Tại sao lại cần dùng lời để nói về Đạo?

Hãy bắt đầu bằng quan điểm “đúng với sai là một” (hay “thiện với ác là như nhau”). Quan điểm này phải được hiểu là “cái mình nghĩ là đúng cũng có thể là sai. Cái người khác làm sai lại có thể là đúng”. (Nói theo tâm lý học hiện đại thì đây chính là naïve realism.) Nhưng nó tuyệt nhiên không phải là cho rằng đúng với sai có giá trị ngang nhau. Nếu bảo là thiện với ác là ngang nhau, thì khác nào nói tham sân si ngang bằng với từ bi hỷ xả? 

Như vậy, ý nói “đúng với sai là một” có hai cách hiểu sau: 

  1. Cái mình nghĩ là đúng cũng có thể là sai. Cái mình nghĩ sai lại có thể là đúng 
  2. Đúng và sai có giá trị ngang nhau về mặt logic. Làm sai cũng có nghĩa là làm đúng 

Và hai cách hiểu này hoàn toàn đối nghịch nhau. Nghĩa thứ nhất chính là Đạo chân chính, còn nghĩa thứ hai lại là kẻ thù của Đạo. Nhưng vì cả hai đều cùng có một lớp vỏ đúng với sai là một, nên sẽ gây lẫn lộn trong việc thực hành. Đây là hai ý đồng âm khác nghĩa. Để tránh lẫn lộn, cần phải hiển ngôn được ý đó ra. Tức là, ta cần phải dùng lời để nói về Đạo.  

Tại sao chuyện này lại xảy ra? Sau khi đi đến kết luận cái ta nghĩ là đúng cũng có thể sai, ý đó sẽ được rút gọn lại thành đúng với sai là một, và sẽ giữ lại cấu trúc đó. Nhưng tại sao lại cần rút gọn như vậy? Vì trí nhớ ngắn hạn của chúng ta chỉ giữ được 3 đến 4 thông tin cùng lúc. Để có thể xử lý các thông tin tiếp theo dựa trên framework này, não sẽ cần bỏ bớt một vài thông tin trong câu cho trống chỗ. Vì đúngsai có trọng lượng lớn hơn cái mình nghĩ, nên cái mình nghĩ sẽ được lược bỏ, và đúngsai sẽ được giữ lại cho lập luận kế tiếp. Nói cách khác, ý 1 đã được biến đổi thành đúng với sai là một để phù hợp với việc lưu trữ trong não.  

Nhưng rắc rối ở chỗ lược bỏ cái mình nghĩ sẽ khiến cho đúngsai không còn nghĩa là đúng sai trong góc nhìn của bản thân, mà là đúng sai về mặt logic. Nên khi lớp vỏ ấy được lấy ra lại, nó đã bị biến nghĩa thành đúng và sai có giá trị ngang nhau.

Như vậy, mỗi lần ta sử dụng đúng với sai là một, ta phải luôn có ý thức rằng nó chỉ đúng khi nói về thái độ của ta khi sử dụng logic, chứ không phải bản thân logic. Nếu không thì sẽ hiểu sai. 

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta hiểu theo ý 2? Lúc đó những lời ta nói chỉ là sáo rỗng, và những câu như “Đạo khả đạo phi thường đạo” chỉ là một sáo ngữ chặn họng (thought-terminating cliché) không hơn không kém. Còn không thì nó chỉ là cái cớ để nuông chiều bản thân. Nó chẳng khác gì cái status này cả: 

Däu biét rang cäng än lai cäng béo nén dän löng cäng béo lai cäng Xinh*

Cái tiền đề rằng Đạo là một thứ gì đó nằm ngoài khả năng nhận thức của con người hoàn toàn hợp lý, và tôi hoàn toàn tôn trọng quan điểm này. Nhưng tôi cho rằng cái khoảnh khắc ta quyết định không nói gì về Đạo nữa chính là cái khoảnh khắc ta chấp nhận trở thành nạn nhân của thiên kiến xác nhận. Nếu ta chỉ hoài nghi bản thân cách hời hợt, cho có lệ, và tin vào trực giác của mình một cách mù quáng, thì ta đã không còn để cho Đạo dẫn dắt nữa. Đặc biệt là khi nó rơi vào tay của những người có rối loạn tâm lý: sự cộng hưởng của hai cái này còn khủng khiếp đến bao nhiêu. 

Qua trải nghiệm cá nhân của tôi với những người học Phật hoặc Lão, hầu như tất cả đều chưa làm tới nơi tới chốn việc hoài nghi hiểu biết của mình. Và đó đều là những người hiểu biết rất rộng, nhiều năm thực hành, thậm chí có người còn có minh sư hướng dẫn. Phải nói là khá thất vọng khi thấy họ không làm những gì họ nói.  

Rắc rối 1: Bị nói là không biết tôn trọng sự khó chịu của họ

Ai đọc Naruto rồi thì có thể lấy hình ảnh Naruto cố gắng thuyết phục Sasuke quay về làm ví dụ cũng được.

Vì cũng giống như bạn, họ cũng có một xác quyết là bạn là người sai, nên họ sẽ không nghĩ rằng mình mới là người cần thay đổi. Bạn đụng vào đó nghĩa là đụng vào bức tường họ dựng lên để bảo vệ mình. Vì sự từ bi làm cho những lời chỉ trích như nước đổ lá khoai, nên xác định thái độ từ bi cũng chính là xác định thái độ không quan tâm tới sự khó chịu của họ. Chắc chắn, nếu bạn chọn con đường này, bạn sẽ bị xem là người quấy rối.

Đã gọi là có định kiến, tức là họ đã xem thường bạn. Vì đi guốc trong bụng họ, nên những trốn tránh, chống đối, coi thường, định kiến, phớt lờ, hoặc thậm chí là chế diễu của họ chẳng đáng để bạn bận tâm. Thứ duy nhất bạn quan tâm là có giữ vững được sự tò mò của mình hay không. Chỉ cần bạn còn tập trung vào tìm kiếm cái sai của mình, thì những chế diễu của họ sẽ như nước đổ lá khoai, những xỉa xói của họ như gió thoảng qua tai, những tổn thương họ gây ra cho bạn đau như muỗi chích, và những khó chịu của họ như chưa từng hiện hữu.

Việc họ cảm thấy khó chịu với bạn là việc của họ, xuất phát từ định kiến của họ. Nếu vì định kiến mà không lắng nghe, thì không có lý do gì bạn phải chịu trách nhiệm về nó cả. Có thể bạn đang áp đặt họ thật, nhưng họ càng nói càng thiếu logic. Bạn tôn trọng sự khó chịu của họ, nhưng sự khó chịu đó không liên quan gì tới việc họ cần thấy được lỗ hổng của chính mình. Tuy trên bề mặt bạn là người phải tìm cách để giải thích với họ cho hiểu, nhưng thực chất họ mới là người phải giải thích rõ ràng.

Bạn sẽ không chỉ bảo vệ sự tò mò của mình, mà còn bảo vệ sự tò mò của họ nữa. Bạn sẽ làm tất cả để khơi gợi sự tò mò của họ, để họ thấy điều họ nghĩ là sai mười mươi hóa ra lại thú vị hơn họ tưởng. Họ càng chống đối, bạn càng hỏi thêm. Có liên tục tra vấn quan điểm của nhau thì mới có một cuộc trao đổi lành mạnh. Vì từ bi với họ, vì để bảo vệ sự tò mò của chính họ, bạn sẽ tập thói quen tra vấn họ tới cùng, dù điều đó làm họ khó chịu đến đâu. Bạn chấp nhận mọi thứ, vì đó là điều tốt nhất bạn có thể làm cho họ. Nếu ai muốn được người khác từ bi với mình, họ cần hiểu rằng sự từ bi sẽ gây ra sự khó chịu khủng khiếp. Cho rằng sự khó chịu của mình đáng giá hơn việc vượt qua nó là đang tự tước bỏ cơ hội nhận được sự từ bi từ người khác.

Im lặng là phản ứng tự nhiên của họ khi cho rằng có nói chuyện với bạn cũng vô ích. Nhưng khi bạn tò mò, bạn cũng sẽ lại cảm thấy hai người dường như chưa hề có mâu thuẫn gì. Bạn càng tò mò với cái sai của mình bao nhiêu, thì bạn cũng xem họ cũng có sự tò mò với chính cái sai của họ bấy nhiêu. Bạn làm điều này là vì đó là điều tốt nên có, và bạn từ chối tin rằng họ không có điều tốt đó. Nên trái ngược với tâm lý thông thường là nếu bị phản ứng lại thì sẽ ngại không muốn nói thêm vào nữa, thì ở đây sự tò mò của bạn sẽ đơn giản là làm mất nỗi sợ đó, làm bạn thấy giống như chưa hề có mâu thuẫn gì cả. Bạn chỉ có nhiệm vụ khơi gợi cho họ sự tò mò họ chưa bao giờ đánh mất/đã đánh mất từ lâu.

Ta hãy nói về chữ thứ tư trong cụm “từ bi hỷ xả”. Khi bạn xả, thì sự phân biệt giữa bạn với họ biến mất, và cả hai nhập vào làm một. Họ cảm thấy gì thì bạn cũng cảm thấy thế. Nên khi bị họ nói là bạn với họ là hai người khác nhau, rằng cuộc sống của bạn và cuộc sống của họ là khác nhau, bạn sẽ bối rối vô cùng.

Đặc biệt, nếu họ cũng là người theo Đạo (xem thêm bài Khi đo sĩ gp ri lon tâm lý), thì sự bối rối đó lại tăng gấp bội. Một trong những yếu tố quan trọng để họ thấy được đại Đạo trong xã hội loài người là phải luôn giả sử rằng mọi người ai cũng có lòng tốt (assume good faith). Nhờ có sự tốt bụng đó mà người theo Đạo mới có thể biến hóa đến như vậy. Nên khi nhận ra họ nói nghe hoành tráng lắm mà làm cũng chẳng được, bạn sẽ bò lăn ra mà cười.

Nếu một ai đó chỉ nhìn thấy những gì bên ngoài, thì đây quả đúng là sự áp đặt quan điểm bản thân và thiếu tôn trọng người khác. Nhưng một lần nữa, tiền đề ở đây là bạn không dám nói những gì cần phải nói. Tất cả những thông tin quan trọng đã bị giấu đi vì bạn chưa cho phép mình tin vào nó. Nếu ban đầu bạn có nghi ngờ về bản thân, vậy thì đây là từ bi đúng nghĩa chứ không phải na ná từ bi.

Tham gia một cuộc tranh luận không chỉ là mỗi đi thuyết phục họ, mà còn là sẵn sàng để cho họ thuyết phục mình. Trong trường hợp này, bạn phải sẵn sàng cho việc để họ biến bạn từ một người nhất quyết rằng mình đang sai (trái ngược với họ) thành một người quả quyết rằng mình đang đúng (giống như họ) thì bạn mới có thể đưa ra thông tin mà bạn không dám nói.

Phần 0, Rắc rối 3, Giải pháp

Rắc rối 2: Phải chịu những hậu quả của dính mắc mặc dù mình không có

Nói đi cũng phải nói lại. Mặc dù trên lý thuyết, từ bi không liên quan gì tới việc có quan hệ tình cảm với họ, nhưng trên thực tế, nếu bạn bỏ ra không ít thời gian và công sức để cho họ thấy là họ đang sai, thì không thể nói là không có. Phải có một lý do nào đó để bạn chọn ở lại với họ, ngay cả khi họ làm bạn tổn thương rất lớn.

Tại sao bạn lại có động lực lớn đến như vậy? Vì bạn biết họ mạnh mẽ. Bạn nhìn ra sự mạnh mẽ của họ, và mong họ được trở thành chính họ chứ không phải ai khác. Bạn không bỏ đi vì biết rằng họ không đáng để chịu dằn vặt đến hết đời, và nếu bạn không giúp thì họ sẽ không thể tự mình tìm được đường ra. Không thiếu những mầm cây tốt chết khô, và thêm một cây nữa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng nếu có cơ hội thì bạn vẫn muốn vun trồng để thấy nó tốt tươi.

Bạn còn vướng mắc vào cái gì? Vào cái phiên bản tốt hơn trong tương lai của họ. Bạn biết đây không phải là mộng tưởng gì cả, vì đây chỉ đơn giản là vấn đề logic: một khi họ đã thấy được lỗ hổng trong thế giới quan của mình, thì họ sẽ tự xoay xở được mà không cần bạn giúp nữa. Mà đã gọi là logic, thì nó có giá trị phổ quát; bất kỳ ai, bất kỳ tính cách nào, bất kỳ sự đa dạng nào cũng sẽ chấp nhận nó như một nguyên lý bất biến.

Để có thể xây dựng một hệ thống thế giới quan mới cho họ, với những niềm tin mới, bạn cần có một cơ sở lý thuyết cho nó. Để làm được điều này, bạn cần tập trung suy nghĩ. Vấn đề là, não của bạn chỉ có thể xử lý được một việc một lúc; để bảo vệ quá trình chú ý và ghi nhớ thông tin của não, những khúc mắc của bạn cần được giải đáp khẩn trương để còn làm tiếp công việc tiếp theo. Mọi luật lệ, ràng buộc, thiếu linh hoạt là đều để bảo vệ quá trình tư duy của những người trong hệ thống đó. Tôi nghĩ mọi dính mắc, về bản chất, là để bảo vệ não.

Đây không chỉ là lý do làm họ cảm thấy bạn áp đặt họ, mà còn là lý do làm bạn còn cảm xúc với họ. Nếu bạn xây dựng một niềm tin mới cho họ, thì bạn còn cần nghĩ về những thông tin họ nói, và còn cần sự xác nhận của họ. Nhưng nếu bạn còn nhớ về những lời họ nói và còn chờ đợi họ, thì bạn sẽ còn dày vò bản thân. Bạn sẽ còn dằn vặt, day dứt, cay đắng, đau lòng, trầm tư, thất vọng, sợ hãi. Chúng không phải là dính mắc thật sự, vì chúng xuất phát từ lòng từ bi, nhưng những gì chúng biểu hiện ra thì đều là dính mắc. Nếu chúng trông không khác gì dính mắc, tôi sẽ gọi chúng là những giả dính mắc (pseudoattachment).

Cảnh trong phim Xuân hạ thu đông rồi lại xuân. Vị cao tăng khóc vì đồ đệ đã làm ông thất vọng.

Bằng việc ủy thác sự từ bi vào trong giả dính mắc, sự tò mò của bạn có rộng đường để phát triển. Nhưng bản thân sự tò mò có một bất lợi, là bạn sẽ tìm ra được cách thức để có lợi cho mình. Giả dụ bạn hay đi tàu thường xuyên. Vào một ngày rỗi rãi nào đó, bạn quyết định khám phá ga tàu như một thế giới bạn trước giờ chỉ đi lướt qua chứ chưa bao giờ nhìn cho kỹ. Vô tình bạn phát hiện được cửa sau của ga. Thế là từ lúc đó bạn cứ me cửa đó mà đi để khỏi phải mua vé. Tự nhiên trao cho loài người sự tò mò hơn hẳn các loài khác, và nhờ sự tò mò đó mà chúng ta có thể sử dụng năng lượng một cách tối ưu. Vì vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ tiết kiệm năng lượng, nên người tham lam cũng là người hòa hợp được với tự nhiên. Curiosity fuels greed.

Nếu cửa sau đó bị đóng lại, thì bạn sẽ tiếc. Không phải tiếc nuối vì từ nay lại phải mua vé, mà luyến tiếc vì mình không còn là một phần của nhà ga nữa. Là một người tò mò, bạn sẽ muốn hỏi tại sao cửa lại bị đóng. Nhưng vì đã nhận được lợi ích từ việc trốn vé, bạn sẽ thấy là câu hỏi của mình không còn vô tư nữa, mà sẽ luôn bị điều khiển bởi sự tiếc nuối kia. Khi nhận thức được là lẩn khuất trong sự vô tư giúp đỡ họ có sự ích kỷ cho bản thân, bạn sẽ lại càng lo lắng là mình sai.

Nói theo tâm lý học, thì cái giả dính mắc này chính là mối quan hệ song đôi. Bạn có thể là yên tâm mà làm, nhưng khi chúng nổi lên thì bạn nên tỉnh táo kéo mình về. Sự bao dung của bạn sẽ bị chúng che khuất, và bạn cần phải bóc tách các yếu tố này ra để sự bao dung của mình lộ diện thường trực. Ghi chú một cách cẩn thận là cách để những gì mình nói không bị bóp méo.

Tôi không nói là những việc này hoàn toàn không phải là dính mắc, vì rõ ràng bạn có dính mắc với phiên bản tốt hơn của họ kia mà. Nhưng tôi nghĩ loại dính mắc này “đẳng cấp” hơn các loại dính mắc mà mọi người hay nhắc đến, và có lẽ là loại dính mắc duy nhất Phật tổ cho phép xài. Rốt cuộc thì, cái giả dính mắc này xuất phát từ sự dính mắc của họ, nên chắc cần hai cái sai để thành một cái đúng. Ở đây tôi không bàn về sự giải thoát như truyền thống Phật giáo hay nói đến, mà chỉ khảo sát xem nên chọn loại dính mắc nào cho phù hợp. Bản thân tôi cũng cho rằng chưa ai tìm hiểu loại dính mắc này thật cặn kẽ.

Đó là chưa kể, sự giả dính mắc này còn xuất hiện là do sự biến nghĩa của ý niệm nữa. Sự biến nghĩa này liên quan chặt chẽ tới quá trình ghi nhớ của não. Ví dụ như hôm nay bạn nói:

Tôi dính mc vi cái phiên bn tt hơn ca bn

Thì hôm sau khi nhớ lại, câu đó bị biến thành:

Tôi dính mc vi bn

Và sang hôm sau nữa thì câu đó bị biến thành:

Tôi dính mc vi cái quá kh đã qua ca bn

Tam sao thất bản. Tất cả những gì bạn đã làm để có thể mạnh dạn kết luận điều mình làm là từ bi sẽ bị chính não bạn đổ sông đổ biển. Một vòng luẩn quẩn mới lại bắt đầu.

Nếu như phải gặp họ khi chưa sẵn sàng sử dụng quyền mình cho là đúng, bạn cần chuẩn bị kỹ. Và bạn sẽ phải tập luyện, tự kỷ ám nhiều lần, để khi tiếp xúc với họ thì mặt bạn lạnh như băng, và sự mong cầu sẽ không nổi lên làm nhiễu thông điệp của bạn. Bạn phải đảm bảo thật chắc chắn là hành động và sự quan tâm của bạn dứt khoát và khoan thai như một người hoàn toàn thờ ơ với họ thì họ mới tin. Có thể bạn sẽ áy náy vô cùng vì dám làm thế, nhưng thôi làm quách cho xong. Bạn áy náy vì nghĩ rằng mình đúng không có nghĩa là bạn sai.

Phần 0, Rắc rối 1, Giải pháp

Rắc rối 3: Người ngoài không hiểu bạn

Để thuận tiện, ở phần này tôi sẽ đặt tên cho người được từ bi là Megan, và dùng từ “họ” cho người ở ngoài (các phần khác “họ” là để chỉ Megan).

Đây là bạn:

Đây là Megan:

Còn đây là họ:

Trong xkcd thì nhân vật này tên là Danish

Họ còn nhiều ngờ vực

Nếu như bạn ngờ vực bản thân một, thì họ sẽ ngờ vực bạn mười. Với những ai cảm thấy có động lực để trả lời bạn (bạn bè, người thân, nhà tham vấn), họ sẽ dựa vào rắc rối 2 mà cho rằng bạn còn tình cảm. Khi bạn xem sự đẩy ra của Megan là tất nhiên, thì họ sẽ càng không hiểu nổi. Họ sẽ cố lay chuyển bạn, mong bạn tỉnh ra. Họ sẽ thấy vô cùng mâu thuẫn, vì một mặt bạn rất cứng nhắc trong suy nghĩ, nhưng mặt khác lại vô cùng cởi mở và hiểu biết. Họ sẽ thấy bạn rất lạ, vì có vẻ bạn không hề tiếp thu suy nghĩ của họ, nhưng lại rất quan tâm tại sao họ lại không đồng ý. Họ sẽ thấy bạn vô cùng ích kỷ, nhưng lại thấy chưa ai vị tha và dũng cảm bằng bạn.

Bạn sẽ rất ngạc nhiên vì nếu họ không hiểu thì họ nên đặt câu hỏi, chứ không phải đưa ra kết luận vội vàng như vậy. Bạn muốn xổ toẹt ra điều đó, nhưng một lần nữa bạn sẽ không dám làm. Chừng nào bạn còn cẩn trọng với bản thân mình, thì bạn sẽ còn từ chối nói những gì cần nói. Vả lại, gắt lên để làm gì, khi ưu tiên của bạn là tìm ra điểm sai? Bạn biết chỉ cần bạn nói một câu thôi là họ bị khủng hoảng ngay, nhưng bạn không hào hứng với việc đó.

Bạn sẽ luôn nhường cho họ nói, tránh làm gián đoạn mạch suy nghĩ của họ. Bạn thật sự tò mò với lời nói của họ, mặc dù trong thâm tâm bạn chỉ bực bản thân thêm, vì để họ nói nghĩa là tốn thì giờ của cả hai. Họ không nhận ra một điều là trong khi họ cáo buộc bạn đang áp đặt lên Megan, thì chính họ lại là người áp đặt lên bạn. Khi họ còn chưa tin, thì về cơ bản họ đang cố giết bạn bằng lòng tốt của mình.

Tất nhiên là bạn vẫn sống nhăn. Không những sống nhăn mà còn chỉ cho họ chỗ để giết mình hiệu quả nhất. “Uýnh vào đầu nhiều máu lắm nè. Thọt ở dưới chắc là đau lắm.” Vì bạn đến gặp họ để kiểm tra xem mình có sai chỗ nào không, nên bạn sẽ tìm cách làm cho lập luận của h sắc bén hơn. Với sự thành thực của bạn, đa số mọi người sẽ dần dần bị thuyết phục. Nhưng với những ai có cùng thế giới quan của Megan, họ vẫn sẽ không thể tin, và tìm đủ mọi cách để phủ nhận. Mỗi lần cả hai sắp chạm đến gốc rễ của vấn đề thì họ sẽ tìm cách để nói là không được. Khi bạn chỉ ra những lập luận sai khiến họ không còn cách nào khác và buộc phải nhìn thẳng vào sự thật trước mắt, họ sẽ gào lên và nói bạn điên rồ và hoang đường.

Họ sẽ không nhìn vào bằng chứng, nhưng lại kết luận là bạn không có bằng chứng. Bạn có bịa cái gì đâu? Nếu không tin họ cứ việc tự mình kiểm tra. Sự mâu thuẫn của họ quả là rất hài hước, và những gì bạn nói sẽ bị họ bóp méo đến buồn cười. Dường như với họ, một sự tò mò thuần túy là bất khả. Nếu bạn chưa thể cho mình cái quyền là mình đúng, thì cuộc nói chuyện có thành công hay không sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào việc họ có tò mò với chuyện của bạn hay không. Mà điều này đơn giản là họ không có.

Họ sẽ nói là hãy để cô tự thấy có nhu cầu nghe bạn, còn không thì hãy để cô tự ngụp lặn cho đến khi nhận ra. Nhưng một lần nữa, bạn không mặc kệ cô vì cho rằng cô không đáng để cứ mãi dằn vặt mình. Có những hệ thống niềm tin sai lạc vượt ra khỏi khả năng xử lý thông tin của não, và nếu như cứ để kệ thì muôn đời cũng không thể thoát ra.

Lệch đường nhất là họ sẽ bảo Megan rất ổn. Tất nhiên, bên ngoài thì ai mà chẳng ổn, nhưng những cái ổn đó chỉ là cách để cô che đậy nỗi sợ của mình. Nếu không khó để thấy sự bất ổn của Megan mà vẫn nói là cô ổn, vậy thì họ đang tự lừa dối mình. Họ thật ra chỉ đang dung dưỡng cho bất ổn của cô, và sự từ bi của họ chưa đủ lớn.

Khi họ chỉ trích bạn, sẽ đôi lúc bạn mỉm cười với họ. Nụ cười này là sự trộn lẫn giữa lo lắng rằng mình đang sai, nhất trí với sự lo lắng của họ, thông cảm với việc họ không thể hiểu được tại sao, bao dung khi họ hoảng hốt, và buồn vì họ không biết đặt mình vào vị trí người khác. Sự xuất hiện của nó sẽ làm họ dừng lại và cân nhắc lời mình nói kỹ hơn. Khi nhìn vào nó, họ sẽ nhận ra là họ đang nghĩ oan cho bạn.

Nhưng nếu nói chuyện qua chat thì họ sẽ không thấy nó. Nó vốn được phát ra một cách tự nhiên, và cần được tiếp nhận một cách tự nhiên. Việc phải diễn tả nó là một điều khá ngớ ngẩn, mặc dù về nguyên tắc bạn có thể làm được, và cần phải làm cho bằng được. Tôi đã thử tìm trong danh sách các emoji mà không có cái nào phù hợp. :) hay ^^ hoàn toàn thất bại trong việc diễn đạt những sắc thái tinh tế của nó. :) chỉ đơn giản nói: “Thôi, mọi chuyện đã quá rõ rồi. Bạn sai, nhưng tôi vẫn muốn giữ sự thân thiện với bạn”. ^^ gần hơn, nhưng nó vẫn chỉ thể hiện là mình muốn mềm mỏng, nhu mỳ, chứ vẫn là không có ý định thay đổi suy nghĩ của bản thân. Trong khi nụ cười từ bi thì cao hơn: “Tuy đúng là tôi chưa thể đồng ý với bạn, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đúng. Tôi luôn mừng khi thấy cái sai của mình, và sẽ rất vui nếu được bạn giúp đỡ”.

Dường như là chỉ khi bạn nói về những tổn thương cô dành cho bạn họ mới nhận ra mình đã quá vội vàng. Nhưng vì với bạn những tổn thương đó là quá hiển nhiên, nên bạn đơn giản là chẳng thấy nó liên quan gì cả. Nhưng với họ, chỉ sau khi biết được bạn đã tiên đoán và chuẩn bị sẵn sàng trước cả khi nó đến ra sao thì mới có thể khiến họ nhận ra mình thực sự chẳng hiểu gì cả, và nên lắng nghe bạn bằng tất cả sự tò mò.

Họ đưa ra lời khuyên sai

Khi đi con đường này, bạn đã có bản đồ để đi rồi. Bạn biết mình đang đi đúng hướng, và bạn sẽ không bao giờ thấy bế tắc. Nhưng vì trên bề mặt bạn luôn từ chối tin vào cái bản đồ đó, nên bạn cần một người nói lại đúng những ý mình đã nghĩ ra. Vấn đề là, họ sẽ chỉ nhìn thấy rắc rối 1 và 2, và kết luận là bạn đang níu kéo họ.

Bạn sẽ thấy rất kỳ lạ khi họ nằng nặc khuyên bạn hãy thể hiện là bạn cần cô, tìm cách khơi gợi tình cảm của cô. Họ sẽ khuyến khích bạn nói nhớ cô, cho cô thấy sự đau khổ của bạn, và nếu bạn không làm thì họ sẽ nói là bạn bướng, là thiếu chân thành. Thật ra đó là vì họ vẫn chỉ thấy là bạn có tình cảm với cô mà thôi, chứ ngay từ đầu bạn đã thấy cố làm cô thấy thương là vớ vẩn rồi. Làm như thế chỉ làm cho hai rắc rối kia thêm rắc rối.

Đáng tiếc cho bạn, là mặc dù biết họ còn mù đường hơn cả bạn, thì với tinh thần không định kiến bạn cũng sẽ lắng nghe họ như thể mình mới là đứa mù đường. Nếu những hiểu biết rời rạc của bạn không đủ vững chắc để chống lại sự biến đổi nghĩa trong quá trình trả lời các chất vấn của họ, thì bạn sẽ luôn thử những hướng đi mà bản đồ trong lòng bạn nói là vô dụng. Dù biết là sẽ thất bại, nhưng cho đến khi nào bạn gom đủ sự dũng cảm để nói rằng lời họ nói không đáng để nghe nữa, thì lời khuyên của họ sẽ cứ nhảy tới nhảy lui trong đầu bạn. Bạn sẽ tặc lưỡi là “chậc, dù sao thì mình cũng là người áp đặt Megan. Thôi thì một điều nhịn chín điều lành, nếu điều này giúp được cô thì cứ xuống nước cho nhanh”. Nên cuối cùng, rắc rối 1 và 2 lại càng thêm rắc rối.

Người có thể giúp không thấy tại sao họ cần giúp

Tại sao bạn lại muốn nhờ tới người thứ ba? Vì họ không xem thường bạn như Megan. Việc nhờ tới sự hỗ trợ của người ngoài để buộc người có định kiến phải nhìn nhận lại suy nghĩ của mình không phải là điều gì xa lạ. Đây là một điều cơ bản trong trong tâm lý học xã hội; ai đã xem phim 12 người đàn ông giận dữ sẽ thấy rõ.

Song song với chuyện xây dựng một cơ sở lý thuyết cho một niềm tin mới cho Megan, thì mục tiêu của bạn còn là làm sao để cô lắng nghe. Vì bạn còn chưa thể nói rằng mình đúng, nên khi bạn nhờ họ bạn cũng không thể nói là cô sai. Mà nếu chưa thể nói ai đúng ai sai, thì một cách tự nhiên thông điệp bạn đưa ra sẽ là nhờ họ giúp mình xác định xem ai đúng ai sai, và nếu họ thấy bạn đúng thì nói cho cô nghe điều đó.

Để thông tin của bạn là khách quan, bạn cần phải trình bày hệ thống quan điểm của Megan ra trước, rồi đưa ra lý do tại sao sai. Nhưng nếu như tư duy của Megan đòi hỏi một nền tảng kiến thức để hiểu, thì sẽ rất vất vả để họ theo kịp. Đằng này, nếu như đến chính Megan còn không thể nhận ra lỗ hổng của mình, thì hẳn là có một điểm lắt léo nào đó vượt qua khỏi tư duy thông thường (nếu không thì Megan cũng đã nhận ra từ lâu). Chính vì thế, mà họ sẽ càng không hiểu nổi. Nhưng có hiểu được nó hay không là mấu chốt để thấy rằng Megan cần trợ giúp.

Vì bạn biết vấn đề này xoắn não hơn bất cứ chủ đề lắt léo nào bạn từng giải thích, nên bạn sẽ tìm cách truyền đạt vấn đề đơn giản và hấp dẫn. Nhưng dù có làm nó hấp dẫn hay đơn giản bao nhiêu, thì với sự lắt léo đó nếu không nghiền ngẫm sẽ không thể hiểu được. Để họ cảm thấy thôi thúc muốn giúp bạn, họ phải rất tin tưởng là thời gian họ bỏ ra là xứng đáng, và sau khi bỏ thời gian ra thì họ thấy niềm tin đó được đền đáp. Đằng này, khi trong đầu bạn còn nhiều rối ren, thì sẽ khó để cho họ thấy nó ích lợi gì cho họ, chứ đừng nói làm họ thấy tâm đắc sâu sắc.

Nếu đã xác định là họ không có thời gian, và chuyện giúp bạn không có quá nhiều lợi ích cho họ, thì cách tốt nhất là to s thân thinkhơi gi lòng trc n của họ. Làm vậy để có sự chú ý ban đầu thì không sao, nhưng dưới sự tác động sai từ những người khác và của rắc rối 2, thì thông điệp chính của bạn sẽ càng bị lùi sâu để nhường chỗ cho việc tạo sự thân thiện và lòng sự trắc ẩn đó. Việc đó sẽ tạo ra n tưng là bạn cũng mong muốn Megan cũng có sự thân thiện và lòng trắc ẩn với bạn, chứ không phải vì bạn có một điều gì đó Megan cần phải có. Ấn tượng đó là không oan, vì ưu tiên của bạn bây giờ là tìm cách để Megan lắng nghe bạn, và bạn sẽ làm điều đó một cách nhiệt thành và chăm chú.

Và kể cả khi họ có những điều không đồng ý với cô, thì họ cũng ngại va chạm. Nếu họ là người không dám đối diện với chính cảm xúc của mình để bảo rằng mình sai, thì họ lại càng không dám đối diện với cảm xúc của cô và bảo rằng cô sai. Kể cả khi họ muốn đối diện với cô, thì họ cũng không biết phải bắt đầu từ đâu để cô cảm thấy dễ nghe chứ không phải cưỡng ép. Lúc này, chuyện đúng hay sai không quan trọng nữa, mà là không có cách tiếp cận nào phù hợp. Muốn tìm được cách tiếp cận phù hợp thì phải đào sâu suy nghĩ. Một lần nữa, sự bận rộn với cuộc sống riêng lại lấn át.

Nói tóm li, đ h có th thy mình cn b tt c mi th đ giúp bn, thì h cn phi b tt c mi th đ tìm hiu. Bn to đng lc đ h tìm hiu bng cái khơi gi lòng trc n, nhưng vic đó li cho thy ý đnh ca bn là đ cô có cm xúc vi bn, ch không phi bn có cái gì đó mà cô cn phi có. Mun cô phi có cm xúc li vi bn là điu khó đt đưc. K c khi h nhn ra h cn tác đng cô, thì h li ngi tác đng vì s tn thương mi quan h vn có gia h và cô.

Nên ở góc nhìn của bạn, bạn sẽ thấy rất kỳ lạ là tại sao họ không lo lắng gì cho cô cả. Họ có sự tin tưởng của cô, nhưng họ lại nói là họ không giúp được bạn. Bạn đâu có cần họ giúp? Người cần giúp là Megan mà? Bạn đồng ý là mình sẽ phải giải thích rõ ràng dễ hiểu, nhưng họ lại chẳng quan tâm gì. Nếu họ nhận giúp, thì họ sẽ nhận một cách miễn cưỡng, rồi sau đó mọi thứ lại rơi vào im lặng. Tất nhiên ai cũng có biết bao chuyện phải lo, nhưng một cuộc nói chuyện thẳn thắng với người bạn thân thiết với mình chỉ mất một buổi cà phê. Thái độ im lặng của họ như thể họ không hề cắn rứt lương tâm khi thờ ơ với của bạn mình. Thậm chí bạn lại thấy họ tiếp tục trò chuyện với Megan như chưa có gì xảy ra.

Nhưng về phía họ, thì lời bạn nói giống như đây là mâu thuẫn cá nhân giữa bạn và Megan, và họ không thấy mình có thể làm được gì trong đây. Họ kỳ vọng mình sẽ giúp ích được gì cho Megan, nhưng họ chỉ thấy bạn toàn nói về chuyện hai người. Nếu đó là chuyện của bạn, thì thôi bạn tự lo đi. Nếu đó là do bạn còn chưa bước ra khỏi quá khứ cũ, thì ai chịu trách nhiệm cho bạn được?

Nếu họ có tò mò hoặc động lòng trắc ẩn, thì họ cũng chỉ quan tâm được một vài phút trước khi bỏ cuộc vì không hiểu nổi vấn đề. Chuyện của bạn vượt quá khả năng hiểu biết của họ. Vài lời chân thành cảm động không đủ sức để bảo vệ não họ. Sự yêu quý họ dành cho bạn không đủ để mong muốn của bạn khả thi hơn. Khi bạn nhìn họ như một QUAN TÒA CÔNG TÂM, thì họ lại tự xem mình như một NHÀ ĐẦU TƯ BẬN RỘN.

Tất cả những chuyện này, một lần nữa, không phải bạn không biết. Nhưng bạn không thể dừng được, vì nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là bạn không được phép tin vào suy nghĩ của mình. Chính nguyên tắc này chi phối toàn bộ mọi hành động và lời nói của bạn, làm cho bạn phải nghe lời nó. Nó đưa bạn đến chuyện cần nghe lời cô nói trong khi bạn không cần nghe, và đưa đến chuyện bạn cần khơi gợi lòng trắc ẩn của họ khi bạn không cần khơi gợi gì cả. Bạn biết mình có một thứ họ sẽ rất quan tâm, nhưng bạn không tài nào đưa thứ đó ra được. Bạn sẽ chịu mọi hiểu lầm, nhưng đó không phải là vì họ có định kiến, mà là vì bạn cương quyết không để mình định kiến. Nếu như bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì nguyên tắc này là ông bà của bạn.

Vì có tâm xả, nên bạn sẽ nghĩ họ có những điều tốt đẹp nhất rồi. Bạn sẽ nghĩ họ sẽ không bỏ cuộc trước mọi khó khăn. Bạn sẽ nghĩ sự tò mò của họ mạnh mẽ hơn nỗi sợ. Nếu sự từ bi của họ là đủ lớn, họ sẽ không thấy va chạm là đáng ngại gì cả. Nếu sự lo lắng cho Megan là đủ mạnh, họ sẽ thấy những khó chịu của cô là một thứ không có thật. Một người bạn thật sự sẽ có những lúc cần can đảm để nói cho bạn mình biết những gì họ cần biết. Họ sẽ không tiếc một tình bạn nếu điều đó tốt cho cô.

Cho tới khi họ thấy giá trị của việc giúp cô là to lớn hơn mọi trở ngại, thì sẽ khó để họ xắn tay vào làm. Cho tới chừng nào bạn xác quyết rằng lời Megan nói không đáng để lắng nghe, thì những thông điệp bạn đưa ra vẫn là muốn cô quan tâm hơn đến bạn. Tất nhiên, nếu Megan chịu lắng nghe bạn thì sẽ rất tốt, vì nó đỡ làm phiền tất cả mọi người. Nhưng cũng vì như thế, họ sẽ thấy không giúp được gì cho bạn cả. Họ sẽ thấy nó không khả thi.

Phần 0, Rắc rối 1, Rắc rối 2

Giải pháp

Để có thể đột phá được tất cả những vấn đề trên, thì làm sao để trong 3 giây bạn phải đưa ra ngay được bằng chứng cho thấy cô không ổn chút nào. Bằng chứng phải do chính cô cung cấp và đủ đơn giản để họ có thể chấp nhận nó ngay lập tức (ảnh cô tự đăng trên Facebook chẳng hạn), chứ không phải những gì cô quan niệm. Nội dung phải là về những bế tắc trong tâm lý của cô, chứ không phải sự mâu thuẫn trong tư tưởng của cô. Có như thế thế thì bạn mới có thể định hình được cuộc nói chuyện. Còn không thì họ sẽ đưa bạn đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác trong chuyện bóp méo lời bạn nói. Sự sáng tạo của họ là vô cùng tận.

Bạn cần khởi lên được trong lòng họ cảm giác thú vị. Nó là cái cảm giác khiến ta ngẩn người ra và tự hỏi “ơ, hóa ra là được à? Thế mà mình cũng không nghĩ ra.” Chính sự thú vị đó mới tiếp thêm năng lượng cho người nghe, làm cho họ thấy bạn tuyệt đối an toàn, và xóa tan mọi dè dặt để đến giúp bạn. Còn bằng không, thì quá trình chú ý, ghi nhớ và biến đổi nghĩa của từ sẽ hành bạn tới chết.

Rắc rối của từ bi

Không thiếu những câu chuyện lay động về việc cảm hóa sự giận dữ, hận thù bằng sự từ bi. Nhưng tất cả các câu chuyện đó đều chứa một ngầm định quan trọng: người từ bi đã đi guốc trong bụng người được từ bi rồi. Và đây chính là điều khiến cho chúng chỉ là những câu chuyện nghe thì hay nhưng gần như không thể nào xảy ra trong thực tế, chỉ vì một câu hỏi đơn giản: họ là ai mà dám cho rằng mình đúng?

Bài viết nói về những đào sâu suy tư và những biến đổi tâm lý của một người từ bi, cũng như những yêu cầu khắc nghiệt và mâu thuẫn nhau để họ có thể mạnh dạn nói rằng điều họ làm xuất phát từ lòng từ bi. Đặc biệt trong trường hợp ngặt nghèo nhất: người từ bi chưa hiểu được tại sao người kia lại làm như vậy (tức chưa có một cơ sở lý thuyết cho trực giác của mình), và người được từ bi có định kiến sẵn với họ. Đáng tiếc, đây có lẽ mới là trường hợp phổ biến trong xã hội nhất, và dường như chưa có ai đề cập đến chúng.

Nếu bạn thấy bài này dài hay phức tạp quá có thể xem bản rút gọn này. Nó sẽ có những “thông tin độc quyền” mà bài này không có. (Thật ra là có, chỉ là hai bài được viết với hai tư thế khác nhau. Như vậy thì sẽ có nhiều góc nhìn cho cùng một vấn đề.)

Câu chuyện mở đầu

Cueball và Megan đang dạo bộ trên đường, bỗng thấy một người mẹ bồng một đứa con đang khóc, vừa đi vừa dỗ dành. Megan liền nói:

– Này, hôm qua xem YouTube tớ thấy có bài nói chuyện của một thiền sư về từ bi dễ hiểu lắm. Ông ấy nói mà khuôn mặt lúc nào cũng mỉm cười, nhìn hạnh phúc lắm

– Ừm, nhưng có nhiều lúc từ bi cũng rắc rối lắm đấy

– Rắc rối ư?

– Ừ. Ví dụ nha, khi cậu muốn giúp một ai đó, mà họ nhất định không lắng nghe cậu thì thế nào?

– Thì chắc là chịu thôi. Nếu họ không chịu lắng nghe thì không làm gì được đâu

– Liệu có chắc là không làm gì được không?

– Ý cậu là sao?

– Ý tớ là có khi đó là do cậu không đủ sự kiên trì thôi

– Tất nhiên tớ biết sự kiên trì là quan trọng trong mọi việc, nhưng liệu đó có phải là bắt ép họ nghe theo ý mình hay không?

– Không. Cậu biết là nếu họ nghe theo thì họ sẽ tốt hơn mà?

– Nhưng làm sao cậu lại có thể chắc chắn là họ sẽ tốt lên? Cậu đâu phải là họ, sao cậu biết họ cần gì nhất?

– Thì thế mới nói là từ bi cần đi kèm với trí tuệ. Mấy ông sư ra rả suốt mà. Cậu phải thật sự biết là điều cậu làm là tốt thì cậu mới làm, còn không thì đúng là bắt ép họ

– Nhưng một lần nữa, sao cậu biết chắc chắn được? Bao nhiêu chuyện bố mẹ vì muốn tốt cho con mà vô tình làm hại con. Hay chuyện vợ chồng nhiều khi tưởng như đã hiểu nhau rất rõ rồi còn nhiều lúc nhận ra mình chẳng hiểu gì người kia. Sao cậu có thể dám chắc là mình đúng chứ?

– Thì thế, nên họ mới phải kiểm tra những gì mình nghĩ, lúc nào cũng phải giả sử là mình đang sai thì mới được. Cứ hễ mình nghĩ ra được lý do nào là phải phủ nhận ngay, dù nó đúng rành rành ra đó. Còn không thì sẽ có ngày ngộ nhận là mình biết rõ thôi

– Nhưng nếu cứ nghĩ là mình sai rồi sao giúp người ta?

– Bởi vậy mới nói là rắc rối. Hiểu biết thực sự đòi hỏi sự phản tư, sự can đảm đánh đổ những gì mình biết. Nhưng sự giúp đỡ đòi hỏi sự dìu dắt, am hiểu, vững vàng, và có khi là cứng rắn nữa. Hai cái đó về cơ bản là không thể làm cùng một lúc, và vào một thời điểm nào đó họ phải thôi cho rằng mình có thể đang sai để mà còn giúp người khác. Đó là bi kịch của người từ bi đấy.

­­­- Nhưng tớ không hiểu. Như trong kinh Đức Phật có nói điều thiện là sẽ “không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai”. Sự từ bi vốn là để thoát khổ cho cả hai, giờ nếu họ đau khổ như vậy, liệu đó có thật là từ bi nữa không?

– Không, đây không phải là khổ. Đây là rắc rối. Họ đã biết mình cần phải làm gì rồi, nhưng họ muốn kiểm tra lại thêm lần nữa. Người có hiểu biết thực sự là người thực sự tin rằng việc tin vào hiểu biết của mình là buồn cười. Họ đã có tấm bản đồ trong người rồi, nhưng lại cứ thích đi lạc. Họ không khổ, vì họ luôn quán xét tâm mình thường xuyên, và trong họ không hề có tham sân si gì cả. Nhưng nhìn từ ngoài vào thì lại trông họ rất khổ. Rắc rối ở chỗ đó đó.

–   Có khi đó là do họ suy nghĩ quá nhiều thôi. Cứ chạy theo vọng tưởng mà không có lối ra. Người có hiểu biết thực sự thì sẽ nói đơn giản chứ chẳng rối rắm đến như vậy

–   Thật ra ấy, khi cậu đặt mình hoàn toàn vào vị trí của người khác, cậu sẽ tự nguyện dấn thân vào một mê cung của ý niệm. Vì có bước vào mê cung thì mới có thể giúp người khác thoát ra khỏi mê cung được. Vả lại, người được giúp cũng cần phải luôn giả sử là mình có thể sai thì mới được. Còn không thì bao nhiêu lời nói của cậu sẽ bị bóp méo hết thôi. Bị những điều không liên quan phá đám cũng bực mình lắm, mà thấy họ bóp méo lời cậu nói cũng buồn cười lắm

–   Có khi đó là do họ suy nghĩ quá nhiều thôi. Cứ chạy theo vọng tưởng mà không có lối ra. Người có hiểu biết thực sự thì sẽ nói đơn giản chứ chẳng rối rắm đến như vậy

–   Thật ra ấy, khi cậu đặt mình hoàn toàn vào vị trí của người khác, cậu sẽ tự nguyện dấn thân vào một mê cung của ý niệm. Vì có bước vào mê cung thì mới có thể giúp người khác thoát ra khỏi mê cung được. Vả lại, người được giúp cũng cần phải luôn giả sử là mình có thể sai thì mới được. Còn không thì bao nhiêu lời nói của cậu sẽ bị bóp méo hết thôi. Bị những điều không liên quan phá đám cũng bực mình lắm, mà thấy họ bóp méo lời cậu nói cũng buồn cười lắm

– Thế giờ phải làm sao?

– Thì như tớ nói đấy, tới một lúc nào đó họ phải thôi tin rằng mình đang sai thì mới giúp được. Còn không thì cả hai sẽ chạy lòng vòng rồi làm mệt nhau thôi

– Đúng là rắc rối thật đấy

Nội dung

I. Từ bi là gì?

II. Những vấn đề người từ bi gặp phải

  • Khi người được từ bi không coi bạn ra gì. Khi cho rằng bạn hiểu họ là một điều nguy hiểm
  • Khi sự tò mò được cương quyết bảo vệ. Khi việc từ chối nói cái đúng trở thành quán tính

III. Khi người từ bi chưa thể cho phép mình sử dụng quyền mình cho là đúng

  • Rắc rối 1: bị nói là không biết tôn trọng sự khó chịu của họ
  • Rắc rối 2: phải chịu những hậu quả của dính mắc mặc dù mình không có
  • Rắc rối 3: người ngoài hiểu lầm bạn
    • Họ còn nhiều ngờ vực
    • Họ đưa lời khuyên sai
    • Người có thể giúp không thấy tại sao phải giúp

IV. Giải pháp


I. Từ bi là gì?


Trong triết học Phật giáo, nếu tình cảm bạn của bạn có được những yếu tố sau, thì tình cảm đó chính là tình yêu đích thực:

  • Từ (metta, loving-kindness/benevolence): lòng mong muốn đem lại hạnh phúc cho người khác
  • Bi (karuna, compassion): sự cảm thông, lòng trắc ẩn, mong muốn trút bỏ đau khổ cho họ
  • Hỷ (mudita, empathetic joy): vui với niềm vui của người khác; hoàn toàn không cảm thấy ghen tị với hạnh phúc, thành công của họ
  • Xả (upekkha, equaminity): không còn vướng bận tham sân si, hiểu được tính vô thường của mọi sự, và nhận ra ai cũng đồng đẳng với mình, tuy hai mà một

Bốn yếu tố này gọi là t vô lưng (brahmavihara, four immeasurables). Bạn có thể nghe bài nói chuyện này để hiểu thêm:

Có vẻ như khái niệm “từ bi” không được dùng một cách thống nhất. Có khi nó là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”, có khi chỉ để chỉ tâm từ (loving-kindness), có khi chỉ để chỉ tâm bi (compassion), có khi để chỉ cả từ lẫn bi (tức là… từ bi). Nhưng vì dù sao chúng cũng hay đi chung với nhau nên chắc cũng không quan trọng lắm. Ở đây tôi chọn cách hiểu là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”.

Vậy từ bi là gì? Ví dụ khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì bạn đều muốn họ hạnh phúc mà không mong nhận được gì lại, và những hành động đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó đặc biệt hoặc cao cả hơn giúp đỡ vô vụ lợi. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.

Lưu ý cho người học Phật

Cách hiểu về từ bi của bài này không giống với cách hiểu về từ bi trong Phật giáo. Tôi xin liệt kê một số khác biệt (cũng là những điểm tôi không đồng ý với cách hiểu từ bi của Phật):

  1. Với những ai học Phật, thì từ bi nhất thiết phải đi kèm với trí tuệ, để có thể “không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai”, như lời Đức Phật giảng cho ngài La Hầu La. Họ biết những ai có thể giúp được và những ai chưa thể giúp được. Với những ai giúp được, thì họ biết chính xác cách giúp nào hợp với căn cơ của người được giúp. Với người chưa thể giúp, thì họ biết chính xác những lý do nào, nhân duyên nào khiến họ chưa thể giúp, và sẽ không cố giúp. Nhưng với người trong bài, kiến thức của họ lại hơi lỡ cỡ: họ biết chắc chắn là có thể giúp được, và nếu họ không làm thì sẽ không ai làm cả, nhưng họ lại không có ai chỉ đường, và phải vừa làm vừa mò mẫm. Tôi không cho rằng vì kiến thức của họ lỡ cỡ mà có thể kết luận là họ không có lòng từ bi.
     
  2. Theo hiểu biết rất hạn chế của tôi về Phật giáo (hay cụ thể hơn là nam tông), thì tâm từ với tâm bi quan trọng ở sự giải thoát của bản thân trước. Nhưng khi thực tiễn diễn ra, tôi nghĩ việc quán tâm là quá tải với người từ bi, và làm tình trạng nói chung trở nên trầm trọng hơn. Ví dụ như con hư mà đợi bố mẹ thấy được sự vô thường của các pháp mới dạy con thì con đã học xong tính xấu rồi, hoặc tội phạm đang diễn ra mà đợi cảnh sát đạt chánh niệm xong thì mới truy bắt thì người đã chết rồi. Tôi cho là trạng thái tâm từ, tâm bi đúng nghĩa của Phật giáo là lợi bất cập hại ở những trường hợp này.
     
  3. Kể cả khi người từ bi đã có kiến thức vững chắc (thỏa trường hợp 1) và đã giải thoát cho mình (thỏa trường hợp 2), thì não của họ vẫn là não con người chứ không phải não siêu nhân. Tức là họ cũng chỉ có thể lưu được vài ba thông tin trong trí nhớ ngắn hạn, vẫn chỉ có thể xử lý một thông tin trong một thời điểm, và cũng không thể chống lại được sự biến nghĩa của từ khi giao tiếp. Mà tất cả những điều này là tối quan trọng để không hiểu nhầm nhau. Tôi không cho rằng a la hán có thể vượt qua được những giới hạn về thần kinh và ngôn ngữ như vậy. Nếu không thì Đức Phật đã cứu độ hết mọi người rồi.

Nói thêm một chút về ý 2. Theo tôi hiểu, quán niệm tức là quan sát suy nghĩ của bản thân thế nào. Ví dụ như khi bạn giận thì bạn sẽ nói là “tôi đang giận”. Nhưng khi bạn thấy tên cướp rút dao ra mà bạn lại quán niệm là “tôi thấy tên cướp rút dao ra”, thì thôi cổ bạn đứt làm đôi rồi.

Một độc giả nói với tôi là qua kinh nghiệm thực tế của bạn ấy thì việc tu tập nói chung hay thực tập quán niệm nói riêng sẽ khiến người hành giả linh hoạt, sáng suốt, phản ứng nhanh nhạy hơn khi lâm sự. Tức là cái dụng của tâm ý nó đạt hiệu quả cao hơn, và tình trạng trên chẳng qua là do chưa hiểu đúng và chưa thực hành đúng việc quán niệm mà thôi. Tuy nhiên, bạn ấy cũng công nhận là những tình huống linh hoạt hơn đó không đòi hỏi việc phân tích, tính toán nhiều và dài hơi. Trong khi chuyện giúp đỡ lại có tính phân tích cao, vì dù bạn có trí tuệ đi chăng nữa thì vẫn phải vượt qua những rào cản ở ý 3. Có lẽ ý 2 này chỉ hợp lý khi kết hợp với các ý khác. Còn nếu đứng một mình thì phản bác của bạn ấy là hợp lý.

Cuối cùng, đây cũng là sự thực hành của cá nhân tôi, chứ không phải là chỉ là lý thuyết suông. Một người lý thuyết đến mấy cũng chỉ nói được vài trang là hết, chứ không thể nào chỉ ra được các vấn đề này một cách cặn kẽ và “rắc rối” như ở đây.

“Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề” (Cao Huy Thuần). Cách hiểu về từ bi trong Phật giáo rất đặt nặng chuyện phải thấy mùa xuân trước rồi mới làm.


II. Những vấn đề người từ bi gặp phải


Khi người được từ bi không coi bạn ra gì. Khi cho rằng bạn hiểu họ là một điều nguy hiểm

Rắc rối của từ bi ở ngay chỗ khiến nó trở nên khác biệt với sự trợ giúp thông thường: bạn không là gì trong mắt người bạn định giúp cả. Mặc dù từ bi, đi đến tận cùng, cũng chỉ đơn giản là giúp họ một cách vô vụ lợi, nhưng trên thực tế, nếu như sự giúp đỡ lúc nào cũng suôn sẻ, thì người ta chỉ cần dùng chữ “giúp đỡ” là đủ, không cần thêm “giúp đỡ vô vụ lợi”, lại càng chẳng cần phải tạo ra thêm khái niệm “từ bi” làm gì.

Từ bi, nghĩa là tìm cách làm cho họ bớt khổ, chỉ ra cho họ con đường họ nên đi. Nhưng để nói rằng họ đang lầm đường, thì bạn hẳn phải liều mạng kinh khủng. Bạn là ai mà dám cho rằng chỉ có mình mới đúng còn người khác thì sai? Nhưng hạnh phúc của người khác không phải là quá khó để thấy. Ta có thể tạo ra các ý nghĩa, hoặc thậm chí ngụy tạo ra các ý nghĩa để biện minh cho lối sống của mình, nhưng hạnh phúc thì không thể ngụy tạo. Một người có thực sự hạnh phúc hay không, tất cả những người xung quanh đều biết. Cái cảm giác hạnh phúc của họ là giả tạo là một cảm giác đáng tin, bắt nguồn từ việc họ không nhận ra những gì họ quan niệm là sai lầm. Nên, câu chuyện của từ bi cũng là câu chuyện làm đảo lộn toàn bộ quan niệm sống của họ.

Nhưng một lần nữa, bạn là ai mà dám cho rằng mình mới đúng còn họ thì sai? Vì biết làm đảo lộn thế giới quan của người khác là nguy hiểm, nên thứ đầu tiên bạn biết mình cần làm là lật lại quan niệm của chính mình trước. Bạn phải cởi mở, và có thể chấp nhận cái sai của mình một cách thoải mái nếu như nó hợp lý. Dám nói rằng người khác sai đồng nghĩa với việc dám nói rằng bản thân mình sai. Và không những dám đối diện với cái sai của mình, mà bạn còn chủ động tìm kiếm nó dù mọi thứ đều đang rất ổn. Nên, câu chuyện từ bi cũng là câu chuyện dám đối diện với cái sai của mình.

Dù trong thâm tâm ai cũng muốn đối diện với cái sai của mình, nhưng trên thực tế lại rất khó để làm. Có những vấn đề để hiểu thật cặn kẽ rất tốn thời gian và năng lượng, nên ta sẽ chỉ muốn tin vào cái trước giờ vẫn tin cho lành. Chính vì như thế, mà nhiều người cứ hơi phải suy nghĩ một chút là đã gắt lên, và nhiều người khác dù đã cố gắng để hỏi thêm một vài câu nhưng rốt cuộc vẫn thất bại trong việc không áp đặt ý kiến chủ quan. Bạn không hài lòng với khi bị đối xử như vậy, và bạn trông đợi bản thân làm tốt hơn thế. Để không giết chết người khác bằng lòng tốt, thì phải đối diện với cái sai của mình cho bằng được. Thậm chí, bạn còn phải chủ động tìm kiếm cái sai đó ngay khi mọi thứ đều đang rất ổn nữa.

Đó là chưa kể, nói rằng bạn hiểu rõ người ta nghĩa là nói rằng bạn có thể điều khiển họ theo ý mình. Đi guốc trong bụng họ nghĩa là bạn có thể phản bội họ bất cứ lúc nào. Điều này sẽ làm bạn sợ bản thân mình khủng khiếp.

Sai một li đi một dặm. Vì từ bi và thứ na ná từ bi chỉ cách nhau bằng một lằn ranh mơ hồ, nên bạn sẽ cương quyết giữ vững sự tò mò của mình. Vì biết rằng hoài nghi cảm xúc của bản thân là con đường duy nhất để giúp họ một cách không định kiến, nên bạn sẽ tự nhủ sẽ luôn đặt câu hỏi bất kể bên trong đang phản đối dữ dội thế nào. Sống chết gì cũng phải làm được điều đó. Và bạn sẽ làm một cách nghiêm túc, chứ không phải một hai lần cho có lệ. Nó cần trở thành một thói quen để khi gặp chuyện thì có thể làm mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Sự tò mò của bạn có được áp dụng một cách triệt để hay không sẽ quyết định sự thành công của sự từ bi của bạn. Từ bi lúc này cũng là niềm vui khám phá.

Khi sự tò mò được cương quyết bảo vệ. Khi việc từ chối nói cái đúng trở thành quán tính

Kết quả của việc bảo vệ sự tò mò của mình bằng bất kỳ giá nào là một cách vô thức sẽ bạn sẽ không bao giờ nói hoặc làm cái mình nghĩ là đúng hoặc cần thiết. Bạn sẽ làm những thứ ngốc nghếch để xác định điều bạn biết thừa là đúng. Chừng nào bạn còn chưa thấy mình bị khủng hoảng niềm tin, bạn còn chưa hài lòng. Và quả thật, vì mỗi lần làm như vậy bạn lại nhìn ra một góc nhìn mới, và thấy những thứ mình nghĩ là hai năm rõ mười hóa ra không phải, nên bạn càng có lý do để làm điều đó. Điều này chưa từng có ngoại lệ, trăm lần như một.

Nhờ có những góc nhìn mới mà bạn mới thấy những lỗ hổng trong niềm tin của họ. Nhưng lời giải của bạn cho những lỗ hổng đó chỉ có họ mới có thể xác nhận là đúng hay sai. Nhưng dù nó đúng hay sai, thì bạn cũng cần phải nói ra thì họ mới có thể xác định được. Chỉ giữ nó ở trong lòng thì sự đúng sai của nó mãi mãi là bí ẩn. Nếu bạn xấu hổ vì nói ra điều mình nghĩ là đúng, thì thông tin quan trng đ gii quyết mâu thun sẽ không thể nói ra. Lập luận chặt chẽ thì hay đấy, nhưng nó chỉ làm bản thân thêm tin vào cái mình cho là đúng, chứ không giúp ích gì cho việc nuôi dưỡng trí tò mò với cái sai. Ngay cả khi bạn biết chắc là bạn có thể lật ngược vấn đề, bạn cũng sẽ từ chối đưa thông tin ra, vì bạn vẫn còn đang bận tìm xem mình đang sai ở đâu. Họ có thể thôi coi thường bạn, nhưng rất có thể bạn đang lừa gạt cả hai. Họ có thể tâm phục khẩu phục bạn, nhưng bạn lại không tâm phục khẩu phục chính bản thân mình.

Từ chối tin vào cảm xúc của mình cũng có nghĩa là từ chối tin rằng những cái họ nói là sai, là xấu. Bạn sẽ tìm cho kỳ được điều đúng, điều tốt trong những điều họ nói. Họ có nói sai thì bạn vẫn thấy cái đúng trong đó. Họ có hại bạn thì bạn vẫn thấy điều tốt đẹp trong đó. Một mặt, nhìn ra được những cái tốt, cái đúng ẩn đằng sau sẽ làm bạn trở thành người cởi mở và miễn nhiễm với mọi cực đoan, nhưng mặt khác, nó cũng là một dạng gaslighting bản thân, và về lâu dài điều này sẽ khiến cho bạn có dạng tính cách đồng phụ thuộc. Và như vậy, cả sự ức chế trong bạn và định kiến của họ không cách nào giải tỏa nổi.

Thế nên, mặc dù từ bi là câu chuyện không cho phép mình tin vào bất cứ suy nghĩ nào của bản thân, thì nó cũng là câu chuyện có dám làm điều ngược lại hay không. Nếu họ cũng như bạn, cũng từ chối cung cấp thông tin quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, thì bạn phải tìm cách thỏa mãn những chất vấn của bản thân để đi đến kết luận mà không có sự trả lời của họ. Cho tới khi nào bạn chưa thể khẳng định rằng mình đang đúng, thì bạn chỉ có thể đứng từ xa mà từ bi chứ cũng chẳng làm được gì thiết thực cả.

Nghĩa là, khi một người từ bi, họ được trao cho một quyền đặc biệt mà một không người lý trí nào dám nghĩ đến: quyền cho rằng mình đúng. Nhưng có dám sử dụng quyền đó hay không là cách duy nhất để hoàn thành công việc. Người từ bi có quyền được sử dụng quyền đó, và phải sử dụng quyền đó. Đó chính là bi kịch của người từ bi.


III. Khi bạn chưa thể cho phép mình sử dụng quyền đó


Đây là các rắc rối có thể có khi bạn chưa cho phép mình sử dụng quyền đó:

  • Rắc rối 1: bị nói là không biết tôn trọng sự khó chịu của họ
  • Rắc rối 2: phải chịu những hậu quả của dính mắc mặc dù mình không có
  • Rắc rối 3: người ngoài không hiểu bạn

Mời các bạn đọc tiếp.

Rắc rối của từ bi (bản ngắn)

Từ bi là gì?

Trong triết học Phật giáo, nếu tình cảm bạn đang có có được những yếu tố sau:

  • Từ (metta, loving-kindness/benevolence): lòng mong muốn đem lại hạnh phúc cho người khác
  • Bi (karuna, compassion): sự cảm thông, lòng trắc ẩn, mong muốn trút bỏ đau khổ cho họ
  • Hỷ (mudita, empathetic joy): vui với niềm vui của người khác; hoàn toàn không cảm thấy ghen tị với hạnh phúc, thành công của họ
  • Xả (upekkha, equaminity): không còn vướng bận tham sân si, hiểu được tính vô thường của mọi sự, và nhận ra ai cũng đồng đẳng với mình, tuy hai mà một

… thì tình cảm đó chính là tình yêu đích thực. Bốn yếu tố này gọi là t vô lưng (brahmavihara, four immeasurables).

Bạn có thể nghe bài nói chuyện này để hiểu thêm:

Có vẻ như khái niệm “từ bi” không được dùng một cách thống nhất. Có khi nó là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”, có khi chỉ để chỉ tâm từ (loving-kindness), có khi chỉ để chỉ tâm bi (compassion), có khi để chỉ cả từ lẫn bi (tức là… từ bi). Nhưng vì dù sao chúng cũng hay đi chung với nhau nên chắc cũng không quan trọng lắm.

Vậy từ bi là gì? Khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó cao cả hơn. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.

Từ bi làm dính mắc trở thành không dính mắc

Trong công việc hằng ngày, sẽ có những lúc bạn cần làm những thứ sau, và với người ngoài, nhất là với những ai theo Phật giáo, nó có thể gây ra hiểu lầm không đáng:

  • Nâng cao năng suất lao động: Để có thể làm công việc một cách hiệu quả, bạn cần lên kế hoạch dài hạn, và rút kinh nghiệm từ quá khứ. Nhưng tưởng tượng ra tương lai hay nhìn lại quá khứ thì đều là xem những thứ không có thật là thật. Bạn cần phải thấy thứ chưa thành hiện thực có thể thành hiện thực thì mới có lý do để làm. Nên nhìn từ ngoài vào thì sẽ chỉ thấy bạn đang sống với những thứ không có thật/những thứ đã qua
  • Cần sự chú ý của người khác: Khi làm việc sẽ có những lúc bạn cần sự đồng ý của người khác để tiếp tục. Nếu họ chưa cảm thấy cần phải chú ý tới vấn đề của bạn thì tất nhiên bạn cần khơi gợi sự chú ý của họ. Nhưng nhìn từ ngoài vào thì sẽ không thấy nó khác gì bạn đang mong họ quan tâm tới bạn
  • Không chấp nhận luận điểm của người khác: Chấp nhận nhiều quan điểm khác biệt là một chuyện, nhưng thấy rằng họ tự mâu thuẫn với điều họ muốn là chuyện khác. Khi họ lập luận thiếu căn cứ thì bạn có quyền phủ nhận nó, nhưng nhìn từ ngoài thì sẽ thấy không khác gì bạn chỉ cho rằng bạn đúng
  • Cần hiển ngôn những cảm giác để không hiểu lầm: cái này thật ra là ý thứ 3, chỉ là nói theo một cách khác

Không chỉ đứng từ ngoài nhìn vào khó mà biết được bạn có đang dính mắc (attach) hay không khi đang có những thứ này, mà ngay cả bạn nhiều khi cũng hoang mang không biết. Cách chắc chắn nhất để biết là mình đang không dính mắc là ở trạng thái giác ngộ/niết bàn. Nhưng thiền định tốn rất nhiều năng lượng để tập trung; thứ bạn cần là tập trung vào công việc chứ không phải là suốt ngày xem mình có đang dính mắc gì không. Mình nghĩ có lẽ trạng thái giác ngộ không phù hợp cho công việc trí óc. Nhưng nếu bạn làm điều đó vì từ bi, thì dù không ở trạng thái ngộ bạn vẫn có thể khẳng định là mình không dính mắc.

Vì nhờ có từ bi mà bạn có thể đảm bảo mình luôn không phân biệt dù đang không ở trạng thái giác ngộ, nên bạn giảm được một nỗi lo lắng (tức là giảm khối lượng thông tin cần xử lý). Lúc đó dù bạn có việc phải làm cho bằng được, một việc mà bề ngoài trông như dính mắc 100%, thì bạn vẫn có thể bỏ qua dị nghị để tiếp tục. Tất cả những gì bạn cần là đảm bảo rằng công việc bạn làm thật sự thứ giúp ích cho người khác trước lúc bạn bắt tay vào làm là được. Sau đó thì vô tư làm việc.

Bạn có thể thấy điều này qua cách viện Mind & Life thiết kế email gửi cho những người nhận tin. Viện Mind & Life là viện nghiên cứu khoa học do Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 hợp tác cùng các nhà khoa học để nghiên cứu về những điều Phật giáo quan tâm. Nếu là do chính Đạt Lai Lạt Ma sáng lập, thì những hoạt động của nó hẳn sẽ mang tính Phật giáo rất cao. Vậy, ta hãy xem một mẩu email của nó được thiết kế như thế nào:

Machine generated alternative text:
PEACE Grants 
We're thrilled to 
announce the 2019 
PEACE Grant 
Our PEACE 
Grants support 
research on novel 
interdisciplinary 
approaches tor 
investigating and 
promoting wholesome 
mental qualities related 
to Prosociality, 
Empathy, Altruism, 
Compassion, and 
Ethics (PEACE). This year, we're excited to support projects on: nurturing empathetic 
happiness in children through contemplative parenting; improving romantic relationships; 
supporting post-war populations in Colombia and Uganda; fostering tolerant political 
behavior; and examining lovingkindness practice witn brain imaging in diverse 
communities and brains. 
Congratulations to all the winners, and we look torv.'ard to the results of these innovative 
Leam about the latest PEACE projects »

Cách thiết kế email là tạo phấn khích ở người đọc, muốn họ tham gia ngay không chần chừ nữa. Những phần được bôi vàng: thrilled, excited, look forward, nút call-to-action, v.v. đều là để tạo “nghiệp”. Trong những cảm xúc này, sẽ không có chánh kiến, chánh niệm gì cả. Nhưng nếu bảo là viện này đang dính mắc thì có vẻ hơi mâu thuẫn. Vậy chỉ có thể nói là nó chỉ trông như dính mắc thôi, chứ không thật sự là dính mắc.

Nên mình nghĩ từ bi (hoặc nói rộng hơn là suy nghĩ cho người khác) có hai chức năng chính sau:

  • Phi phân biệt hóa mọi suy nghĩ phân biệt
  • Làm giảm khối lượng thông tin cần xử lý

Rắc rối của từ bi

Trong mắt họ, bạn chẳng là gì cả

Rắc rối của nó ở ngay chỗ khác biệt giữa từ bi và sự trợ giúp thông thường: bạn không là gì trong mắt người bạn định giúp cả. Sẽ có những lúc bạn biết việc mình đang làm sẽ làm họ từ thích sang ghét mình, hoặc đang ghét còn ghét hơn, nhưng nếu bạn có bng chng rõ ràng là họ cần được giúp, và bạn có khả năng giúp, thì không có lý do gì để việc giúp họ là sai cả, bất kể họ có ưa bạn hay không. Vấn đề là, lúc đó bạn sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho hai ngờ vực sau:

  • Liệu bạn có chắc đây thực sự là từ bi, chứ không phải là dính mắc của bạn (để được đổi lại một cái gì đó)?
  • Nếu bạn không phải là họ, sao bạn có thể biết chắc chắn là đây là điều họ thực sự cần?

Tất nhiên khi bạn tht s từ bi, thì hai câu này quá dễ để trả lời. Vấn đề là không chỉ người được giúp mà còn tất cả những người khác cũng sẽ trả lời giùm bạn luôn. Không chỉ trả lời giùm, mà họ còn phát hoảng lên vì nghĩ rằng bạn chính là nhà độc tài vĩ đại nhất mọi thời đại, luôn áp đặt người khác phải theo ý mình. Mệt lắm.

Tất nhiên, trên tinh thần Phật giáo, họ có thể tự lựa chọn xem họ có cần quan điểm của bạn hay không. Giúp được gì thì giúp, ai nghe thì nghe không nghe thì thôi. Nhưng cũng giống như Jesus vậy, dù có bị ghét thì cũng không vì thế mà ông ấy thôi nghĩ tốt cho họ. Ông ấy vẫn cứ tiếp tục làm thứ cần làm, không bắt ai phải nghe ông ấy cả. Bạn cũng vậy, nếu họ không tin thì bạn cũng không bắt họ phải nghe mình. Nhưng dù bạn không bắt họ nghe, thì họ lại bắt bạn nói, mà dù có nói hay không thì họ vẫn không tin. Họ sẽ chỉ thấy rằng bạn chấp niệm, vì đúng là từ ngoài nhìn vào họ chỉ thấy bạn vừa không đồng ý với quan điểm của họ, lại vừa cần họ chấp nhận suy nghĩ của mình. Nhưng thật ra, chỉ là bạn thấy họ đang có quan điểm đang làm hại chính họ, và bạn thì lại có khả năng giúp.

Hai câu hỏi đó sẽ là khởi đầu cho một loạt những nghi ngờ trời ơi đất hỡi mà mình thề là ngay cả người có trí tưởng tượng phong phú nhất cũng không thể nghĩ nổi sao mà người ta lại nghĩ ra được. Họ sẽ phạm vào vô vàn lỗi lập luận mà bạn sẽ thấy là vô cùng buồn cười. Nản nhất là ở chỗ bạn biết là bạn có thể trả lời được hết, nhưng bị hỏi đột ngột thì bạn không tài nào trả lời được. Đơn giản là vì nghi ngờ quá ư là không liên quan, mà nó lại nghe rất liên quan. Nó không liên quan là vì bằng trực giác bạn biết là những chất vấn đó chỉ đến từ sự phòng vệ, và người có đầu óc cởi mở sẽ không hỏi chúng, nên bạn không dành sự chuẩn bị cho chúng. Nhưng nó cũng lại liên quan vì quả thực bạn cũng muốn ngẫm nghĩ chúng để chắc ăn là mình không sai. Nên thành ra mỗi lần bị chất vấn bạn đều ở trong trạng thái thiếu chuẩn bị, dù bạn đã chuẩn bị rất kỹ.

Cái này thông qua hình thức trả lời online thì được, chứ trả lời trực tiếp thì thú thật mình cũng bó tay. Trường hợp của mình, mình đã phải lập hẳn một cái FAQ dài cỡ 20 trang, mà lúc nào cũng ở trong tình trạng không chuẩn bị kịp là đủ hiểu rồi. Bạn sẽ phải kiên nhẫn lắm luôn.

Xác định thái độ từ bi cũng chính là xác định thái độ bị hiểu lầm

Khi xác định thái độ từ bi, nghĩa là bạn đã có quyết tâm làm người tốt và tuân thủ logic. Để đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi thì bạn đã phải tự kiểm tra bản thân không biết là bao nhiêu lần. Bạn chẳng bắt họ phải nghe suy nghĩ của mình gì cả, chỉ là khi họ bắt bạn nói thì bạn mời họ cũng thử dùng logic để thấy rằng đây hoàn toàn là tốt cho họ thôi. Họ luôn khẳng định là họ biết nghĩ cho người khác và dùng lý trí để suy xét, nhưng họ lại không thể nào xử lý nổi thông tin bạn đưa ra. Họ sẽ không nhìn vào bằng chứng, nhưng lại kết luận là bạn không có bằng chứng. Sự mâu thuẫn đó làm bạn không thể nào không thấy buồn cười được. Mà bạn càng cảm thấy buồn cười, thì bạn càng cảm thấy ngán ngẩm không muốn giải thích gì thêm.

Bạn chỉ có thể làm xong việc khi người kia chịu lắng nghe không định kiến. Nhưng làm sao để họ chịu lắng nghe không định kiến trong khi họ đang không chịu lắng nghe và có định kiến? Bạn sẽ phải xuống nước, phải mềm mỏng, phải dỗ dành. Nhưng bạn đâu cần họ quan tâm tới bạn, bạn chỉ cần họ quan tâm tới vấn đề của chính họ thôi mà? Họ có quan tâm tới bạn hay không thì liên quan gì? Chỉ vì bạn không nỡ bỏ mặc họ, mà họ lại càng có lý do để tin là bạn còn mắc kẹt. Haizz.

Lời khuyên cho những ai có ý định từ bi với một người đang ghét mình là tập thói quen ghi chú cẩn thận. Sau nhiều lần thử nghiệm thì mình thấy OneNote và Google Keep dùng rất thích. Zoho Notebook cũng có vẻ khá tốt, nhưng app trên điện thoại giựt quá nên chắc chỉ ai có điện thoại xịn mới chạy nổi.

Dù sao nếu bạn có quyết tâm rất lớn trong việc giúp họ thoát khỏi vấn đề, thì bạn phải có tình cảm rất lớn với họ. Trong quá trình giúp họ các yếu tố tâm lý sẽ phát triển, và bạn sẽ hồi hộp, lo lắng, sợ hãi, mong đợi như bất cứ ai đang còn dính mắc. Nói như trong tâm lý học thì đây chính là mối quan hệ song đôi. Như đã nói ở phần trên, bạn có thể yên tâm mà làm, nhưng khi khi chúng nổi lên thì bạn phải tỉnh táo kéo mình về. Bạn cần phải bóc tách chúng ra và cắt đứt triệt để mong cầu của mình. Và bạn sẽ phải tập luyện hằng ngày, để khi có dịp tiếp xúc với họ thì bạn lạnh như băng, và sự mong cầu sẽ không nổi lên làm nhiễu thông điệp của bạn. Bạn phải đảm bảo thật chắc chắn là hành động và sự quan tâm của bạn dứt khoát và khoan thai như một người chỉ có duy nhất sự từ bi dành cho họ thì họ mới tin. Sẽ là tốn thời gian đấy.

Xem thêm: What is the view of Buddhism in correcting others’ view in spite of their willingness to accept it?

Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Phản biện cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm

Lời mở đầu

Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.

Đã có vô số bài viết bày tỏ niềm yêu mến với cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm của ông Masanobu Fukuoka, mà bài viết Cuộc cách mạng một cọng rơm: cuốn sách lạ và quý của tác giả Nguyên Ngọc, đăng trên báo Người Đô Thị, là một đại diện cho những niềm yêu mến đó. Nhưng chỉ cần lướt qua vài review trên Goodreads, bạn sẽ thấy số ý kiến gay gắt phản đối sự cực đoan của ông ấy cũng không hề nhỏ. Và kỳ lạ hơn nữa, dường như hai bên đều không phủ nhận nhau. Bên phản đối thì không phủ nhận cái hay của nó, còn bên ủng hộ thì cũng không thấy nói là bên kia sai. Những người đứng giữa thì vừa khen vừa chê, chứ cũng không lý giải được tại sao một quan điểm hay như vậy lại thành ra cực đoan, kiêu ngạo.

Cũng như nhiều người trong số họ, tôi cũng bối rối. Một mặt tôi cũng muốn nếu có dịp cũng tự tạo một khu vườn như ông ấy. Mặt khác tôi thấy ông ấy như dựng bù nhìn rơm vào khoa học vậy. Tôi đọc cuốn này lúc nó mới xuất bản ở Việt Nam, và lúc đó tự nhủ là sau này sẽ nhất định làm một bài phản biện cho bằng được. Tôi nghĩ, những lời tán dương ông ấy cũng nghe nhiều rồi, những lời chỉ trích chắc còn nghe nhiều hơn. Nhưng cả hai đều không thể bằng được một lần thấy rằng mình đang nhầm lẫn một cách thỏa đáng. Cái mong muốn dài ba mươi, bốn mươi năm đó nên được đáp ứng một lần. Nên hôm nay tôi sẽ thử góp một chút lời cho chuyện đó.

Bài viết chia làm 3 phần:

  1. Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa
  2. Thứ ông ấy làm lại chính là khoa học đúng nghĩa
  3. Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Lưu ý: tác giả bài viết này chưa đọc về triết học trong khoa học, hay khoa học học. Lương tâm của tác giả bị cắn rứt khi nói những điều mình có thể chưa hiểu rõ. Nhưng có lẽ đây là lúc nên mạnh dạn dẹp sự xấu hổ đó qua một bên để làm điều cần thiết. Cứ tạm viết ra đã, rồi sau đó nhờ người có hiểu biết chỉnh sửa sau cũng không muộn.

Vị trí trong sách của những câu trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.

Ban đầu tôi đứng về phía phản đối để viết bài này, và nó chỉ có 3 phần trên. Sau khi đăng lên, tôi đã có dịp trò chuyện với người dịch cuốn sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều, và tôi phát triển chúng thành các phần sau:

  1. Lý do tại sao mọi người cảm thấy ông ấy thật cao ngạo
  2. Cái sai nghiêm trọng của các nhà khoa học mà ông ấy muốn cảnh tỉnh (nói theo cách các nhà khoa học đều thấy thỏa mãn)
  3. Cách để quay lại Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Bạn có thể đọc thẳng phần đó nếu thích, hoặc bấm Bắt đầu để đọc từ đầu đến cuối. Tôi hy vọng bài viết này sẽ làm cả hai bên cảm thấy thỏa mãn.

Phần 1: Thứ ông ấy nghĩ không phải là khoa học đúng nghĩa

Ông Fukuoka nói:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến chỗ xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho. Người ta làm thế hết lần này đến lần khác. Giống như một gã ngốc dẫm đạp lên mái nhà mình làm vỡ hết ngói. Rồi khi trời bắt đầu mưa và trần nhà bắt đầu rữa ra, hắn mới vội vàng trèo lên chắp vá những chỗ hư hỏng, cuối cùng thì nhảy cẫng lên vui mừng vì mình đã hoàn thành một giải pháp phi thường.

Với nhà khoa học thì cũng tương tự như vậy. Ông ta mải mê đọc sách đêm ngày, căng hết cả mắt ra tới mức trở nên cận thị, mà nếu ta có hỏi ông ta làm cái gì trong suốt thời gian đó – thì đấy là để trở thành nhà phát minh ra kính cận. (19)

Có một câu nói thế này của Cao Huy Thuần: “Một con én mải miết đưa thoi. Mùa xuân có đến hay không, én không đặt vấn đề”. Vậy tại sao đến lúc mùa xuân tới rồi, thì lại quay sang nói con én là xa rời tự nhiên, là cưỡng cầu, là mắc dính? Việc làm ra kính cận là điều cần thiết, tại sao lại phải chê?

Cái ông ấy chê không phải là việc làm ra kính cận, mà là cái này:

Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa

Nhưng có thật là vậy không? Tất nhiên không nên chỉ hiểu là ông ấy chê những người làm ăn gian dối, vì lợi nhuận, mà là đang chê sự vô tình phân biệt nhị nguyên trong tâm trí. Nhưng có thật là họ đang phân biệt nhị nguyên không? Và sự phân biệt đó có thật là đi ngược tự nhiên không?

Khoa học trong mắt ông ấy là thế này:

Đấy là bởi vì vai trò của khoa học gia trong xã hội cũng tương tự như vai trò của trí phân biệt trong tâm trí của chính chúng ta. (95)

Đó có vẻ không phải là hiểu biết chính xác về khoa học.

Khoa học, theo đúng nghĩa của nó, là phải có sự kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu như “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Với những câu không thể kiểm sai được như vậy, khoa học không quan tâm.

Xuyên suốt quyển sách, tôi không thấy một lời nào nói về tính kiểm sai đó cả. “Khoa học”, trong mắt ông ấy, chỉ là sự vô tình tách biệt khỏi tự nhiên, vô tình phá hoại nó bằng sự nhiệt tình. Ông ấy khẳng định thế này:

Hơn nữa, các nhà khoa học, bất kể họ nghiên cứu thiên nhiên bao nhiêu và bao xa, cuối cùng cũng chỉ đi đến nhận ra thiên nhiên hoàn hảo và bí ẩn tới mức nào. Tin rằng nhờ vào việc nghiên cứu và bằng phát kiến, nhân loại có thể tạo ra một cái gì đó tốt hơn cả tự nhiên là điều ảo tưởng. Tôi nghĩ rằng người ta đang gắng sức không vì lý do nào khác hơn là để biết được cái mà ta có thể gọi là sự ‘bất khả tư nghị’ về cái bao la của tự nhiên. (66)

Ông ấy nói rằng sau khi nghiên cứu thiên nhiên thì các nhà khoa học sẽ chỉ nhận ra rằng thiên nhiên bí ẩn và hoàn hảo. Liệu đó là điều khoa học nói, hay là điều ông ấy cho rằng khoa học nói? Ông ấy không một lần nào nhắc tới tính kiểm sai của khoa học, nhưng lại luôn khẳng định khoa học là phân biệt. Vậy việc dành cả đời mình chỉ để khẳng định với mọi người rằng khoa học là phân biệt liệu có phải là đang phân biệt không? Và rốt cuộc thì, liệu có thật sự là khoa học phân biệt không?

Ông ấy nói:

Một phương pháp kiểm nghiệm khoa học mà đưa được tất cả các yếu tố liên quan vào xem xét là điều bất khả thi. (46)

Cứ cho là như vậy đi, nhưng vậy rồi sao? Nếu người trong cuộc không phàn nàn gì về điều đó, vậy tại sao người ngoài cuộc phải phàn nàn giùm? Ngay từ đầu khoa học đã chẳng màng tới điều đó; thứ duy nhất nó quan tâm chỉ là việc lời nói ra có kiểm sai được hay không. Phân biệt hay không phân biệt, cặp mắt nào được việc hơn thì nó sẽ dùng. Ép nó phải dùng cặp mắt này mà không dùng cặp mắt kia, liệu có hơi thô bạo chăng?

Ông ấy hỏi học bằng tiến sĩ để làm gì (46). Để làm gì ư? Để không làm gì chứ còn để làm gì nữa? Để coi mình là một phần của tự nhiên. Để không phải sợ hãi những thứ không có thật. Để có thể nhân ái với nhau hơn. Liệu nói như thế có đúng ý ông ấy chăng?

Ông ấy nói:

Người ta nói rằng Einstein được trao giải Nobel vật lý là do độ khó hiểu của thuyết tương đối mà ông ta đưa ra. (95)

What? Ông ấy có đùa không? Câu này chỉ là câu nói đùa, vậy mà ông ấy xem nó như thật rồi dựa toàn bộ phê phán của mình lên trên câu nói ấy. Đáng ra ông ấy chỉ cần hỏi các nhà khoa học “này các anh, đây có phải là ý các anh muốn nói không”, thì lúc đó mọi hiểu lầm sẽ được giải quyết. Đành rằng vào thập niên 1970 thì khó mà email cho Einstein thiệt, nhưng quan trọng là ông ấy có suy nghĩ rằng nhỡ đâu mình đang nghĩ sai về Einstein hay không? Hay như chính lời ông ấy nói, cách làm không quan trọng, quan trọng là có nhận thức ra được không (31).

Không phải là ông ấy không đặt những câu hỏi như vậy. Nhưng sau khi hỏi, ông ấy lại nhảy ngay lập tức tới kết luận tiêu cực mà chưa thử tìm cách nghĩ ngược lại, chưa thử kiếm bằng chứng chống lại mình. Đây đâu phải là vượt lên trên suy nghĩ nhị nguyên; đây chỉ đơn giản là lỗi lập luận sơ đẳng mà thôi. Có vẻ như, các từ khoá như “hóa chất” hay “khoa học” sẽ luôn chặn đứng khả năng không phân biệt mà ông ấy vốn có.

Ông ấy nói:

Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. Tôi gần như biết về những điều sai sót có thể xảy ra khi trồng cây nông nghiệp nhiều hơn bất kỳ ai khác ở Nhật. Lần đầu thành công trong việc trồng lúa và ngũ cốc mùa đông bằng phương pháp vô canh, tôi cảm thấy vui sướng như Columbus hẳn đã cảm thấy khi ông tìm ra châu Mỹ. (34)

Vậy ông ấy vui sướng như Columbus, nhưng lại coi khinh Einstein. Ông ấy nói rằng “Thậm chí nếu chỉ gọi tên cây cối, một cây quýt thuộc họ cam quýt, một cây thông thuộc họ thông, thì tự nhiên đã không còn được thấy trong đúng nguyên bản của nó nữa” (24). Vậy nhưng ông ấy lại gọi Columbus là Columbus, gọi Einstein là Einstein. Chuyện đó có mâu thuẫn không? Hay là ông ấy chọn người này bỏ người kia để thuận tiện cho lập luận của mình?

Mà nói về chuyện vui sướng, thì người vui sướng nhất phải là Einstein mới đúng chứ? Ông ấy đến Mỹ là để trốn phát xít Đức cơ mà. Còn Columbus chỉ đang muốn đi đường tắt tới Ấn Độ thôi. Cảm giác khi đến châu Mỹ của Columbus chắc phải là chưng hửng mới đúng.

Quyển sách của ông ấy có bao nhiêu từ thì tôi đã thấy ông ấy phân biệt bấy nhiêu lần. Phân biệt giữa “ngũ cốc” và “đào hang”, giữa “đồng lúa cân bằng sinh thái” và “cộng đồng côn trùng và thực vật”. Ông ấy có thể bảo: “ừ thì chúng ta không thể thoát khỏi ngôn ngữ, nhưng ý của tôi là một thứ cao hơn”. Vậy thì ta cũng có thể nói ngược lại: “nếu chúng ta không thể thoát khỏi nó, thì đừng lảng tránh nó nữa, mà hãy đối diện với nó, đón chào nó như một người bạn”. Xem ra cũng chẳng khác biệt nhau là mấy.

Vậy tại sao một người dành cả tuổi trẻ hăng say để làm khoa học như ông ấy lại không hiểu gì về khoa học? Ông ấy cũng trả lời luôn:

Nhưng thực ra trong suốt tám năm đó, tôi ngẫm nghĩ về mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên. Nền nông nghiệp hoá chất, sử dụng những sản phẩm của trí tuệ con người, đã được xem là siêu việt hơn. Câu hỏi luôn lởn vởn trong tâm trí tôi là liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không. (17)

Vậy là trong tám năm đó, ông ấy ngẫm nghĩ về “mối liên hệ giữa khoa học nông nghiệp và nông nghiệp tự nhiên”, chứ không phải là “bản chất của khoa học”. Thứ lởn vởn trong tâm trí ông ấy là “liệu nông nghiệp tự nhiên có thể đứng lên sánh ngang với khoa học hiện đại hay không”, chứ không phải là “khi nào thì một suy luận được xem là có cơ sở khoa học”, hay là “liệu tính kiểm sai có phải là phán quyết cuối cùng cho công cuộc hiểu biết tự nhiên hay không”. Chưa kể, ông ấy làm công việc khoa học, nhưng đầu óc không dành cho nó. Vậy thì cũng đâu thể gọi là hiểu được nó đâu?

Thật sự là các nhà khoa học không cần hiểu lắm bản chất của nó, chỉ cần nắm vững một số nguyên lý thực hành là có thể làm được. Có người là thầy, có người là thợ. Có những người thợ là thầy của những người khác. Có những người thầy là thợ của những người khác. Người làm trong một chuyên môn cụ thể không nhất thiết phải đọc triết học, đặc biệt là các ngành thực nghiệm như sinh học hay khoa học nông nghiệp. Ngay cả toán học cũng vậy. Người ta nói toán học như ngôi nhà được xây trên cát, vì nền tảng của nó đang có vô số lỗ hổng. Vậy nhưng các nhà toán học không quan tâm, mà outsource hết cho triết gia. Biết thì tốt, còn không biết thì cũng không quá nghiêm trọng. Bạn cũng đâu có một lần mảy may áy náy khi đọc những dòng này mà không biết cách hoạt động của chip máy tính đúng không?

Vì vậy, việc ông ấy làm khoa học mà không hiểu về bản chất của nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng không hiểu mà vẫn làm được là một chuyện, không hiểu mà phê phán người khác lại là chuyện khác.