Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Truyện cười vật lý

Một anh kỹ sư và một anh vật lý thuê chung một căn nhà. Một hôm, anh vật lý đi chơi, anh kỹ sư ở nhà ngủ. Nhà đột nhiên cháy to. Anh kỹ sư liền bật dậy, chộp ngay bình cứu hỏa, xịt cho đến khi lửa tắt. Sau đó anh yên tâm đi ngủ.

Ngày hôm sau, tới lượt anh kỹ sư đi chơi, anh vật lý ở nhà ngủ. Nhà lại cháy to tiếp. Anh vật lý chậm rãi đứng dậy, đến chỗ đám lửa ghi ghi chép chép tất cả các phương trình anh ta biết. Bài toán quá khó, anh vẫn chưa biết là mình có thể giải được nó chưa. Khi đang lơ đãng nhìn lên tường nhà, anh bỗng nhiên thấy cái bình cứu hỏa. Một tia chớp lóe sáng trong đầu anh, kết nối tất cả những gì anh biết về nó. Anh kết luận: tồn tại một nghiệm cho phương trình này. Lúc ấy, cuộc đời anh trở nên viên mãn, và anh yên tâm đi ngủ.

Nơi cuối trời

Nơi cuối trời nằm ngay trong tầm mắt
Tuy xa xôi nhưng muốn đến là được
Nhớ đem theo bia rượu hay đồ nhắm
Ra đó ngồi tha hồ ngắm nhân gian

Tại nơi ấy quá khứ gặp tương lai
Những hồi tưởng ùa về trong tiềm thức
Bốn mùa, buồn vui, tuổi thơ, chiếc lá
Ta gặp lại tất cả ở một nơi.

Khi những ký ức phai mờ đi, ta sẽ có cảm giác như nó đang trôi về nơi vô tận. Nhưng bạn có biết, thật ra cái gọi là vô tận, là vĩnh viễn ấy lại nằm ở ngay nơi bạn đứng? Ta đâu phải mất công truy tìm gì nữa, khi mà những thứ ta cần tìm đang nằm ngay dưới chân ta? Điều kiện duy nhất để đến được nơi ấy, hiển nhiên, là ta muốn ra đến đấy.

Ý của tôi là, chỉ cần ta thay đổi được góc nhìn bản thân, thì mọi chuyện sẽ tự nó giải quyết. Nếu ta đang sợ một cái gì đó, thì một góc nhìn mới sẽ làm ta bật ngửa ra tự hỏi: “ủa, mắc gì mình phải sợ cái này?” Thật sự rất thú vị khi thấy những nỗi sợ của bản thân đột ngột biến mất.

Nếu như nỗi sợ vẫn còn quá lớn, hãy nhìn vào trong gương, ta sẽ thấy một người luôn dõi theo từng bước chân ta. Họ là quá khứ của ta, là tương lai của ta, là đứa trẻ trong ta, là người thầy ta tôn trọng tuyệt đối. Họ sẽ luôn ở bên cạnh ta bất kể điều gì, nhưng họ chỉ có thể đứng nhìn ta từ xa. Họ sẽ rất thất vọng nếu như ta không tự mình bước ra khỏi những nỗi sợ vô lý. Và ta không hề muốn họ thất vọng chút nào.

Nhận ra được điều đơn giản ấy, thì lòng ta sẽ như mặt hồ phẳng lặng không gợn một chút sóng nhiễu, như bầu trời trong xanh không gợn một chút mây che. Ánh nhìn của ta sẽ trở lại bình thản, và ta sẽ có trong tay một thanh gươm có thể cắt đứt mọi sự sợ hãi.

Đó là vài suy nghĩ của tôi khi đọc xong tập thơ Dấu vết thiên di. Không liên quan gì đến thiên di, cũng chẳng liên quan gì tới dấu vết. Nhưng hy vọng nó đã đạt đúng tiêu chí của tác giả: mở ra một thế giới suy tưởng riêng của mình.

Tranh luận hiền hòa

Mọi người cũng biết, tranh luận là tốt. Ai tham gia tranh luận cũng mong suy nghĩ của mình giúp ích được cho người khác, chứ không mong áp đặt người khác phải theo ý mình. Tuy nhiên, nói thì dễ làm mới khó, nhiều khi muốn tự soi chiếu mình mà cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Vì vậy, mình xin trình bày một số “cơ sở lý thuyết” mình góp nhặt được mấy năm qua để việc tự soi chiếu bản thân dễ dàng hơn. Chúng là các khái niệm trong tâm lý học xã hội và tâm lý học nhận thức.

Những rào cản có thể xảy ra khi tranh luận

  • Naïve realism: xu hướng tin rằng ta khách quan và không thiên kiến, và thấy những ai bất đồng với mình là chưa hiểu rõ vấn đề hoặc phi lý. Cái này rất hay, vì khi ta tranh luận, một điều cơ bản là cả hai phải ngầm định rằng mình sẽ đạt đến sự thống nhất. Naïve realism được xem như là một trong bốn khám phá quan trọng nhất trong ngành tâm lý học xã hội.
  • Egocentrism: không nhận ra là cái mình nhìn khác với cái người khác nhìn; đánh đồng góc nhìn của người khác với góc nhìn của mình. Cái này khác với ái kỷ (egotism)
  • Illusion of transparency: luôn nghĩ rằng những thứ mình nói ra người khác sẽ hiểu hệt như mình. Có một thí nghiệm thế này: người tham dự sẽ được chia thành 2 nhóm: người gõ và người nghe. Nhiệm vụ của người gõ là sẽ chọn ra một bài hát bất kỳ và gõ nhịp của nó lên bàn. Nhiệm vụ của người nghe là đoán bài hát đó. Khi người gõ được hỏi là người nghe sẽ đoán trúng được bao nhiêu, họ đoán khoảng 50%. Thật ra tỉ lệ đoán trúng chỉ khoảng 3%.
  • Self-conscious emotions: những cảm xúc được sinh ra khi ta có ý thức về bản thân, như xấu hổ, mặc cảm, tội lỗi, ghen tị, kiêu hãnh, v.v. Trong đó kiêu hãnh/tự hào (pride) có lẽ là thứ khó chịu nhất.
  • Thought-terminating cliché: những câu nghe thì hay, cũng khá thuyết phục, nhưng bên trong chỉ là sáo rỗng, không giúp ích được gì cả. Chúng làm người nghe thêm ức chế, vì dù có thể dùng chúng để tạm xoa dịu vấn đề, nhưng không giúp họ xử lý được những vấn đề tương tự trong tương lai. Bản thân người nói cũng sẽ không thể áp dụng được khi chính họ gặp vấn đề. Ví dụ như “đời là thế, chịu thôi”, “hãy để tâm trí được cởi mở hơn”, hay “mỗi người mỗi ý”, v.v.

Những thứ có thể làm khi tranh luận

  • Socratic questioning: giả ngu và đặt câu hỏi mà ai cũng biết câu trả lời. Vì khi người được hỏi bị buộc phải trả lời những câu hỏi ngu ngu đó, thì họ mới tự nhận ra được vấn đề mình mắc kẹt là gì.
  • Assume good faith/Presumption of innocence/Suspension of judgment: ngay cả khi rõ mười mươi là họ đang có ý xấu, thì mình vẫn luôn tìm ra được điểm tốt trong đó, và giúp họ làm việc tốt đó. Còn những cái xấu họ làm thì đơn giản là phớt lờ. Vì khi họ làm vậy, thì họ đang mong mình phản ứng lại. Nhưng nếu mình không phản ứng lại, thì họ mới không làm điều đó nữa.
  • Perspective-taking: đặt mình vào góc nhìn của người khác (làm được điều này thì sẽ được xem là trưởng thành :P)

Tất cả những khái niệm này có thể được thực hiện thông qua một hành động duy nhất: tò mò.

Những thứ làm ta không thể làm những thứ trên

Đó chính là sự chú ý (attention). Vì ta chỉ có thể chú ý vào một thông tin trong một thời điểm, nên nếu ta đang vướng bận một cái gì đó, thì có muốn cũng không thể tập trung vào cái khác được. Mà nếu không thể tập trung vào chuyện của người khác, thì làm sao mà chấp nhận nhau?

Ngoài ra, trí nhớ (memory) cũng đóng vai trò quan trọng. Vì để có thể đặt mình vào vị trí của người khác, thì sẽ phải nhớ nhiều chi tiết, không chỉ của mình mà còn cả của người kia. Mà nhớ chuyện của mình còn không xong, thì cũng khó mà nhớ chuyện của người kia. Nhưng có nhớ chuyện của người kia, thì mới có thể đặt mình vào vị trí của họ được.

Đó là chưa kể, dù mình có thể vượt qua được tất cả những vấn đề này, thì sẽ tới lượt người kia cũng sẽ gặp phải chúng. Chừng nào một trong hai người còn chưa giải quyết hết được, thì sẽ còn hiểu nhầm ý của nhau. Và như vậy thì rất mệt.

Nhưng nếu có thể sắp xếp để vượt qua được những rào cản đó, thì việc dĩ hòa vi quý mà vẫn tôn trọng sự thật là điều nằm trong tầm tay.

Con mắt lạnh như băng

Bài viết dành cho những ai biết mình cần phải thay đổi, nhưng gom mãi mà không đủ quyết tâm. Hoặc cho những ai biết mình cần phải thoát ra khỏi sự sợ hãi hoặc ảo tưởng, nhưng không biết làm sao để cắt đứt chúng.

Xem phần giới thiệu trước →


Nam đang suy nghĩ về Linh. Mối quan hệ của họ thật không lành mạnh chút nào, vì những gì cô nói đều làm cho anh lúc thì như ở trên mây, lúc thì như dưới địa ngục. Nam biết anh cần phải thoát khỏi tình trạng này, nhưng anh phải làm sao đây?

Nam sẽ thoát khỏi được những cảm xúc đó nếu anh đạt được một góc nhìn mới. Khi đó, Nam sẽ không còn sợ, không còn kiêu, không còn thiên kiến, không còn vô tình bóp méo sự thật nữa. Tư duy của Nam sẽ sắc bén và tỉnh táo ở một góc nhìn mới.

Nhưng làm sao để có thể có được một góc nhìn mới, khi theo định nghĩa ta luôn bị kẹt trong một góc nhìn bản thân? Giả sử Linh làm Nam như rơi xuống địa ngục, làm sao để anh có thể thôi tức giận khi cô không có một chút gì gọi là hối hận? Anh đã thử hết mọi cách để cô hiểu lòng mình, nhưng thứ duy nhất anh thấy là cô đang trốn tránh, chống đối, coi thường, định kiến, phớt lờ, hoặc thậm chí là chế diễu anh. Anh cố gắng tách mình khỏi cô, nhưng nỗi căm giận luôn kéo đến bất ngờ, làm xáo trộn sinh hoạt của anh, làm anh kiệt quệ.

Như mọi khi, nếu như logic không thể dùng để giải quyết vấn đề, thì ta phải dùng đến trí tưởng tượng. Tất cả những gì Nam mong muốn là thấy được cảnh Linh thôi phớt lờ Nam nữa. Vậy nếu điều đó xảy ra, thì cô sẽ nói gì với anh? Đâu là thứ thực sự có khả năng cô sẽ nói nhất, chứ không phải là chỉ những tưởng tượng trong đầu anh? Nếu cô không còn hứng thú với anh, thì rất có thể, đây là thứ cô sẽ nói:

Anh sẽ làm gì để vượt qua nỗi đau này? Bởi vì nếu anh vượt qua được, thì tôi sẽ hối hận. Tôi sẽ giúp anh trả thù tôi, và tôi sẽ làm tất cả mọi thứ để lấy lại được niềm tin anh trao cho tôi. Nhưng trước hết, hãy cho tôi bằng chứng rằng anh là người mạnh mẽ.

Điều này thật bất ngờ, nhưng lại là thứ anh đã muốn nghe từ lâu. Cô, người đẩy anh vào đau khổ, giờ lại đòi hỏi anh trở nên mạnh mẽ. Một mặt, anh rất muốn đáp trả lại những gì cô đã gây ra cho anh, mặt khác trong cô vẫn có một thứ gì đó khiến anh rất muốn gắn bó. Phải hin ngôn được điều đó, thì anh mới nhận ra được mình cần gì. Một luồng điện chạy trong đầu anh, khiến cho tất cả mọi thứ anh biết về cô trở nên hợp lý, làm anh bật ra được câu hỏi mà anh đã phải hỏi mình từ rất lâu: “ủa, mắc gì mình phải khổ đến vậy?”

Lần đầu tiên trải nghiệm cái nhìn đó, anh sẽ có cảm giác nỗi sợ trong anh bị cắt làm đôi. Cái nhìn đó lnh như băng, cắt xuyên qua thân thể anh, như một bác sĩ phẫu thuật rạch da anh ra, cắt khối ung thư đang dày vò anh bao năm nay, và khâu vết mổ lại. Suốt cả buổi phẫu thuật vị bác sĩ không hề để lộ ra một chút gì gọi là đau xót cho bệnh nhân; điều duy nhất họ làm là chú tâm vào công việc cho đến khi hoàn thành. Anh phải đặt mạng sống của mình vào tay một người xa lạ, một người hoàn toàn không hề có một sợi dây liên kết gì với anh, vậy mà anh lại phải tin tưởng người đó tuyệt đối. Tất cả những ký ức riêng tư của anh từ trong ra ngoài đều được phơi bày dưới con mắt đó. Anh muốn che dấu lại để không bị tổn thương lần nữa, nhưng dưới con mắt đó, anh bị tê liệt. Đáng lẽ ánh mắt lạnh lùng đó sẽ làm anh rất đau, nhưng vì nó quá lạnh, anh lại không thấy đau gì cả.

Người có thể đảm nhận được vai trò bác sĩ cho ta phải là người ta luôn tôn trọng tuyệt đối. Họ là người mà bạn vẫn cảm thấy gắn bó và tin tưởng, dù nỗi đau lớn tới đâu. Đó có thể là người đã làm tổn thương bạn (như Linh đối với Nam), là một người bạn khác, hoặc là người bạn luôn thấy mỗi lần soi gương. Người trong gương đó có thể là quá khứ của ta, là tương lai của ta, là đứa trẻ trong ta, hoặc là người thầy của ta. Họ có đời sống của riêng họ, nhưng họ vẫn quan tâm tới ta. Bạn có tìm ra được chính bản thân mình hay vẫn đang lạc lối thì cũng không phải là việc của họ, tuy nhiên họ vẫn mong bạn được toàn thiện hơn. Bạn không muốn làm họ thất vọng chút nào, nhưng bạn lại đang làm họ vô cùng thất vọng.

Nhiều lúc ta cũng biết là ta đang bóp méo những thứ ta đang nhìn, nhưng vẫn không biết phải làm sao để cắt đứt. Nhưng khi mọi nỗi đau bị con mắt đó cắt đứt, ta sẽ có cảm giác rất lạ, hơi lâng lâng. Con mắt đó làm ta thấy được hết những thứ ta không để ý, chỉ ra cho ta thấy ta sai chỗ nào. Nó chỉ rõ sự mong cầu được đáp lại mà ta đang cố gắng che dấu bằng đủ loại triết lý, và loại bỏ nó. Nó giúp ta thấy được sự khác biệt giữa thật sự yêu và na ná yêu. Dưới ánh mắt này, bạn trở nên vô cảm và tách biệt với chính bản thân mình, nhưng vẫn thấy là mình đang được yêu thương và bảo vệ.

Tất cả những cái nhìn này đều là sản phẩm của trí tưởng tượng, vì thật ra Linh đâu có nói gì với Nam? Nam chỉ đang nghĩ xem Linh sẽ nói gì với mình mà thôi. Nhiều người nói ta không nên đoán ý người khác, nhưng tôi cho rằng không nhất thiết phải đi ngược lại tự nhiên. Việc đoán ý nhau là cần thiết, vì con người là một loài xã hội và có trí tò mò cao. Nhờ có đoán được ý người khác mà ta mới có thể đặt mình vào trong góc nhìn của họ. Nhưng đoán ý người khác trước khi vết thương chưa được lành chỉ làm cho góc nhìn của ta bị bóp méo, và làm vết thương nặng hơn. Quá trình chữa lành chỉ bắt đầu khi ta tập trung vào những giá trị cốt lõi bên trong, và để thấy được điều đó ta cần phải nhìn ra được sự méo mó ở cả ta lẫn họ. Nếu ta cần phải giả định ở họ điều gì, thì hãy giả định là họ đang bn rn đ tr thành ngưi tt. Bởi nếu muốn một người bận rộn để ý đến ta, thì cách tốt nhất là làm cho công việc của họ nhẹ nhàng hơn. Và nếu ta có thể luôn nhìn thấy điểm tốt ở họ, thì dù họ có làm tổn thương ta đến mấy ta cũng sẽ luôn mỉm cười được với họ. Rốt cuộc, việc ta muốn gắn bó với họ là vì ta thấy được những điểm tốt đó.


Sau khi Nam thấy Linh không còn phớt lờ mình nữa, anh vẫn còn một bước nữa cần thực hiện: cắt bỏ cảm giác tội lỗi vì đã không tha thứ cho Linh. Lúc này Nam cần nhìn vào mắt cô và nói:

Cô sẽ nói gì với một người cô đã phản bội? Cô mong chờ điều gì ở một người bị cô phản bội?

Cho tới khi Linh có thể đưa ra được một câu trả lời thỏa đáng, cuối cùng anh cũng đã tìm được sự im lặng cần thiết để nhìn cô. Anh không bỏ rơi cô, anh chỉ đang nhìn cô từ rất xa. Anh không còn đau khổ nữa, mà chỉ còn thấy buồn vì cô chưa thoát khỏi đau khổ của mình. Chính sự im lặng này sẽ cắt nỗi sợ của cô và cho cô thấy giá trị thực sự của mình. Nhờ có thể nhìn cô với ánh mắt lạnh lùng đó mà anh thấy bản chất thật sự của cô. Và như vậy, dù cô lựa chọn điều gì đi chăng nữa, anh cũng sẽ không cảm thấy hối hận vì đã hơi tàn nhẫn với cô.

Sự hờ hững của Linh với nỗi đau của Nam là món quà quý nhất cô có thể tặng cho anh. Anh sẽ phải cám ơn cô vì điều đó.

Con mắt lạnh như băng (lời giới thiệu)

Chào mọi người,

Mình muốn giới thiệu với mọi người một cách thức mình hay dùng để có động lực cho bản thân. Trong bài viết này, mình thử sử dụng khái niệm “cái nhìn của bác sĩ” của Foucault, một triết gia hậu hiện đại, để cắt đứt huyễn tưởng của mình và thấy được điều cần phải làm. Nội dung của nó có thể được tóm tắt bằng câu chuyện ngắn sau:

An có cảm tình với Bình vì Bình học giỏi nhất lớp. An cũng muốn mình học giỏi, nhưng vì An cũng ham chơi, nên không bao giờ tập trung được. Một lần lúc đang lướt Facebook, An chợt nghĩ là nếu là Bình, Bình sẽ không chìm đắm trong đó mà mà chỉ lo học. An nhận ra nếu Bình đang nghĩ gì về An vào lúc này, thì đó không phải là khen ngợi An, mà là hơi thất vọng về An. Khi An đặt mình vào vị trí của Bình, đột nhiên An không còn muốn chơi nữa, mà chỉ muốn học thôi.

Về cơ bản, thật ra trong thâm tâm mình cũng tự biết làm gì là cần thiết. Chỉ là ta bị những cảm xúc như sợ hãi, phấn khích hoặc né tránh lấn át mà thôi. Nhưng với người ngoài thì họ cũng không quan tâm đến những cảm xúc này, mà chỉ thấy là mình đang không làm điều quan trọng nhất. Nếu ta có thể đứng ở góc nhìn của họ, nhận ra được suy nghĩ khách quan của họ và đồng cảm với nó, thì những cảm xúc đó sẽ tan biến.

Đúng ra thì bài này không có quá nhiều triết học Phật giáo trong đây, nhưng mình nghĩ mình cũng có thể liên hệ tới nó. Một vấn đề của Phật giáo là Phật tử dùng pháp để phá chấp, xong chấp luôn pháp. Một cách nào đó, Bình cũng là một ngón tay để chỉ trăng, là chiếc đò để qua sông. Nhưng khác với kinh sách, Bình là một con người với cuộc sống riêng, nên An sẽ không muốn nương nhờ đến Bình hoài, nên ta không sợ An chấp vào Bình. Đồng thời, Bình cũng chỉ là một hình mẫu trong đầu An, nên những gì An nghĩ Bình nghĩ thật ra là những gì An tự nhận ra, nên cũng không sợ Bình làm thay An. Nói cách khác, Bình tự động giết chính mình sau khi An qua được bờ bên kia.

Trong bài viết chính, mình sử dụng câu chuyện tình cảm giữa Nam và Linh, trong đó Linh là người phản bội Nam, để đẩy vấn đề lên cực đoan hơn. Bài viết chỉ là suy nghĩ của riêng Mình, nhưng nó được gợi ý từ các khái niệm sau:

  • Cái nhìn của bác sĩ (medical gaze – Foucault): bác sĩ là một người vô cảm với bệnh nhân nhưng lại có quyền lực tuyệt đối với thân thể anh ta
  • Buông bỏ, tách mình (detachment – Phật giáo): nếu bỏ được tham sân si thì tâm ta sẽ trong sạch và bình thản, và sẽ thấy được thực tánh
  • Tâm thức luận (theory of mind – tâm lý học nhận thức): nếu ta có thể nhận thức về niềm tin và mong muốn của người khác thì sẽ hiểu được góc nhìn của họ
  • Giá trị cốt lõi (core values – tâm lý học lâm sàng): để chữa lành những vết thương tâm lý, hãy chú tâm vào những giá trị cốt lõi thay vì bản thân nỗi đau

Thành thực mà nói kiến thức của mình rất sơ khởi. Mời mọi người đọc và cho ý kiến. Nếu có gì sai xin mọi người giúp đỡ. mình cảm ơn rất nhiều.

Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi.

Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”. Nhưng nếu ta tra vấn lại mối quan hệ ngữ nghĩa đó, thì nghĩa của “nóng” và “lạnh” sẽ thay đổi. Khi nghĩa này thay đổi, thì góc nhìn của ta cũng sẽ thay đổi theo. Tương tự với lập luận “ngựa trắng không phải là ngựa”. Khi Công Tôn Long tra vấn lại mối quan hệ giữa “ngựa” và “ngựa trắng”, lật lại cái ngầm định rằng ngựa trắng là ngựa, thì nghĩa của hai từ nay đã bị biến đổi. (Ta cũng có thể nói là nghĩa của từ “là” bị thay đổi cũng được.)

Điều này khác với trò chơi ngôn ngữ của Derrida. Ở đây vẫn là chuyện các từ có nghĩa, và góc nhìn của chủ thể được hình thành bởi nghĩa của từ (the perspective is created by word’s meaning).

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Trang Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, cơ sở của việc dạy học và trị liệu tâm lý hiện đại. Nên tôi nghĩ khi ta tra vấn những thứ ta ngầm định, nghĩa của từ bị biến đổi, và góc nhìn của bản thân cũng thay đổi theo (challenging assumption = meaning shifting = perspective changing).

Vì bản chất của ngôn ngữ là nghĩa luôn thay đổi, nếu nhận ra được điều đó thì ta có thể thoải mái dùng ngôn ngữ mà không sợ nó trói buộc mình nữa. Nói như nhà Phật thì là không còn chấp niệm nữa. Lúc đó thì những giận dữ, sợ hãi, kiêu ngạo do bị cố định vào một ý niệm không còn nữa, mà chắc chỉ ngồi nghệch mặt ra cười vì thấy một góc nhìn khác. Khi ta có thể tra vấn lại những thứ ta luôn tin là đúng, thì có khi thấy rằng nhiều khi cái mình cho là sai lại không sai nữa. Nếu sai lại hóa thành không sai, thì thật và ảo sẽ thành một. Nên tôi nghĩ khi Lão Tử nói “danh khả danh phi thường danh”, ông ấy đang nói rằng các từ luôn biến đổi nghĩa không ngừng.

Cũng vì luôn tạo ra được nét nghĩa mới của từ, mà ta sẽ luôn lách vào được những chỗ khó khăn để xử lý. Tôi nghĩ, nói ra bản chất của một thứ gì đó rất dễ, chứ không phải là bất khả đắc, bất khả tư nghị. Ví dụ, ta biết rằng vị chua của cam, quýt và chanh rất khác nhau, nhưng ta chỉ có thể diễn tả chung chung là chua, chứ không nói được gì hơn. Nhưng đó là do kiến thức ngầm rất khó để nói ra mà thôi. Nếu là một nhà nghiên cứu về tính acid của các cây họ cam, họ có thể nói ra được sự khác nhau đó mà vẫn súc tích dễ hiểu. Làm được những điều tưởng như bất khả một cách dễ dàng mới chính là tinh thần vô vi.

Để hiểu cụ thể hơn chuyện đó được xử lý thế nào, xin xem:
  1. Making concrete analogy and big picture
  2. Connections between cognitive linguistics, cognitive psychology, Buddhism and Daoism

Đạo gia với sự học

Năm mầu khiến người mù mắt.
Năm giọng khiến người điếc tai.
Năm mùi khiến người tê lưỡi.
Sải ngựa săn bắn,
Khiến lòng người hoá cuồng.

Đạo gia thường không đề cao kiến thức, vì cho rằng nó làm ta mù mắt, mù tai. Thật ra tôi nghĩ nó lại rất đề cao hiểu biết, chỉ là do vào ngày xưa thì không biết phải diễn tả nó ra sao mà thôi. Cái mù mắt, mù tai đơn giản là hiện tượng mồi (priming). Bạn có thể xem một thí nghiệm về nó ở đây.

Tuy vậy, vẫn có một điều gì đó bí ẩn mà ngay đến cả các học giả nghiên cứu Đạo gia cũng cảm thấy là họ sẽ không bao giờ làm vừa lòng được Trang Tử. Điều này được thể hiện rõ qua bài viết của Alan Jay Levinovitz, Trang Tử: Ngôi nhà cười của tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul):

Mỗi khi nói về Trang Tử, tôi đều cảm thấy không thoải mái, hệt như việc tôi thấy việc đoán ý của bạn mình rồi thay họ nói luôn không được hay cho lắm. Và không phải chỉ có mình tôi là thấy vậy. […] Thầy Trang […] có vẻ đã thiết kế công trình của mình sao cho mọi nỗ lực diễn giải nó đều bị kháng lại. […] Nhà Hán học và dịch giả Burton Watson đã tóm được cái cảm giác này như sau: “Mỗi khi tôi ngồi xuống và cố viết một cái gì đó thật nghiêm túc về Trang Tử, tôi thấy, ở đâu đó phía sau trong đầu mình, Trang Tử đang cười khùng khục với những nỗ lực khiên cưỡng và vô dụng như thế”

Thử hỏi, một người xem Trang Tử là bạn, mà nói cái gì cũng bị cười, thì còn làm gì được nữa?

Trước khi đi tiếp, ta hãy nhắc lại xem Đạo là gì. Theo như tác giả Edward Slingerland trong cuốn Vô vi như là mt n d khái nim và lý tưng tinh thn thi Chiến Quc (Effortless Action: Wu-wei as Conceptual Metaphor and Spiritual Ideal in Early China), thì với những nhà tư tưởng Trung Quôc thời đó:

Sự tích lũy kiến thức không được hiểu theo kiểu nắm bắt quy luật trừu tượng, mà bằng khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng (hòa hợp được với Đạo).

The culmination of knowledge is understood not in terms of a grasp of abstract principles but rather as an ability to move through the world and human society in a manner that is completely spontaneous and yet still fully in harmony with the normative order of the natural and human worlds—the Dao or “Way.”

Thế nào là “đi lại giữa thế giới”? Lấy ví dụ, bạn thấy nhà cháy to, và bạn cứ xông vào mà cứu người. Điều đó rất nguy hiểm, vì bạn không có đồ bảo hộ, cũng không được huấn luyện như lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nhờ trước đó bạn đã biết sơ về nguyên lý cứu người khi xảy ra hỏa hoạn (bò dưới sàn vì khi khói bay ở trên sẽ chừa không khí giàu oxy ở dưới, dùng khăn tẩm nước bịt mũi), mà đt nhiên ni s ca bn biến mt. Từ việc lửa, khói là một thứ nguy hiểm, chúng giờ chỉ là một trở ngại nhỏ đến mục tiêu của bạn, thậm chí là nơi bạn cảm thấy thân thuộc và an toàn, và bạn “move through the world”.

Tuy nhiên, để có thể đạt được sự tự phát mà vẫn hòa hợp được với mọi thứ đó, không thể không học hành nghiêm chỉnh. Đây đơn giản là cách bộ não hoạt động. Mà cách bộ não hoạt động cũng chính là một quy luật khách quan. Nếu ta đòi phải bỏ qua bước này, thì cái cảm giác hòa hợp với tự nhiên đó chỉ là cảm giác khoái chí vì mình hiểu được thứ mà người khác không hiểu. Nó sẽ bồi đắp cho sự tự tôn của mình, và điều này rất nguy hiểm, vì nó là thứ Đạo giáo cố gắng loại bỏ.

Nói gì thì nói, đã gọi là giả định ngầm thì không phải cứ muốn lật lại là sẽ lật được. Phải suy tư, phải học hành thì mới làm được. Và người học cũng không cảm thấy gò bó gì ở đó mà chỉ thấy vui khi mình có khả năng đi lại giữa thế giới một cách tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của nó. Nghĩa là họ đang vô vi.

Nên quay lại chuyện Trang Tử cười khùng khục, nếu Trang Tử cười những lúc người khác đang tập trung nghiêm túc, thì đơn gin là Trang T sai. Cố gắng làm vừa lòng Trang Tử chỉ càng làm cho Trang Tử thấy mình vẫn còn đang mắc kẹt. Cách tốt nhất là pht lờ và tiếp tc vic đang làm. Hoặc thậm chí là cưi ngưc li Trang T. Chỉ có như vậy mới làm Trang Tử cảm thấy hài lòng. Đó là câu trả lời mà Trang Tử mong ta nhận ra.