Trăm năm khép lại

Em xòe bàn tay như năm cánh hoa nhỏ
Con bướm vàng vẫy cánh khẽ bay xa…
Gió cứ kể hoài một câu truyện đã qua
Thuở trăm năm có khi nào trở lại…
Sóng giận điều gì mà cứ xô bờ mãi?
Cung đàn xưa đã đứt phím tơ hồng.
Con nhện giăng tơ…
…con xít lội sông…
Còn đâu nữa má hồng thời con gái?
Nước mắt chảy xuôi, xin đừng đọng lại…
Ngậm ngùi chi trên môi nhạt màu son?
Điều mặn chát muôn năm nữa vẫn còn
Xin trăm năm thêm một lần nhung lụa…

Em xòe bàn tay đợi mãi trong mưa
Trời mùa này hay nắng mưa bất chợt
Nỗi niềm bể dâu nào có ai biết trước
Thoáng chớp mi, con sáo đã sổ lồng…

Bươm bướm vàng theo gió lạc ra sông
Bay chấp chới…
rồi vỡ òa theo sóng…

Người con gái úp mặt khóc mây trôi
Con nhện giăng tơ…
…con sáo sổ lồng…
Mùa khép trọn giấc mộng thuở trăm năm…

Kết luận

Tôi nghĩ, về lý thuyết, Đạo gia là một tư tưởng triết học rất tốt để không còn sợ hãi, nhưng trên thực tế nó lại rất tốt để dung dưỡng sự sợ hãi. Nó tạo thêm gánh nặng cho những ai muốn cam kết với nhau. Những người xây dựng nó có lẽ đã đinh ninh rằng những ai theo nó đều là những người ổn định về mặt tâm lý sẵn rồi. Những nỗi sợ được miêu tả trong Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh là những nỗi sợ không quá nghiêm trọng.

Tôi nghĩ, với những ai đang còn ngập trong sợ hãi, hoặc đang giúp đỡ người đang sợ hãi, thì họ nên một lần dứt khoát vứt bỏ Đạo gia sang một bên, và chuyên tâm vào chuyện chữa lành. Họ rất dễ bị nhầm lẫn, và sẽ thế nào cũng sẽ nhầm lẫn. Sau khi hết sợ rồi thì có thể quay lại cũng được.

Hoặc có thể nói theo hướng khác: Đạo không chấp nhận chuyện người theo nó còn sợ hãi. Khi phát hiện bản thân đang sợ, Đạo yêu cầu họ lập tức nhìn thẳng vào nỗi sợ. Vì có dám đối diện với nó thì mới thấy nó hóa ra chẳng đáng sợ tí nào. Ai còn chần chừ, còn tránh né, là vẫn còn quanh quẩn ở tiểu trí, chưa phải là đại trí. Mọi suy nghĩ, hành động của họ đều không phải vô vi, dù nó trông như vậy tới đâu đi nữa. Đạo sẽ không đến gặp họ, dù họ có hiểu nó đến bao nhiêu.

Phần 2: Mối quan hệ của một bông hoa chết

Để thuận tiện, tôi sẽ đặt tên đạo sĩ có rối loạn tâm lý là Megan, còn người yêu của cô là Cueball.

Đây là Cueball và Megan:

Ta hãy nói về Megan trước. Cô tuy mắc bệnh, nhưng cô cũng là một người thông minh. Chính vì như vậy, nên cô biết ai có mối quan hệ với cô sẽ vô cùng gian nan và vất vả. Nên khi đã xác quyết mình là bông hoa chết, thì kèm theo đó cô cũng có một xác quyết thứ hai: những người kém cỏi không đủ năng lực để yêu cô.

Nếu cô đã chấp nhận bước vào một mối quan hệ với một ai đó, người đó cần phải thông minh như cô, nhìn xa trông rộng như cô, ứng biến tốt với môi trường như cô. Tuy bệnh của cô có làm cô thần tượng hóa người khác thật, nhưng đúng là chỉ một người hoàn hảo mới có thể đáp ứng nổi một bông hoa chết.

Chính vì như thế, nên chỉ cần thấy anh kém linh hoạt là Megan đã kết luận ngay rằng phản ứng của anh quá chán (dấu hiệu 2), trong khi sự chậm chạp đó có rất nhiều lý do. Nếu anh chỉ ra rằng cô đang không nhận ra rằng xấu cũng là tốt và tốt cũng là xấu, cô sẽ vặc lại là đó là những điều anh cần cải thiện.

Bằng con mắt của mình, mọi thiếu sót của anh sẽ bị nhìn ra hết. Cô sẽ không hài lòng khi thấy anh không được như trông đợi, mặc dù chúng có thể vượt quá khả năng của anh. Với cô, anh không khác gì một công ty cung cấp dịch vụ cả. “Anh đã cam kết với tôi, anh phải làm việc chuyên nghiệp. Sản phẩm của anh không được tì vết, thái độ phục vụ phải tận tâm. Tôi không cần biết anh vất vả tới đâu, nhưng nếu những sản phẩm của anh không hoàn thiện thì tôi sẽ không nhận.” Ai muốn bước vào mối quan hệ với cô, người đó cần chuẩn bị tinh thần đó.

Lao động là vinh quang. Một mối quan hệ cần nhiều yếu tố, và những ai chưa chuẩn bị sẵn sàng thì tốt nhất đừng bước vào. Ai chỉ thấy cô ích kỷ, đòi hỏi quá quắt, thì họ chưa thực sự hiểu thế nào là nghiêm túc với một mối quan hệ. Cô làm vậy là vì mối quan hệ đòi hỏi cô làm vậy. Không sớm thì muộn, nếu những vấn đề đó không được đáp ứng, thì nó chỉ đem lại bất mãn và ức chế cho cả hai. Những đòi hỏi của cô phải nói là nghiệt ngã, nhưng không ai có thể phủ nhận giá trị lâu dài của nó. Thà không yêu thì thôi, chứ đã yêu thì không thể thỏa hiệp với cái nửa vời được.

Đó là ở phía Megan. Nếu những điều ở trên chưa đủ ép phê, ta hãy xét đến phía Cueball.

Cueball

Để Cueball trở thành nhà cung cấp dịch vụ hoàn hảo cho Megan, anh phải có ý tưởng khởi nghiệp từ rất sớm.

Để có thể chinh phục được những đòi hỏi nghiệt ngã đó, anh đã phải có ý thức về việc gặp gỡ cô trong tương lai. Vì đoán sẽ rất gian nan để đáp ứng chúng, anh đã vạch ra một lộ trình dài hơi để tích lũy kiến thức. Một cách đại khái, anh đã biết sơ về một số tính cách của cô trước khi gặp cô. Hai người gặp được nhau không chỉ hoàn toàn do sự tình cờ, mà có một phần lớn là do anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó.

Vì biết cô có rối loạn, nên ngay từ đầu anh đã biết sẽ có ngày cô làm tổn thương anh. Những phản bội đều không thể qua được mắt anh, nhưng anh chấp nhận nó, vì thứ quan trọng hơn không phải là dằn vặt cô, mà là cho cô thấy cô không phải là bông hoa chết. Theo hiểu biết hạn hẹp của tôi về tâm lý học trị liệu, những ai chấp nhận chuyện vẫn quan tâm tới người khác dù bị họ tổn thương có thể sẽ phát triển tính cách đồng phụ thuộc. Nếu là người như vậy, Cueball sẽ cảm thấy tội lỗi khi muốn nói cô đang sai, dù anh biết cô cần anh nói điều đó. Nếu anh không làm cô nhận ra những biện hộ của mình là không có giá trị, thì những ức chế của anh không thể giải quyết được.

Khi gặp anh, cô sẽ lao vào tới tấp (dấu hiệu 2), nhưng anh thấy có gì đó rất không ổn trong chuyện này. Cô nói với anh là cô với anh bổ sung và xung khắc với nhau như âm với dương, nhưng anh biết suy nghĩ này thật nguy hiểm. Nó chỉ củng cố sự lý tưởng hóa của cô (dấu hiệu 2), và thổi thêm rắc rối cho mối quan hệ rối loạn này. Nhưng mặt khác, kết luận đó anh không thấy có gì sai cả. Nếu không thể chỉ ra được nó sai ở đâu đúng ở đâu, anh sẽ không thể giúp cô.

Khi chỉ trích anh, Megan sẽ thường xuyên dùng ẩn dụ và so sánh để miêu tả vấn đề. Thực tế, đó là cách mà Trang Tử hay sử dụng, làm cho khả năng biến đổi góc nhìn của ông ấy cực kì mạnh. Nếu muốn làm Megan tâm phục khẩu phục, anh phải có khả năng dùng chính những ẩn dụ cô đưa ra để lật ngược tình huống, nếu không sẽ bị lạc vào những biến hóa của cô. Bằng trực giác, không khó để anh lật lại chúng. Nhưng nếu như anh chưa thử tra vấn suy nghĩ của mình, thì anh không cho phép mình phát biểu. Vì anh biết là mình có thể sai, nên kể cả khi cô cần anh nói cho cô biết cái nào đúng cái nào sai, anh cũng không nói cho cô. Nói những gì mình chưa thật sự chắc chắn là trái với lương tâm của anh. Điều này làm cho những méo mó cô có không cách nào được sửa chữa.

Vì Megan biết rất khó để có người đáp ứng nổi những đòi hỏi của cô, nên khi có người đem đến cho cô HY VỌNG, cô sẽ cố gắng hết sức để trân trọng nó. Cô sẽ rất giữ gìn để không nổi giận (dấu hiệu 8), và nếu như có nổi giận thì chỉ cần một lời xoa dịu là được. Nhưng anh cảm thấy không thể làm điều đó mãi được. Những gì cô đòi hỏi là hợp lý, và không sự xoa dịu nào có thể giải quyết được những xung đột về mặt tư tưởng một cách rốt ráo. Nếu không có một câu trả lời thuyết phục thì cô sẽ không phục anh, và anh sẽ không phục cô. Cái uy là vô cùng quan trọng để cả hai lắng nghe nhau. Cô có thể không còn nhớ cô đã yêu cầu gì anh (do nhiều dấu hiệu), nhưng anh thì tự thấy những yêu cầu đó là tối quan trọng cho mối quan hệ. Điều đó lại khiến cho cô cảm thấy như mình bị bỏ rơi (dấu hiệu 1), và vòng xoáy lại tiếp tục.

Đó là chưa kể, vì Cueball cũng hiểu Đạo, nên anh hứng thú hơn với việc trở thành một người không đáng tin. Anh thoải mái hơn với việc trở nên vô dụng trong mắt cô, thoải mái hơn khi đánh đổ niềm tin cô dành cho anh. Khi cô có nhu cầu cấp thiết thì anh chỉ làm rất chậm rãi và thong thả. Nhờ có tính cách đó mà anh mới chinh phục được cô. Nhưng lúc này, nó chỉ đổ dầu vô lửa, làm giọt nước tràn ly. Nó làm cho cô tức phát điên, và làm cô cảm thấy bao nhiêu nỗ lực để kiềm chế bản thân lại vuột ra khỏi tầm tay của mình một lần nữa. Cô không biết phải tin anh chỗ nào, dù cô biết anh nói không sai. Cô không biết mình đã làm gì sai, dù thực tế lỗi không phải ở cô. Cô cảm thấy đúng là mình lại đẩy anh ra xa, và cái xác quyết mình là bông hoa chết kia càng được củng cố hơn nữa.

Nói tóm lại, anh không dám nói cô sai, không cho phép mình nói cô sai, thích thú với việc nghĩ rằng mình mới là người sai, và có việc còn quan trọng hơn việc nói cho cô biết cô đang sai ở đâu, dù cả anh và cô đều biết rằng nếu anh không nói thì rối loạn của cô sẽ còn tiếp diễn.

*      *      *

Còn nhiều vấn đề nữa, nhưng nói chung mối quan hệ đó sẽ như thế này:

Khi Cueball muốn tiếp cận Megan bằng con đường tình cảm (màu đỏ), con người lý trí (màu xanh) của cô sẽ thấy vô ích:

Nhưng khi Cueball muốn tiếp cận Megan bằng con đường lý trí, con người cảm xúc của cô sẽ bị tổn thương:

Ngược lại cũng vậy: Megan tiếp cận Cueball bằng con đường nào cũng không được:

Trong trường hợp hiếm hoi, khi cả hai hoặc cùng tình cảm hoặc cùng lý trí, sẽ không có gì ngăn được họ cả. Ta nói họ đồng điệu hoặc cộng hưởng nhau:

Còn không thì họ sẽ cứ luẩn quẩn với nhau:

Kết quả là có một bức tường vô hình chặn lại giữa cả hai, mà mỗi lần họ định giải quyết thì nó lại lẩn đi đâu mất. Nói như Lão Tử thì tường khả tường phi thường tường.

Phần 1: Ví dụ

Để ví dụ, tôi sẽ so sánh Đạo gia với một loại rối loạn tâm lý được xem là vô cùng khó chữa: ri lon nhân cách tâm trng không n đnh (EUPD). Một số người nổi tiếng mắc phải nó có thể kể đến: Amy Winehouse, Marilyn Monroe, Britney Spears, Công nương Diana, Angelina Jolie-Pitt, Zelda Fitzgerald, Thomas Wolfe, Adolf Hitler.

Lưu ý 1: đây chỉ là một ví dụ minh họa, dựa trên những gì tôi quan sát thấy ở một trường hợp cụ thể. Để những kết luận này có giá trị khoa học, cần phải thu thập mẫu với số lượng lớn (tức cần thêm nhiều đạo sĩ có rối loạn tâm lý).

Lưu ý 2: khi nói về “đạo sĩ” ý tôi chỉ là người có hứng thú và làm theo Đạo gia, không nhất thiết là người dành cả đời cho nó. Có khi người chưa từng biết gì về nó cũng đã là đạo sĩ theo cách hiểu này.

Rối loạn này có 9 dấu hiệu nhận biết sau:

  1. Làm đủ chuyện điên rồ để không bị bỏ rơi, dù nó có thật hay chỉ là tưởng tượng
  2. Có các mối quan hệ (không nhất thiết là yêu đương) kịch tính và không bền vững. Khen thì khen tận mây xanh, chê thì chê mạt sát
  3. Không biết đâu mới thật sự là chính mình
  4. Bị kích động bởi những thứ có khả năng gây hại cho bản thân, ví dụ như rượu, tình dục, ăn trộm, lái xe bất cần đời, ăn vô tội vạ
  5. Lâu lâu lại cắt tay hoặc dọa tự tử
  6. Tâm trạng thay đổi thất thường và phản ứng cực đoan với những khó khăn chỉ mang tính tạm thời
  7. Luôn cảm thấy trống rỗng
  8. Thường giận dữ một cách vô lý hoặc quá quắt
  9. Hoang tưởng hoặc mất liên hệ với thực tại trong thời gian ngắn

Còn đây là một số quan niệm của Đạo gia, và mối liên hệ của nó với EUPD.

Biến hóa

Trời đất sinh cùng ta, còn vạn vật hòa làm một với ta

Gió thổi thì những lỗ ấy phát ra những tiếng khác nhau, có khi như tiếng nước chảy ào ào, có khi như tiếng tên bay vút vút; có khi như tiếng thú gầm, như tiếng thở nhẹ; có khi như tiếng người mắng mỏ, khóc lóc, than thở; có khi như tiếng chim ríu rít, như tiếng người đi trước hô, người đi sau đáp. (T vt lun 1)

Nếu tạo hoá muốn biến cánh tay trái tôi thành con gà thì tôi nhân đó mà gáy sáng; nếu biến tay phải tôi thành cây cung thì tôi sẽ nhân đó mà bắn con chim hào đem về quay; nếu biến đít tôi thành bánh xe, tinh thần tôi thành ngựa thì tôi sẽ nhân đó mà thắng xe.i tôn sư 3)

Cái bóng của cái bóng hỏi cái bóng:

– Lúc nãy anh cúi đầu, bây giờ anh ngửng đầu; lúc nãy tóc anh búi lại, bây giờ nó xoã ra; lúc nãy anh ngồi, bây giờ anh đứng; lúc nãy anh đi, bây giờ anh ngừng, tại sao vậy?

Cái bóng đáp:

– Đó là những chuyện nhỏ, anh hỏi tôi làm gì? Tôi như vậy đó, không hiểu tại sao. Tôi như cái xác từ đó con ve sầu hoặc con rắn thoát ra. Các xác đó giống con ve sầu hoặc con rắn mà không phải con ve sầu hoặc con rắn. Khi có ánh lửa hoặc ánh nắng thì tôi xuất hiện; trong chỗ tối hoặc đêm tối thì tôi biến mất. Tôi có tuỳ thuộc hình thể không? Mà chính hình thể có tuỳ thuộc cái gì khác không? Hình thể qua lại, vận động, thì tôi cũng qua lại, vận động. Những qua lại, vận động đó đều do thiên cơ [do tự nhiên], có gì mà phải hỏi? (Ngụ ngôn 6)

Những người mắc bệnh kể lại rằng họ như con kỳ nhông, lúc nào cũng thay đổi cho phù hợp với môi trường. Có người thì chỉ biến đổi theo những người xung quanh (cách nói chuyện, sở thích, v.v.). Có người thậm chí còn thấy mình là gió, là mây khi nghĩ về gió, về mây. Không bao giờ họ là một con người cố định. Mà quả thực, Đạo gia cổ vũ việc đó.

Thứ họ cần nhất ở đây là biến đổi nguyên nhân ca nỗi sợ trước. Biến đổi nguyên nhân của nỗi sợ thì mình mới có thể biến đổi bản thể một cách trọn vẹn. Còn chỉ biến đổi bản thể của mình không thôi mà nỗi sợ vẫn còn đó thì chỉ là một hình thái khác của sự tránh né. Biến đổi như thế chỉ làm họ không biết mình là ai (dấu hiệu 3).

Thật ảo là một

Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu.

Sống cũng là chết, chết cũng là sống, mộng cũng có thể là thực mà thực cũng có thể là mộng

Sau khi nhận ra rằng mọi thứ không có gì đúng không có gì sai, nó sẽ được quy nạp lên thành quan điểm thật với ảo là một, rằng những thứ trước mắt mình đều chỉ là mơ hồ, ảo ảnh. Điều này lại tương đồng với dấu hiệu số 9 của EUPD: mất liên hệ với thực tại. Nên mỗi khi bị mất liên hệ với thực tại, họ sẽ nghĩ là, à, chắc cái này là “Đạo”.

Chưa hết, để khám phá quan niệm đó thật trọn vẹn, họ sẽ chủ động quên những thứ cần phải nhớ, chủ động tự lừa mình, lừa người, chủ động nói chuyện úp úp mở mở, làm mình trở nên huyền ảo, bí hiểm trong mắt người khác, tất cả chỉ để thấy mọi thứ trước mắt mình hư hư thực thực. Với họ, đó là cách để đến gặp đại đạo, nhưng thực tế, đó cũng là cách để họ tránh né hiện thực. Họ đơn giản là đang gaslighting bản thân (tự inception chính mình). “Đạo”, lúc đó, là cái cớ thuận tiện để biện minh và thoái thác trách nhiệm. Nỗi sợ của họ, vì thế, không có cách nào giải thoát.

Thấy nỗ lực của người khác là buồn cười

Trong bài viết Trang T: Ngôi nhà cưi ca tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul), tác giả có miêu tả vấn đề này như sau:

Mi khi nói v Trang T, tôi đu cm thy không thoi mái, ht như vic tôi thy vic đoán ý ca bn mình ri thay h nói luôn không đưc hay cho lm. Và không phi ch có mình tôi là thy vy. […] Thy Trang […] có v đã thiết kế công trình ca mình sao cho mọi nỗ lc diễn gii nó đu b kháng li. […] Nhà Hán hc và dch gi Burton Watson đã tóm đưc cái cm giác này như sau: “Mi khi tôi ngi xung và c viết mt cái gì đó tht nghiêm túc v Trang T, tôi thy, đâu đó phía sau trong đu mình, Trang T đang cưi khùng khc vi nhng n lc khiên cưng và vô dng như thế

Sự chế diễu này, theo Trang Tử, là cần thiết, để họ có thể thấy được cái trí tuệ của học giả kia theo đuổi chỉ như ếch ngồi đáy giếng. Nhưng như đã nói trong bài Niềm vui hiểu Đạo, trong trường hợp này đơn giản là Trang Tử sai. Nếu nó kết hợp với sự phân ly trong dấu hiệu 2 (lúc khen thì khen tận mây xanh, lúc chê thì chê mạt sát), thì nó càng làm cho họ không thể tĩnh tâm nhìn vào nỗi sợ được.

Lười biếng

Đây là một bài thơ của Bạch Ngọc Thiềm, lấy trong sách Sng đp của Lâm Ngữ Đường, Nguyễn Hiến Lê dịch:

Đan kinh biếng đọc vì Đạo không phải ở trong sách
Tạng kinh biếng coi vì chỉ là cái bì phu của Đạo
Cái tốt của Đạo là trong sự thanh hư
Thanh hư là gì? Là suốt ngày như ngu
Có thơ mà biếng ngâm vì ngâm xong thì ruột héo,
Có đàn mà biếng gảy, vì gảy xong là hết nhạc
Có rượu mà biếng uống vì ngoài cái say còn có sông hồ
Có cờ mà biếng chơi vì ngoài nước cờ còn có can qua
Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi
Biếng ngắm gió trăng vì trong lòng có Bồng Lai rồi
Biếng lo việc đời vì trong lòng có vườn ruộng nhà cửa rồi
Biếng hỏi nóng lạnh vì trong lòng có cảnh tiên ấm áp rồi
Dù tùng héo núi tan, ta cũng vậy thôi,
Cho nên gọi là “Am biếng nhác”, chẳng cũng đúng ư?

Để trả lời câu hỏi cuối bài thơ, tôi nghĩ, sai rồi. Phải gọi là “Am biếng nhác vì trong lòng đã hiểu ý rồi” mới đúng. Bạch Ngọc Thiềm không phải cái gì cũng biếng nhác; ông chỉ biếng nhác trong một điều kiện cụ thể. Nhưng khi người khác đọc bài thơ, thứ còn đọng lại chỉ là lười biếng chung chung. Hiểu ý quên lời nguy hiểm ở chỗ đó, vì một vài lời bị quên sẽ làm biến dạng toàn bộ ý, dù ý đó mình đã hiểu rất rõ.

Nói cách khác, đây là người ở Am biếng nhác:

Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi

Còn đây là người ở Am biếng nhác vì trong lòng đã hiểu ý rồi:

Biếng coi núi khe vì trong lòng có hoạ đồ rồi
Nhưng vì biết họa đồ rồi sẽ có lúc xuyên tạc núi khe, nên thôi không biếng nữa

Vô dụng

Nam Bá Tử Kì tới đồi Thương, thấy một cây lớn lạ lùng, tàn nó có thể che cả ngàn cỗ xe bốn ngựa. Ông ta tự hỏi:

– Cây này là cây gì? Nó dùng được vào việc gì không? Từ dưới nhìn lên, những cành nhỏ cong queo của nó không thể xẻ thành cái đòn, cái ruờng nhà được. Ngó xuống, cái thân to lớn nứt nẻ, đầy mắt của nó không làm quan tài được. Liếm lá của nó thì miệng sẽ loét lỡ. Nó hôi thúi, chỉ ngửi thôi cũng hoá điên, mê sảng suốt ba ngày.

Rồi Tử Kì tự kết luận:

Cây đó thật vô dụng cho nên mới lớn được như vậy. Bậc thần nhân cũng cầu được bất tài như cây đó. (Nhân Gian Thế 6)

Việc tự vô dụng hóa bản thân không chỉ là để an toàn, mà còn là để những bản tính của mình được tự do phát triển. Trùng hợp là, những người có EUPD lại thường tự thấy mình vô dụng hơn người khác (do nhiều nguyên nhân kết hợp, không nằm trong các dấu hiệu được nêu).

Sự khác biệt ở đây là vô dụng kiểu Đạo gia là để tránh họa/vô vi, còn vô dụng của EUPD là vô dụng kiểu kém cỏi. Tương tự như từ “lười biếng”, Đạo gia chỉ trông như vô dụng thôi, chứ họ không thực sự vô dụng. Hai từ này là hai từ đồng âm khác nghĩa, nhưng họ sẽ không nhận ra được sự nhập nhằng đó, và sẽ không hiểu tại sao làm người vô dụng lại sai.


Đọc qua, ta có thể thấy những hiểu nhầm này khá buồn cười. Ai hiểu ý rồi thì sẽ thấy chúng khác biệt một trời một vực. Nhưng đó là do bạn dùng con mắt của người bình thường, chứ không phỉa của người đang có nỗi sợ. Nếu không dthì ta sẽ rất bối rối không tài nào hiểu nổi tại sao lại sai. Muốn hết hiểu nhầm, không có cách nào khác là thể hiện suy nghĩ của mình dưới dạng viết, vì lúc đó ta không sợ quên, và từ sẽ không biến nghĩa nữa.

Khi đạo sĩ gặp rối loạn tâm lý

Giả sử một người có một rối loạn tâm lý vì từ nhỏ chịu nhiều tổn thương. Người đó lớn lên và rối loạn của họ trở nên ổn định hơn. Trên con đường đó họ bắt gặp triết học Lão – Trang và cảm thấy đây đúng là thứ mình cần tìm. Họ sẽ như thế nào?

Người hiểu được triết lý đó vốn không phải là tầm thường. Họ vốn thông minh và sắc sảo. Với một người thông minh và sắc sảo, thì không khó để nhìn ra được điểm tích cực giữa những thứ tiêu cực. Độ đàn hồi (resilience) của họ rất tốt, và những tổn thương “tầm thường” sẽ bị bật lại ngay. Nói như Sơn Tùng, thì họ không phải dạng vừa đâu.

Thế nên, để đến mức một người không phải dạng vừa đâu bị rối loạn tâm lý, thì tổn thương họ nhận được hẳn là rất lớn. Vì chẳng có lý do gì một tổn thương tầm thường lại có thể bẻ gãy họ cả, nên nếu họ sụp đổ, thì tổn thương đó hẳn là vượt quá sức tưởng tượng của một con người. Ban đầu họ vẫn tin rằng rồi mọi thứ rồi sẽ qua thôi, rằng mọi chuyện rồi sẽ có cách, nhưng niềm tin trong họ bị xói mòn dần dần, cho tới một lúc họ bàng hoàng kết luận: họ không còn khả năng để hi vọng thêm một lần nào nữa rồi.

Khi đã kết luận là mình là một bông hoa chết, thì toàn bộ thế giới xung quanh họ rùng rùng biến đổi. Kết luận đó giờ trở thành một xác quyết không thể lay chuyển, thấm đẫm vào trong từng chân tơ kẽ tóc của họ. Khi đã chấp nhận mình không bao giờ thoát khỏi vấn đề của mình rồi, thì họ cũng không còn động lực để sửa chữa nó nữa. Họ không còn quá buồn phiền vì có nó nữa. Cuộc sống của họ khi có rối loạn tâm lý cũng giống như một người què chấp nhận không có cánh tay. Việc không được lành lặn giờ là một phần của cuộc sống. Que sera, sera.

Nhưng mặt khác, mất tay thì không giống với việc có rối loạn tâm lý. Hoàn toàn không. Bất cứ nỗi đau nào, dù có lớn đến đâu, cũng chỉ có một lần. Còn rối loạn tâm lý là lp li. Nó dai dng. Nó tun hoàn. Không ai cứ hai ba tuần lại mất tay một lần. Không ai cứ một hai tháng lại mất đi một đứa con. Oán trách. Oán trách. Oán trách. Họ không thể nào ngừng oán trách bản thân, dù đã chấp nhận sự tồn tại của nó.

Nếu có ai đó, vì sự bao dung và trắc ẩn, muốn kéo họ ra khỏi hố sâu đó, họ sẽ cười buồn: “Tôi đã là một bông hoa chết rồi. Xin bạn hãy vì bản thân mà sống cuộc sống của bạn đi.” Nếu ai nhất định tiếp tục, nụ cười buồn đó sẽ thành cười phiền, vì rõ ràng là họ đã chết? Chẳng phải chỉ những kẻ ngây thơ mới tin rằng có thể làm được những điều bất khả sao? Thật khó chịu và phiền phức.

Khi họ bỏ đi thật xa, thì với họ rốt cuộc họ cũng tìm lại được một ít thanh thản cho bản thân. Họ mong mỏi được một lần để lại hết mọi mệt mỏi sau lưng. Nhưng khi họ nằm gác chân lên nhìn trời và lại thấy sau tất cả mọi chuyện họ lại thấy mọi thứ rõ ràng hơn cả, thì cũng là lúc sự oán trách lại kéo đến. Sự rối loạn đâu chỉ ở những lúc phát điên, mà còn ở những lúc họ không hề điên. Những lúc họ nhẹ nhàng, thư thái, thong thả, không lo nghĩ, là những lần cơn bão tiếp theo đang âm thầm kéo đến.

Chủ trương của Đạo gia là từ bỏ ham muốn kiểm soát, và để cho thứ gọi là Đạo dẫn dắt. Để nhận ra Đạo cần phải dùng đến trực giác. Nhưng rối loạn tâm lý làm họ không phân biệt được sự khác nhau giữa trực giác và cảm xúc. Trực giác sẽ đưa ta đến gặp đại đạo, nhưng cảm xúc sẽ tiếm quyền của nó. Vì bị nhầm lẫn, nên thay vì để trực giác dẫn dắt họ sẽ để cảm xúc dẫn dắt. Nhưng nếu chấp nhận chuyện để cảm xúc bên trong dẫn dắt, thì cũng chấp nhận những gì nó đem tới. Nếu bên trong muốn đay nghiến người khác, let it be. Nếu bên trong muốn nuông chiều bản thân, let it be. Nếu bên trong là một nơi trống rỗng và khô khốc, let it be. Nếu bên trong đòi hỏi vô lý quá quắt, let it be. Họ chấp nhận chuyện đó không phải vì không biết chúng sai, mà bởi vì họ đã chấp nhận mình là một bông hoa chết. Nếu đã chấp nhận sống chung với lũ, thì lũ cuốn đến đâu họ sẽ trôi theo đến đấy.

Họ biết mình không xứng đáng được yêu, nên sẽ tìm cách để bảo vệ người đang yêu họ. Họ sẽ đẩy họ ra, bảo rằng họ nên lo cho bản thân mình trước. Ai mà nghe được chắc sẽ bò lăn ra mà cười. Vì nếu thực sự hiểu được sự biến hóa của Tự nhiên, thì sẽ nhận ra mình đang luẩn quẩn với chính bản thân mình thôi.

Như bất cứ ai không còn biết phải tin vào điều gì, họ cần một người đáng tin dẫn dắt. Người có thể làm họ an tâm phải là người có thể nói với họ câu sấm sét này:

Dỏng tai lên mà nghe cho rõ này: tào lao bí đao

Khi nào họ nhận ra được những suy nghĩ của mình là luẩn quẩn, nhận ra rằng những điều họ đang sợ là tào lao bí đao, nhận ra rằng mình không phải là một bông hoa chết, thì họ mới đến gặp được đại đạo.

*       *       *

Hãy thử viết lại bài này theo một cách khác.

Có một thí nghiệm như sau: người ta nhốt một con chó và cho nó bị giựt điện nhẹ. Ban đầu nó tìm mọi cách để thoát, nhưng vì bị nhốt nên nó đành chấp nhận. Sau đó, người ta để nó ra ngoài cùng với những con chó khác và làm lại thí nghiệm. Mặc dù lần này nó không khó khăn gì để thoát cả, và nó thấy rõ ràng là những con khác có thể thoát khỏi sự khó chịu đó, nó vẫn chấp nhận chịu đựng. Người ta phải tự tay đưa nó ra khỏi nơi bị giựt hai ba lần nó mới nhận ra là có thể thoát ra được thật. Con chó đã học được rằng nó sẽ luôn bất lực. Chính s bt lc hc đưc (learned helplessness) này làm nó không chịu thoát, dù nó biết là nó làm được. Clip này miêu tả khá hay vấn đề này:

Khi một người bất lực nhưng chưa nhận ra họ đang bất lực, thì họ vẫn còn cố gắng. Và nếu cố gắng có khi sẽ thành công. Nhưng khi họ đã chấp nhận mình bất lực rồi, thì không thể trông mong họ tự giúp đỡ bản thân nữa. Chỉ có người ngoài mới có thể giúp được họ, còn tự bản thân họ đã đánh mất khả năng giải quyết nó.

Nỗi sợ là một thứ có sức mạnh ghê gớm. Việc ngồi đây mà nói là họ phải tự vượt qua này nọ là chưa hiểu được cảm xúc của họ. Vì là người thông minh, nên họ thừa biết những biện minh họ đưa ra chỉ là triết lý suông. Bảo rằng họ không có ý định muốn thoát khỏi nó là một sự thiếu tôn trọng họ. Nếu có thể đảm bảo chắc chắn là họ sẽ cắt đứt được nỗi sợ, thì họ nhất định sẽ làm.

Nhưng chính vì nỗi sợ có sức mạnh ghê gớm, nên nó sẽ chi phối toàn bộ quan điểm sống của họ. Họ là những người không bao giờ bỏ cuộc, nhưng thế giới quan của họ đã được điều chỉnh cho phù hợp với nỗi sợ đó rồi. Họ rất muốn hết sợ, nhưng nếu không ai giải thích thuyết phục được tại sao thế giới quan đó lại sai, thì họ cũng không biết tại sao phải từ bỏ chúng cả.

Rắc rối là Đạo gia, với tư cách là một trường phái triết học cổ vũ sự trung dung, không có gì là đúng không có gì là sai, sẽ rất dễ bị uốn bởi những quan điểm cố định (fixated) như thế. Nếu ai đó muốn giúp họ hết sợ, người đó phải cho họ thấy những quan niệm đó là để kéo dài nỗi sợ, chứ không phải để hòa mình với Đạo. Đạo gia, từ chỗ là nơi để nhận ra rằng chẳng có gì trên đời là đáng sợ cả, lại rất hợp để dung dưỡng những nỗi sợ đó.

Lý do nó dễ bị uốn là vì cách tư duy của Đạo gia là cách tư duy dựa trên sự biến đổi nghĩa của từ. Chính vì khả năng biến đổi nghĩa của từ mà nó có thể chỉ ra khi nào tốt hóa thành xấu, và xấu hóa thành tốt. Nhưng nghĩa của từ chỉ biến đổi khi và chỉ khi có một điều kiện cụ thể nào đó. Vấn đề là, sau quá trình đảo nghĩa đó, quá trình chú ý và trí nhớ ngắn hạn bước vào, làm cái điều kiện cụ thể đáng lẽ phải có đó bị mờ đi, trả lại nghĩa của chúng về vị trí cũ. Nếu ai không hiểu được cơ chế này, thì sẽ còn nhầm lẫn trong việc thực hành Đạo gia, và những gì họ nói chỉ là confirmation bias và thought-terminating cliché.

Phần tiếp theo sẽ đưa ví dụ để bạn thấy rõ hơn thế nào là sự biến nghĩa của từ, thế nào là trả nghĩa về vị trí cũ, và liên hệ của nó tới một loại rối loạn tâm lý khó chữa nhất. Phần sau đó nữa sẽ nói về chuyện khi một bông hoa chết có hy vọng vào một mối quan hệ thì nó như thế nào. Cái này ít Đạo gia hơn, nhưng vẫn có liên quan. Mời các bạn đọc tiếp.

Rắc rối của từ bi

Từ bi là gì?

Trong triết học Phật giáo, nếu tình cảm bạn đang có có được những yếu tố sau:

  • Từ (metta, loving-kindness/benevolence): lòng mong muốn đem lại hạnh phúc cho người khác
  • Bi (karuna, compassion): sự cảm thông, lòng trắc ẩn, mong muốn trút bỏ đau khổ cho họ
  • Hỷ (mudita, empathetic joy): vui với niềm vui của người khác; hoàn toàn không cảm thấy ghen tị với hạnh phúc, thành công của họ
  • Xả (upekkha, equaminity): không còn vướng bận tham sân si, hiểu được tính vô thường của mọi sự, và nhận ra ai cũng đồng đẳng với mình, tuy hai mà một

… thì tình cảm đó chính là tình yêu đích thực. Bốn yếu tố này gọi là t vô lưng (brahmavihara, four immeasurables).

Bạn có thể nghe bài nói chuyện này để hiểu thêm:

Có vẻ như khái niệm “từ bi” không được dùng một cách thống nhất. Có khi nó là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”, có khi chỉ để chỉ tâm từ (loving-kindness), có khi chỉ để chỉ tâm bi (compassion), có khi để chỉ cả từ lẫn bi (tức là… từ bi). Nhưng vì dù sao chúng cũng hay đi chung với nhau nên chắc cũng không quan trọng lắm.

Vậy từ bi là gì? Khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó cao cả hơn. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.

Từ bi làm dính mắc trở thành không dính mắc

Trong công việc hằng ngày, sẽ có những lúc bạn cần làm những thứ sau, và với người ngoài, nhất là với những ai theo Phật giáo, nó có thể gây ra hiểu lầm không đáng:

  • Nâng cao năng suất lao động: Để có thể làm công việc một cách hiệu quả, bạn cần lên kế hoạch dài hạn, và rút kinh nghiệm từ quá khứ. Nhưng tưởng tượng ra tương lai hay nhìn lại quá khứ thì đều là xem những thứ không có thật là thật. Bạn cần phải thấy thứ chưa thành hiện thực có thể thành hiện thực thì mới có lý do để làm. Nên nhìn từ ngoài vào thì sẽ chỉ thấy bạn đang sống với những thứ không có thật/những thứ đã qua
  • Cần sự chú ý của người khác: Khi làm việc sẽ có những lúc bạn cần sự đồng ý của người khác để tiếp tục. Nếu họ chưa cảm thấy cần phải chú ý tới vấn đề của bạn thì tất nhiên bạn cần khơi gợi sự chú ý của họ. Nhưng nhìn từ ngoài vào thì sẽ không thấy nó khác gì bạn đang mong họ quan tâm tới bạn
  • Không chấp nhận luận điểm của người khác: Chấp nhận nhiều quan điểm khác biệt là một chuyện, nhưng thấy rằng họ tự mâu thuẫn với điều họ muốn là chuyện khác. Khi họ lập luận thiếu căn cứ thì bạn có quyền phủ nhận nó, nhưng nhìn từ ngoài thì sẽ thấy không khác gì bạn chỉ cho rằng bạn đúng

Không chỉ đứng từ ngoài nhìn vào khó mà biết được bạn có đang dính mắc (attach) hay không khi đang có những thứ này, mà ngay cả bạn nhiều khi cũng hoang mang không biết. Cách chắc chắn nhất để biết là mình đang không dính mắc là ở trạng thái giác ngộ/niết bàn. Nhưng thiền định tốn rất nhiều năng lượng để tập trung; thứ bạn cần là tập trung vào công việc chứ không phải là suốt ngày xem mình có đang dính mắc gì không. Mình nghĩ có lẽ trạng thái giác ngộ không phù hợp cho công việc trí óc. Nhưng nếu bạn làm điều đó vì từ bi, thì dù không ở trạng thái ngộ bạn vẫn có thể khẳng định là mình không dính mắc.

Vì nhờ có từ bi mà bạn có thể đảm bảo mình luôn không phân biệt dù đang không ở trạng thái giác ngộ, nên bạn giảm được một nỗi lo lắng (tức là giảm khối lượng thông tin cần xử lý). Lúc đó dù bạn có việc phải làm cho bằng được, một việc mà bề ngoài trông như dính mắc 100%, thì bạn vẫn có thể bỏ qua dị nghị để tiếp tục. Tất cả những gì bạn cần là đảm bảo rằng công việc bạn làm thật sự thứ giúp ích cho người khác trước lúc bạn bắt tay vào làm là được. Sau đó thì vô tư làm việc.

Nên mình nghĩ từ bi (hoặc nói rộng hơn là suy nghĩ cho người khác) có hai chức năng chính sau:

  • Phi phân biệt hóa mọi suy nghĩ phân biệt
  • Làm giảm khối lượng thông tin cần xử lý

Rắc rối của từ bi

Trong mắt họ, bạn chẳng là gì cả

Rắc rối của nó ở ngay chỗ khác biệt giữa từ bi và sự trợ giúp thông thường: bạn không là gì trong mắt người bạn định giúp cả. Sẽ có những lúc bạn biết việc mình đang làm sẽ làm họ từ thích sang ghét mình, hoặc đang ghét còn ghét hơn, nhưng nếu bạn có bng chng rõ ràng là họ cần được giúp, và bạn có khả năng giúp, thì không có lý do gì để việc giúp họ là sai cả, bất kể họ có ưa bạn hay không. Vấn đề là, lúc đó bạn sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho hai ngờ vực sau:

  • Liệu bạn có chắc đây thực sự là từ bi, chứ không phải là dính mắc của bạn (để được đổi lại một cái gì đó)?
  • Nếu bạn không phải là họ, sao bạn có thể biết chắc chắn là đây là điều họ thực sự cần?

Tất nhiên khi bạn tht s từ bi, thì hai câu này quá dễ để trả lời. Vấn đề là không chỉ người được giúp mà còn tất cả những người khác cũng sẽ trả lời giùm bạn luôn. Không chỉ trả lời giùm, mà họ còn phát hoảng lên vì nghĩ rằng bạn chính là nhà độc tài vĩ đại nhất mọi thời đại, luôn áp đặt người khác phải theo ý mình. Mệt lắm.

Tất nhiên, trên tinh thần Phật giáo, họ có thể tự lựa chọn xem họ có cần quan điểm của bạn hay không. Giúp được gì thì giúp, ai nghe thì nghe không nghe thì thôi. Nhưng cũng giống như Jesus vậy, dù có bị ghét thì cũng không vì thế mà ông ấy thôi nghĩ tốt cho họ. Ông ấy vẫn cứ tiếp tục làm thứ cần làm, không bắt ai phải nghe ông ấy cả. Bạn cũng vậy, nếu họ không tin thì bạn cũng không bắt họ phải nghe mình. Nhưng dù bạn không bắt họ nghe, thì họ lại bắt bạn nói, mà dù có nói hay không thì họ vẫn không tin. Họ sẽ chỉ thấy rằng bạn chấp niệm, vì đúng là từ ngoài nhìn vào họ chỉ thấy bạn vừa không đồng ý với quan điểm của họ, lại vừa cần họ chấp nhận suy nghĩ của mình. Nhưng thật ra, chỉ là bạn thấy họ đang có quan điểm đang làm hại chính họ, và bạn thì lại có khả năng giúp.

Hai câu hỏi đó sẽ là khởi đầu cho một loạt những nghi ngờ trời ơi đất hỡi mà mình thề là ngay cả người có trí tưởng tượng phong phú nhất cũng không thể nghĩ nổi sao mà người ta lại nghĩ ra được. Họ sẽ phạm vào vô vàn lỗi lập luận mà bạn sẽ thấy là vô cùng buồn cười. Nản nhất là ở chỗ bạn biết là bạn có thể trả lời được hết, nhưng bị hỏi đột ngột thì bạn không tài nào trả lời được. Đơn giản là vì nghi ngờ quá ư là không liên quan, mà nó lại nghe rất liên quan. Nó không liên quan là vì bằng trực giác bạn biết là những chất vấn đó chỉ đến từ sự phòng vệ, và người có đầu óc cởi mở sẽ không hỏi chúng, nên bạn không dành sự chuẩn bị cho chúng. Nhưng nó cũng lại liên quan vì quả thực bạn cũng muốn ngẫm nghĩ chúng để chắc ăn là mình không sai. Nên thành ra mỗi lần bị chất vấn bạn đều ở trong trạng thái thiếu chuẩn bị, dù bạn đã chuẩn bị rất kỹ.

Cái này thông qua hình thức trả lời online thì được, chứ trả lời trực tiếp thì thú thật mình cũng bó tay. Trường hợp của mình, mình đã phải lập hẳn một cái FAQ dài cỡ 20 trang, mà lúc nào cũng ở trong tình trạng không chuẩn bị kịp là đủ hiểu rồi. Bạn sẽ phải kiên nhẫn lắm luôn.

Xác định thái độ từ bi cũng chính là xác định thái độ bị hiểu lầm

Khi xác định thái độ từ bi, nghĩa là bạn đã có quyết tâm làm người tốt và tuân thủ logic. Để đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi thì bạn đã phải tự kiểm tra bản thân không biết là bao nhiêu lần. Bạn chẳng bắt họ phải nghe suy nghĩ của mình gì cả, chỉ là khi họ bắt bạn nói thì bạn mời họ cũng thử dùng logic để thấy rằng đây hoàn toàn là tốt cho họ thôi. Họ luôn khẳng định là họ biết nghĩ cho người khác và dùng lý trí để suy xét, nhưng họ lại không thể nào xử lý nổi thông tin bạn đưa ra. Họ sẽ không nhìn vào bằng chứng, nhưng lại kết luận là bạn không có bằng chứng. Sự mâu thuẫn đó làm bạn không thể nào không thấy buồn cười được. Mà bạn càng cảm thấy buồn cười, thì bạn càng cảm thấy ngán ngẩm không muốn giải thích gì thêm.

Bạn chỉ có thể làm xong việc khi người kia chịu lắng nghe không định kiến. Nhưng làm sao để họ chịu lắng nghe không định kiến trong khi họ đang không chịu lắng nghe và có định kiến? Bạn sẽ phải xuống nước, phải mềm mỏng, phải dỗ dành. Nhưng bạn đâu cần họ quan tâm tới bạn, bạn chỉ cần họ quan tâm tới vấn đề của chính họ thôi mà? Họ có quan tâm tới bạn hay không thì liên quan gì? Chỉ vì bạn không nỡ bỏ mặc họ, mà họ lại càng có lý do để tin là bạn còn mắc kẹt. Haizz.

Lời khuyên cho những ai có ý định từ bi với một người đang ghét mình là tập thói quen ghi chú cẩn thận. Sau nhiều lần thử nghiệm thì mình thấy OneNote và Google Keep dùng rất thích. Zoho Notebook cũng có vẻ khá tốt, nhưng app trên điện thoại giựt quá nên chắc chỉ ai có điện thoại xịn mới chạy nổi.

Dù sao nếu bạn có quyết tâm rất lớn trong việc giúp họ thoát khỏi vấn đề, thì bạn phải có tình cảm rất lớn với họ. Trong quá trình giúp họ các yếu tố tâm lý sẽ phát triển, và bạn sẽ hồi hộp, lo lắng, sợ hãi, mong đợi như bất cứ ai đang còn dính mắc. Nói như trong tâm lý học thì đây chính là mối quan hệ song đôi. Như đã nói ở phần trên, bạn có thể yên tâm mà làm, nhưng khi khi chúng nổi lên thì bạn phải tỉnh táo kéo mình về. Bạn cần phải bóc tách chúng ra và cắt đứt triệt để mong cầu của mình. Và bạn sẽ phải tập luyện hằng ngày, để khi có dịp tiếp xúc với họ thì bạn lạnh như băng, và sự mong cầu sẽ không nổi lên làm nhiễu thông điệp của bạn. Bạn phải đảm bảo thật chắc chắn là hành động và sự quan tâm của bạn dứt khoát và khoan thai như một người chỉ có duy nhất sự từ bi dành cho họ thì họ mới tin. Sẽ là tốn thời gian đấy.

Xem thêm: What is the view of Buddhism in correcting others’ view in spite of their willingness to accept it?

Ru em ngủ

À ơi, à ơi! Tôi ru em ngủ
Yên nào nắng chớ lay tỉnh giấc thu
Yên nào gió, chớ lay kỷ niệm cũ
Đời thôi nhé!
Xin cứ giữ mịt mù.

Khẽ nhìn xem, xem em tôi ngủ
Mây xòe bóng cho giấc mơ đến trú
Lá ấp ôm cho môi em khẽ nụ
Có phải bình yên trốn ở giấc ngủ em tôi?

Ơi em tôi,
ơi mùa thu buồn gầy
Ngủ đi em cho cây già buông lá
Cho muôn nắng vàng đến đây khỏi lạ
À ơi, ơi à ơi! Em tôi…

Sương giăng sương giăng, tóc tơ em mềm
Khép mi dài ấp lấy trời đêm
Em ngủ rồi ngàn thu ơi ở lại
Vạn biển sâu hóa giọt lệ sầu-êm.

Đây là một bài thơ trong tập thơ Dấu vết thiên di. Tác giả là bạn Nguyễn Băng Ngọc. Bạn có thể mua sách trên Tiki, ghé thăm fanpage Clouds will tell, hoặc đọc thêm các bài thơ khác của Ngọc.

EUPD: xem thêm

Tên gọi

Bệnh này được biết nhiều hơn với cái tên rối loạn nhân cách ranh giới (borderline personality disorder – BPD). Cái tên “ranh giới” là do ngày xưa người ta tưởng nó là bệnh nằm ở giữa loạn thần kinh chức năng (neurosis) và loạn tâm thần (psychosis), rồi từ đó bị kẹt lại cho tới bây giờ. Mình ủng hộ việc gọi tên cho đúng, nên sẽ gọi nó là rối loạn nhân cách tâm trạng không ổn định (emotional unstable personality disorder – EUPD).

Dấu hiệu nhận biết

Một người sẽ được chẩn đoán là có EUPD nếu có ít nhất 5 trên 9 dấu hiệu sau:

  1. Làm đủ chuyện điên rồ để không bị bỏ rơi, dù nó có thật hay không
    Frantic efforts to avoid real or imagined abandonment
  2. Có các mối quan hệ (không nhất thiết là yêu đương) kịch tính và không bền vững
    Unstable and intense interpersonal relationships
  3. Không biết đâu mới thật sự là chính mình
    Lack of clear sense of identity
  4. Bị kích động bởi những thứ có khả năng gây hại cho bản thân, ví dụ như nghiện rượu, tình dục không an toàn, ăn trộm, lái xe bất cần đời, ăn vô tội vạ
    Impulsiveness in potentially self-damaging behaviors, such as substance abuse, sex, shoplifting, reckless driving, binge eating
  5. Lâu lâu lại cắt tay hoặc dọa tự tử
    Recurrent suicidal threats or gestures, or self-mutilating behaviors
  6. Tâm trạng thay đổi thất thường và phản ứng cực đoan với những khó khăn chỉ mang tính tạm thời
    Severe mood shifts and extreme reactivity to situational stresses
  7. Luôn cảm thấy trống rỗng
    Chronic feelings of emptiness
  8. Thường giận dữ một cách vô lý hoặc quá quắt
    Frequent and inappropriate displays of anger
  9. Hoang tưởng hoặc mất liên hệ với thực tại trong thời gian ngắn
    Transient, stress-related feelings of unreality or paranoia

9 biểu hiện này có thể được gom lại thành 4 nhóm chính:

  1. Tâm trạng không ổn định (dấu hiệu 1, 6, 7, 8)
    Mood instability (criteria 1, 6, 7, and 8)
  2. Có hành vi nguy hiểm hoặc kịch tính không kiểm soát được (dấu hiệu 4 và 5)
    Impulsivity and dangerous uncontrolled behavior (criteria 4 and 5)
  3. Các mối quan hệ không cho thấy sự lành mạnh trong đó (dấu hiện 2 và 3)
    Interpersonal psychopathology (criteria 2 and 3)
  4. Méo mó trong suy nghĩ và nhận thức (dấu hiệu 9)
    Distortions of thought and perception (criterion 9)
Machine generated alternative text:
SCHIZOPHRENIFORM 
DISORDERS 
AFFECTIVE DISORDERS 
Major Depression 
Dysthymia 
Bipolar 
Cyclothymia 
Borderline 
Personalit 
Attention 
Deficit 
DEVELOPMENTAL 
DISORDERS 
Conversion 
SOMATOFORM 
DISORDERS 
000 
Brief Reactive 
Psychosis 
Ona/i 
e atioo 
DISSOCIATIVE 
Multiple 
Personality 
DISORDERS 
Dependent 
Narcissistic 
Schizotypal 
PERSONALITY 
DISORDERS 
Phobias 
panic 
Post-Traumatic 
Stress 
ANXIETY 
DISORDERS 
sessike-corn 
Chemical abuse 
Anorexia, Bulimia, 
Obesity 
psychosexual 
Kleptomania 
Gambling 
0 IMPULSE/ADDICTION 
DISORDERS 
FIGURE 2-1. Schematic of position of BPD in relation to other mental disorders.

Thông tin trong khung xanh này được lấy từ cuốn I hate you–don’t leave me: understanding the borderline personality.

Tài liệu tham khảo

  • Sách:
    • Kreisman, J. J., & Straus, H. (2010). I hate you–don’t leave me: understanding the borderline personality. New York, NY: Penguin.
    • Mason, P. T., & Kreger, R. (2010). Stop walking on eggshells: taking your life back when someone you care about has borderline personality disorder. New Harbinger Publications: Oakland, CA.
  • Video ngắn: Borderline Personality Disorder (2017)
  • Phim:
    • Mr. Nobody: A boy stands on a station platform as a train is about to leave. Should he go with his mother or stay with his father? Infinite possibilities arise from this decision. As long as he doesn’t choose, anything is possible.

Cách trị liệu

Về phương pháp trị liệu hiệu quả nhất là liệu pháp hành vi biện chứng (dialectical behavior therapy). Bạn có thể xem thêm các clip minh họa sau:

Nòng cốt của liệu pháp này là các khái niệm chánh niệm (mindfulness) từ bi (loving-kindness) của Phật. Ở nước ngoài thì còn khó, chứ ở Việt Nam thì nhiều ê hề. Các bạn cứ tìm hiểu chúng trước cho đỡ tốn tiền.

Các cộng đồng hỗ trợ

Con mắt lạnh như băng

Bài viết dành cho những ai biết mình cần phải thay đổi, nhưng gom mãi mà không đủ quyết tâm. Hoặc cho những ai biết mình cần phải thoát ra khỏi sự sợ hãi hoặc ảo tưởng, nhưng không biết làm sao để cắt đứt chúng.

Xem phần giới thiệu trước →


Nam đang suy nghĩ về Linh. Mối quan hệ của họ thật không lành mạnh chút nào, vì những gì cô nói đều làm cho anh lúc thì như ở trên mây, lúc thì như dưới địa ngục. Nam biết anh cần phải thoát khỏi tình trạng này, nhưng anh phải làm sao đây?

Nam sẽ thoát khỏi được những cảm xúc đó nếu anh đạt được một góc nhìn mới. Khi đó, Nam sẽ không còn sợ, không còn kiêu, không còn thiên kiến, không còn vô tình bóp méo sự thật nữa. Tư duy của Nam sẽ sắc bén và tỉnh táo ở một góc nhìn mới.

Nhưng làm sao để có thể có được một góc nhìn mới, khi theo định nghĩa ta luôn bị kẹt trong một góc nhìn bản thân? Giả sử Linh làm Nam như rơi xuống địa ngục, làm sao để anh có thể thôi tức giận khi cô không có một chút gì gọi là hối hận? Anh đã thử hết mọi cách để cô hiểu lòng mình, nhưng thứ duy nhất anh thấy là cô đang trốn tránh, chống đối, coi thường, định kiến, phớt lờ, hoặc thậm chí là chế diễu anh. Anh cố gắng tách mình khỏi cô, nhưng nỗi căm giận luôn kéo đến bất ngờ, làm xáo trộn sinh hoạt của anh, làm anh kiệt quệ.

Như mọi khi, nếu như logic không thể dùng để giải quyết vấn đề, thì ta phải dùng đến trí tưởng tượng. Tất cả những gì Nam mong muốn là thấy được cảnh Linh thôi phớt lờ Nam nữa. Vậy nếu điều đó xảy ra, thì cô sẽ nói gì với anh? Đâu là thứ thực sự có khả năng cô sẽ nói nhất, chứ không phải là chỉ những tưởng tượng trong đầu anh? Nếu cô không còn hứng thú với anh, thì rất có thể, đây là thứ cô sẽ nói:

Anh sẽ làm gì để vượt qua nỗi đau này? Bởi vì nếu anh vượt qua được, thì tôi sẽ hối hận. Tôi sẽ giúp anh trả thù tôi, và tôi sẽ làm tất cả mọi thứ để lấy lại được niềm tin anh trao cho tôi. Nhưng trước hết, hãy cho tôi bằng chứng rằng anh là người mạnh mẽ.

Điều này thật bất ngờ, nhưng lại là thứ anh đã muốn nghe từ lâu. Cô, người đẩy anh vào đau khổ, giờ lại đòi hỏi anh trở nên mạnh mẽ. Một mặt, anh rất muốn đáp trả lại những gì cô đã gây ra cho anh, mặt khác trong cô vẫn có một thứ gì đó khiến anh rất muốn gắn bó. Phải hin ngôn được điều đó, thì anh mới nhận ra được mình cần gì. Một luồng điện chạy trong đầu anh, khiến cho tất cả mọi thứ anh biết về cô trở nên hợp lý, làm anh bật ra được câu hỏi mà anh đã phải hỏi mình từ rất lâu: “ủa, mắc gì mình phải khổ đến vậy?”

Lần đầu tiên trải nghiệm cái nhìn đó, anh sẽ có cảm giác nỗi sợ trong anh bị cắt làm đôi. Cái nhìn đó lnh như băng, cắt xuyên qua thân thể anh, như một bác sĩ phẫu thuật rạch da anh ra, cắt khối ung thư đang dày vò anh bao năm nay, và khâu vết mổ lại. Suốt cả buổi phẫu thuật vị bác sĩ không hề để lộ ra một chút gì gọi là đau xót cho bệnh nhân; điều duy nhất họ làm là chú tâm vào công việc cho đến khi hoàn thành. Anh phải đặt mạng sống của mình vào tay một người xa lạ, một người hoàn toàn không hề có một sợi dây liên kết gì với anh, vậy mà anh lại phải tin tưởng người đó tuyệt đối. Tất cả những ký ức riêng tư của anh từ trong ra ngoài đều được phơi bày dưới con mắt đó. Anh muốn che dấu lại để không bị tổn thương lần nữa, nhưng dưới con mắt đó, anh bị tê liệt. Đáng lẽ ánh mắt lạnh lùng đó sẽ làm anh rất đau, nhưng vì nó quá lạnh, anh lại không thấy đau gì cả.

Người có thể đảm nhận được vai trò bác sĩ cho ta phải là người ta luôn tôn trọng tuyệt đối. Họ là người mà bạn vẫn cảm thấy gắn bó và tin tưởng, dù nỗi đau lớn tới đâu. Đó có thể là người đã làm tổn thương bạn (như Linh đối với Nam), là một người bạn khác, hoặc là người bạn luôn thấy mỗi lần soi gương. Người trong gương đó có thể là quá khứ của ta, là tương lai của ta, là đứa trẻ trong ta, hoặc là người thầy của ta. Họ có đời sống của riêng họ, nhưng họ vẫn quan tâm tới ta. Bạn có tìm ra được chính bản thân mình hay vẫn đang lạc lối thì cũng không phải là việc của họ, tuy nhiên họ vẫn mong bạn được toàn thiện hơn. Bạn không muốn làm họ thất vọng chút nào, nhưng bạn lại đang làm họ vô cùng thất vọng.

Nhiều lúc ta cũng biết là ta đang bóp méo những thứ ta đang nhìn, nhưng vẫn không biết phải làm sao để cắt đứt. Nhưng khi mọi nỗi đau bị con mắt đó cắt đứt, ta sẽ có cảm giác rất lạ, hơi lâng lâng. Con mắt đó làm ta thấy được hết những thứ ta không để ý, chỉ ra cho ta thấy ta sai chỗ nào. Nó chỉ rõ sự mong cầu được đáp lại mà ta đang cố gắng che dấu bằng đủ loại triết lý, và loại bỏ nó. Nó giúp ta thấy được sự khác biệt giữa thật sự yêu và na ná yêu. Dưới ánh mắt này, bạn trở nên vô cảm và tách biệt với chính bản thân mình, nhưng vẫn thấy là mình đang được yêu thương và bảo vệ.

Tất cả những cái nhìn này đều là sản phẩm của trí tưởng tượng, vì thật ra Linh đâu có nói gì với Nam? Nam chỉ đang nghĩ xem Linh sẽ nói gì với mình mà thôi. Nhiều người nói ta không nên đoán ý người khác, nhưng tôi cho rằng không nhất thiết phải đi ngược lại tự nhiên. Việc đoán ý nhau là cần thiết, vì con người là một loài xã hội và có trí tò mò cao. Nhờ có đoán được ý người khác mà ta mới có thể đặt mình vào trong góc nhìn của họ. Nhưng đoán ý người khác trước khi vết thương chưa được lành chỉ làm cho góc nhìn của ta bị bóp méo, và làm vết thương nặng hơn. Quá trình chữa lành chỉ bắt đầu khi ta tập trung vào những giá trị cốt lõi bên trong, và để thấy được điều đó ta cần phải nhìn ra được sự méo mó ở cả ta lẫn họ. Nếu ta cần phải giả định ở họ điều gì, thì hãy giả định là họ đang bn rn đ tr thành ngưi tt. Bởi nếu muốn một người bận rộn để ý đến ta, thì cách tốt nhất là làm cho công việc của họ nhẹ nhàng hơn. Và nếu ta có thể luôn nhìn thấy điểm tốt ở họ, thì dù họ có làm tổn thương ta đến mấy ta cũng sẽ luôn mỉm cười được với họ. Rốt cuộc, việc ta muốn gắn bó với họ là vì ta thấy được những điểm tốt đó.


Sau khi Nam thấy Linh không còn phớt lờ mình nữa, anh vẫn còn một bước nữa cần thực hiện: cắt bỏ cảm giác tội lỗi vì đã không tha thứ cho Linh. Lúc này Nam cần nhìn vào mắt cô và nói:

Cô sẽ nói gì với một người cô đã phản bội? Cô mong chờ điều gì ở một người bị cô phản bội?

Cho tới khi Linh có thể đưa ra được một câu trả lời thỏa đáng, cuối cùng anh cũng đã tìm được sự im lặng cần thiết để nhìn cô. Anh không bỏ rơi cô, anh chỉ đang nhìn cô từ rất xa. Anh không còn đau khổ nữa, mà chỉ còn thấy buồn vì cô chưa thoát khỏi đau khổ của mình. Chính sự im lặng này sẽ cắt nỗi sợ của cô và cho cô thấy giá trị thực sự của mình. Nhờ có thể nhìn cô với ánh mắt lạnh lùng đó mà anh thấy bản chất thật sự của cô. Và như vậy, dù cô lựa chọn điều gì đi chăng nữa, anh cũng sẽ không cảm thấy hối hận vì đã hơi tàn nhẫn với cô.

Sự hờ hững của Linh với nỗi đau của Nam là món quà quý nhất cô có thể tặng cho anh. Anh sẽ phải cám ơn cô vì điều đó.