụ, bạn thấy nhà cháy to, và bạn cứ xông vào mà cứu người. Điều đó rất nguy hiểm, vì bạn không có đồ bảo hộ, cũng không được huấn luyện như lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nhờ trước đó bạn đã biết sơ về nguyên lý cứu người khi xảy ra hỏa hoạn (bò dưới sàn vì khi khói bay ở trên sẽ chừa không khí giàu oxy ở dưới, dùng khăn tẩm nước bịt mũi), mà đt nhiên ni s ca bn biến mt. Từ việc lửa, khói là một thứ nguy hiểm, chúng giờ chỉ là một trở ngại nhỏ đến mục tiêu của bạn, thậm chí là nơi bạn cảm thấy thân thuộc và an toàn, và bạn “move through the world”.

Tuy nhiên, để có thể đạt được sự tự phát mà vẫn hòa hợp được với mọi thứ đó, không thể không học hành nghiêm chỉnh. Đây đơn giản là cách bộ não hoạt động. Mà cách bộ não hoạt động cũng chính là một quy luật khách quan. Nếu ta đòi phải bỏ qua bước này, thì cái cảm giác hòa hợp với tự nhiên đó chỉ là cảm giác khoái chí vì mình hiểu được thứ mà người khác không hiểu. Nó sẽ bồi đắp cho sự tự tôn của mình, và điều này rất nguy hiểm, vì nó là thứ Đạo giáo cố gắng loại bỏ.

Nói gì thì nói, đã gọi là giả định ngầm thì không phải cứ muốn lật lại là sẽ lật được. Phải suy tư, phải học hành thì mới làm được. Và người học cũng không cảm thấy gò bó gì ở đó mà chỉ thấy vui khi mình có khả năng đi lại giữa thế giới một cách tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của nó. Nghĩa là họ đang vô vi.

Nên quay lại chuyện Trang Tử cười khùng khục, nếu Trang Tử cười những lúc người khác đang tập trung nghiêm túc, thì đơn gin là Trang T sai. Cố gắng làm vừa lòng Trang Tử chỉ càng làm cho Trang Tử thấy mình vẫn còn đang mắc kẹt. Cách tốt nhất là pht lờ và tiếp tc vic đang làm. Hoặc thậm chí là cưi ngưc li Trang T. Chỉ có như vậy mới làm Trang Tử cảm thấy hài lòng. Đó là câu trả lời mà Trang Tử mong ta nhận ra.