Làm sao để biết chắc chắn mình đúng? Nhỡ đâu chính mình mới có bóp méo?

Trước tiên, tôi nghĩ là khả năng ghi nhận cảm xúc (emotion perception) của ta là khá chính xác. Tôi nghĩ là các dấu hiệu ở phần trước đủ khả năng xuyên qua (hoặc phá tan) bất kỳ sự bóp méo nào của bản thân. Cảm thức về sự lành mạnh tôi nghĩ là có thật, và nó tách bạch với khả năng suy luận logic vốn rất mong manh. Có một sự khác biệt rất rõ ràng giữa việc muốn họ làm theo ý mình, và nhìn thấy họ thiếu cẩn trọng trong việc lập luận. Và ta có thể nhìn thấy điều đó một cách chân thực, bất kể trạng thái tâm lý của mình thế nào.

Tuy nhiên, cứ giả sử là tôi đang sai, và những bóp méo của ta là đủ dày để cảm thức đó không xuyên thấu hay phá tan  được. Vậy thì những bóp méo ta có thể có là gì?

Đầu tiên, ta cần phải thừa nhận một thực tế là ai ai cũng có thái đ ngm (implicit attitude). Ai trong chúng ta cũng có những quan điểm vô lý, chỉ là chúng ta không dám nói ra mà thôi. Nếu ai còn nghi ngờ điều đó, cứ việc mời họ làm một bài kiểm tra trên trang The Implicit Association Test (IAT) của đại học Harvard là được:

Disability ('Disabled - Abled' IAT). This IAT requires the ability to recognize symbols representing 
Disability IAT 
abled and disabled individuals. 
Native American ('Native - White Amefican' IAT). This IAT requires the ability to recognize White 
Native IAT 
and Native American faces in either classic or modem dress, and the names of places that are either 
American or Foreign in origin. 
Gender - Science. This IAT often reveals a relative link between liberal alts and females and between 
Gender-Science IAT 
science and males. 
Weapons ('Weapons - Harmless Objects' IAT). This IAT requires the ability to recognize White and 
Weapons IAT 
Black faces, and images of weapons or harmless objects. 
Skin-tone ('Light Skin - Dark Skin' IAT). This IAT requires the ability to recognize light and dark- 
Skin-tone IAT 
skinned faces. It often reveals an automatic preference for light-skin relative to dark-skin. 
Sexuality ('Gay - Straight' IAT). This IAT requires the ability to distinguish words and symbols 
Sexuality IAT 
representing gay and straight people. It often reveals an automatic preference for straight relative to 
gay people.

Chỉ cần đọc tên các bài kiểm tra thôi là tôi đã thấy vô vàn thái độ ngầm của mình rồi, chứ chưa cần làm nữa. Tự tôi biết là các quan niệm như vậy là không hợp lý, nhưng tôi không thể nào ngăn cản sự tồn tại của nó được. Nếu chúng không liên quan đến vấn đề đang được xét thì sẽ không thành vấn đề, nhưng nếu có thì sao? Như vậy, mặc dù tôi cố gắng gạt bỏ chúng đến mấy, tôi cũng không được phép tin rằng mình hoàn toàn vô tư, trong sáng trong việc đánh giá vấn đề.

Mà chẳng cần tới thái độ ngầm. Mỗi chúng ta đều có một hệ giá trị mà ta lựa chọn và k vng (expectation). Thái độ của ta lúc này không còn ngầm nữa, mà là sáng rõ như ban ngày. Nếu có gì đó có vẻ như đi ngược lại với các kỳ vọng đó, vốn là những lựa chọn đáng được tôn trọng để đạt được những điều có giá trị, ta sẽ khó lòng mà chấp nhận được. Có thể ta cũng hiểu rằng mỗi người có một lựa chọn khác nhau, nhưng nếu ta vẫn còn một mối trăn trở cần phải nhìn thấy nó hoàn thành, thì đầu óc của ta vẫn chưa thể thảnh thơi để đáp ứng được những kỳ vọng khác của người khác. Lúc đó, mọi thứ trên đời dường như chỉ có hai loại: hoặc là giúp ta đặt được kỳ vọng đó, hoặc là không giúp hoặc cản trở ta đạt được kỳ vọng đó. Thứ mà mọi người hay gọi là nhị nguyên, bản chất chính là cái này.

Mà kể cả khi chúng ta không có thái độ ngầm hay kỳ vọng nào cả, và thành thực muốn sử dụng hết khả năng của mình để người kia được an lạc, thì ta vẫn vô tình đánh giá sai. Ngay cả các chuyên gia, vốn đã được đào tạo bài bản và không có kỳ vọng gì ở khách hàng của họ cả (trừ việc được trả công đầy đủ), thì họ vẫn luôn thường xuyên đưa ra đánh giá thiếu chính xác. Trong bài báo Clinical Versus Actuarial Judgment đăng trên tạp chí Science, nhóm tác giả Dawes, Faust và Meehl (1989) có khảo sát các lý do tại sao đến cả chuyên gia mà vẫn có thể đưa đến các kết luận sai lầm. Kể ra thì rất nhiều, nhưng tóm lại trong một câu thì có lẽ là thế này: h quên cân nhc nhng kh năng khác nhau ca tình hung.

Không phải là họ không muốn nhớ, mà vấn đề là trí nhớ là một cái gì đó rất mong manh. Một lý do rất lớn trong việc làm mất sự chính xác của thông tin ta nhận được là vì chúng ta không thể lưu quá nhiều dữ kiện trong bộ nhớ. Kể cả ngay sau khi bạn đọc xong bài và tâm đắc với từng ý một trong đây, thì chỉ sau nửa tiếng thôi rất nhiều ý quan trọng của nó bạn cũng sẽ quên. Khi cần dùng tới những thứ bạn đã đinh ninh là mình nhớ kỹ và nhớ đúng, bạn sẽ lại lúng túng.

Machine generated alternative text:
100 
80 
60 
40 
20 
Immediate recall 
20 minutes 
1 hour 
2 
4 
9 hours 
6 8 10 
15 
20 
25 
31 
Elapsed time (days)
Đây là biểu đồ đường cong trí nhớ. Bạn thấy là chỉ sau 1 tiếng thôi là ta đã quên hết một nửa rồi, trong khi ai cũng cảm thấy những gì mình nhớ thật sống động và chân thực hết.

Đứng trước thực tế này, làm sao ta có thể nhớ cân nhắc những khả năng khác đây?

Chỉ ba từ thôi: hãy ghi chú.

Bằng việc ghi chú, ta sẽ buộc phải từ từ, không nóng vội, và như vậy tránh được những kết luận vội vàng. Các quan điểm của bạn sẽ có thêm nhiều cơ hội để được nhìn nhận lại, và những lỗ hổng trong mạch lập luận sẽ được hiển lộ ra. Nếu quá trình chú ý và trí nhớ sẽ làm bạn khó khăn trong việc tra vấn quan điểm bản thân, thì việc ghi chú sẽ giải quyết được những vấn đề đó.

Ngoài ra, cũng nhờ có ghi chú mà bạn sẽ nhận ra rằng: mình không phải là người đầu tiên trên thế giới có những quan điểm như vậy. Bạn sẽ nhận ra là đã có rất nhiều người khác từng suy nghĩ như bạn, và cũng rất nhiều người khác cũng đã nhìn ra được sự không hợp lý trong những kỳ vọng và thái độ của họ. Chỉ cần chịu khó học hỏi từ những người đi trước, ta sẽ vỡ lở ra rất nhiều hiểu lầm. Và khi những hiểu lầm đã được xóa bỏ, thì sự thông cảm và bao dung sẽ đến với ta. Mặc dù có thể bạn vẫn không đồng ý với quan điểm của “phe kia”, nhưng ít nhất cũng đã khám phá ra được những điều mà trước giờ bạn không ngờ tới. Muốn tránh được cảnh người mù dẫn đường người mù, bạn cần phải bỏ công ra tìm hiểu.

Cá nhân tôi thấy người thầy tốt nhất vẫn là sách. Mà sách ở đây không phải là sách bình thường, mà là … sách giáo khoa :)). Nói cho chính xác là những cuốn sách nhập môn hoặc giáo trình đại học, chuyên giới thiệu những chủ đề liên quan cần phải biết của một chủ đề nào đó bạn quan tâm. Những cuốn sách đó dễ tiêu hóa ngay cả với những người chưa hề biết gì, nhưng sẽ nhanh chóng cho bạn cái khung nền (framework) để có thể kết nối những hiểu biết rời rạc và mông lung của bạn thành một bức tranh hoàn chỉnh. Vì nó thể hiện sự nhất trí của những người có chuyên môn, nên bạn không phải sợ chuyện thượng vàng hạ cám hay chín người mười ý nữa. Tất nhiên, nó sẽ không biến bạn trở thành chuyên gia, nhưng bạn sẽ định vị được nỗi băn khoăn của mình nằm ở đâu trong bản đồ tri thức. Những ngộ nhận của bạn sẽ được xóa bỏ nhanh chóng, những thắc mắc của bạn sẽ trở nên sắc bén và thú vị hơn bao giờ hết, và những thứ vô giá trị trước giờ bạn thấy sẽ trở thành vàng ròng. Đọc nó xong, các ông thầy bói mù sẽ không những hết cãi nhau liệu con voi là cái quạt mo hay là cái đòn gánh, mà còn biết được tên khoa học của nó là Elephantidae.

Tôi nghĩ quan điểm của Derrida là đúng: tất cả chỉ là trò chơi ngôn ngữ.

Nói tóm lại, cách để biết rằng mình không có bóp méo là:

  • Họ có những vấn đề đã nêu ở phần trước
  • Có ghi chép mọi dữ kiện. Không cho phép mình phụ thuộc vào trí nhớ bản thân
  • Đã giả sử họ cũng đã biết lý do của bạn rồi, và bạn mới là người cần lý giải tại sao họ biết mà vẫn làm
  • Trung thực rằng có những kiến thức mình chưa biết. Luôn truy tìm những bằng chứng phủ định mình
  • Tìm hiểu cho tới khi những người có chuyên môn đánh giá hiểu biết của bạn là chính xác (hoặc thậm chí thú vị)

Tất nhiên, sẽ luôn có những bất đồng về quan điểm mà có thể không thể hết được. Điều này là bình thường. Nó chỉ không bình thường khi những dấu hiệu ở phần 1 diễn ra. Sự khác biệt giữa một niềm tin lành mạnh và niềm tin không lành mạnh là ở việc có khả năng luôn giữ được sự giả định rằng mình có thể sai hay không. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó.

Làm sao để biết là mình đúng?

Câu hỏi bài này đặt ra ngoài việc “Làm sao biết mình không có bóp méo?” còn là “Làm sao để biết chắc chắn mình đúng?” Tức nghĩa là, đây không chỉ là “tin” nữa, mà là “biết” luôn. Biết một cách chắc chắn, hai năm rõ mười, không cần phải rào trước đón sau là đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng “biết” hơn “tin” chỗ nào? Hơn nhau ở chỗ thứ ta biết là kiến thức, còn thứ ta tin chỉ là niềm tin thôi. We know knowledge, and we believe in belief.

Như vậy, trả lời câu hỏi “Làm sao để biết là mình đúng?” cũng đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi “Kiến thức là gì?”. Có nhiều định nghĩa về kiến thức, nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi và dễ hiểu nhất là: kiến thức là niềm tin đúng có cơ sở (justified true belief). Ví dụ, nếu bạn biết rằng con mèo kêu meo meo, thì nghĩa là mệnh đề “con mèo kêu meo meo” là một kiến thức. Và để mệnh đề đó trở thành kiến thức, thì ba yếu tố sau phải được thỏa mãn:

  • Con mèo quả thật kêu meo meo (yêu cầu về tính đúng)
  • Bạn tin là con mèo kêu meo meo (yêu cầu về niềm tin)
  • Bạn có cơ sở để tin là con mèo kêu meo meo (yêu cầu về tính có cơ sở)

Có cơ sở để tin nghĩa là sao? Nghĩa là ít nhất tất cả những thông tin bạn có đều không mâu thuẫn với niềm tin đó. Ví dụ bạn đã từng nghe thấy tiếng kêu meo meo phát ra từ miệng một con mèo, thì đó là cở sở cho việc mọi con mèo đều kêu meo meo. Hoặc có thể cả đời bạn chưa từng gặp mèo bao giờ, nhưng cả bò, dê, cừu, chó, nai, sóc, thỏ đều khẳng định với bạn là con mèo kêu meo meo. Mọi thông tin bạn có đều không mâu thuẫn gì với nhau, vậy thì niềm tin của bạn là có cơ sở. Tất nhiên, có cơ sở không nhất thiết là luôn đúng mãi mãi. Ngay cả làm khoa học cũng luôn phải nghi ngờ những gì đã được thẩm định cả trăm năm và được xem là chân lý nữa là. Rất có thể sau này bạn phát hiện ra là có những con mèo không kêu meo meo thật, thì lúc đó cơ sở cho niềm tin đó cần phải được xem xét lại. Nhưng từ giờ cho đến lúc đó, nếu như chưa có bằng chứng gì để mâu thuẫn với niềm tin “con mèo kêu meo meo”, thì niềm tin đó vẫn là có cơ sở.

Việc ta có thực sự biết điều kiện 1 có xảy ra hay không không cần thiết. Rất nhiều kiến thức của chúng ta chỉ là kiến thức gián tiếp. Ở đây tôi chỉ chú trọng đến tính trôi chảy, dễ hiểu và thực dụng của bài viết. Ai thích tìm hiểu sâu hơn có thể xem thêm:  “Dinosaurs did exist once”. Is it knowledge or is it only justified belief?

Quay lại với trường hợp của chúng ta, để có thể biết liệu một người thật sự cần được giúp hay không, thì ba yếu tố sau cần phải được thỏa mãn:

  • Họ đúng là cần được giúp
  • Bạn tin là họ cần được giúp
  • Bạn có cơ sở để tin là họ cần được giúp

Các dấu hiệu đã nêu ở phần 1 sẽ là cơ sở cho kết luận họ cần được giúp. Các dấu hiệu đó hoàn toàn có thể được kiểm sai để tìm xem liệu niềm tin có lỗ hổng hay không. Tương tự như vậy, trong trường hợp những người xung quanh cho rằng bạn mới là người có bóp méo, thì ba yếu tố sau phải được thỏa mãn:

  • Bạn đúng là có bóp méo
  • Họ tin là bạn có bóp méo
  • Họ có cơ sở để tin là bạn có bóp méo

Như vậy, ngoài chuyện họ có niềm tin rằng bạn có bóp méo ra, họ còn phải có cơ sở cho niềm tin đó nữa. Cơ sở đó, tất nhiên, cũng không được mâu thuẫn với những gì bạn thể hiện (có sự ghi chép, luôn truy tìm bằng chứng phủ định mình, v.v.).

Phần 0, Phần 1, Phần 4

Khi nào sự tác động là cần thiết?

Phần này liệt kê những trường hợp tổn hại đến sự an lạc, hạnh phúc, hoặc chất lượng sống của họ, nhưng thứ duy trì sự tổn hại đó lại là chính họ. Có hẳn một danh sách các nhu cầu căn bản và các cảm xúc khi các nhu cầu đó được đáp ứng mà ai ai cũng có, nên ta có thể đánh giá một cách khách quan khi nào họ cần sự tác động. Có thể họ rồi cũng sẽ không chấp nhận nổi tình trạng của mình mà tìm cách thay đổi, nhưng nó sẽ kéo dài quá lâu một cách không cần thiết. Thậm chí trước khi họ kịp thay đổi thì sự tiêu cực đó đã kịp lây cho người khác.

Trường hợp 1: người muốn được nuông chiều

Để bắt đầu, tôi muốn giới thiệu một clip về những người hay trì hoãn. Clip rất vui, mời bạn xem trước khi đọc tiếp.

Sau khi xem xong clip, bạn sẽ hiểu thứ duy nhất làm con khỉ này sợ chính là Quái Vật Hoảng Loạn. Nếu Con Người Quyết Định Lý Trí không đủ mạnh để lôi nó ra, thì chỉ có nước đợi Quái Vật Hoảng Loạn thức giấc. Và nếu chưa tới lúc nó thức giấc, thì phải có ai đó đóng vai nó.

Hiện nay có rất nhiều app có thể giúp đóng vai con Quái Vật này. Điển hình nhất là Beeminder, ở đó người dùng sẽ bị trừ tiền khi bị trễ hẹn. Việc trò chơi hóa công việc cũng là để con khỉ này hứng thú làm việc.

Tôi bắt đầu bằng con khỉ này vì nó vui và vì có thể nhiều người cũng đã biết về nó. Nhưng thật ra ngoài con khỉ này ra ta còn có cả một sở thú:

Machine generated alternative text:
waitbutwh . com

Và những con vật này choán lấy vị trí làm việc của Con Người Quyết Định Lý Trí.

Machine generated alternative text:
waitbutwhy.com

Rất nhiều người để những con vật này chi phối cuộc sống. Họ có thể là người bố muốn con mình học thật giỏi để mình được hãnh diện, là người bạn gái ra đủ loại ám ký hiệu để được bạn trai tặng quà, là người hàng xóm luôn thích đánh giá, chê bai người khác. 7 loại tội lỗi mà Kinh Thánh nhắc đến cũng có thể xem là những con vật này. Nhưng tiếc là ở những trường hợp như vậy, thì chúng ta vẫn chưa có một app hữu hiệu nào để đóng vai Quái Vật Hoảng Loạn cả. Và nếu ai không thể tự mình lôi bản thân ra khỏi những con vật đó, thì người đó cần một sự tác động khác từ bên ngoài.

Chúng ta đã quá thành thạo trong việc nuông chiều chúng, thậm chí là ca tụng chúng, khiến cho những ai dù có thấy được chúng cũng nhanh chóng buông xuôi. Hằng ha sa số những ví dụ như vậy bủa vây chúng ta mỗi ngày. Những bài thơ buồn khiến mọi người chỉ muốn được tiếp tục ở lại trong nỗi buồn đó, và những status chỉ trích thì được nhiều người thả tim. Việc biết rằng là có hại về lâu dài nhưng lại phớt lờ, thậm chí biện minh rằng như thế lại là tốt, với tôi, giống như việc chúng ta sắp bước vào điểm không thể quay lùi trong việc chống biến đổi khí hậu, nhưng đến giờ ai cũng còn thờ ơ vậy. (Xem thêm trường hợp 4.)

Những con vật này đến từ di sản tiến hóa của chúng ta. Nhờ có chúng mà chúng ta mới sống sót đến ngày hôm nay. Nhưng trong thời đại này, chúng xấu xí, và người bị chúng điều khiển sẽ trở nên kém hấp dẫn với những ai không bị chúng điều khiển.

Các bài viết của Wait But Why về các con vật này rất hay và sinh động, tôi khuyến khích bạn đọc hết:

Trường hợp 2: người có sự bất lực học được

Từ trường hợp này trở về sau là những trường hợp liên quan đến niềm tin, tức là với Con Người Quyết Định Lý Trí luôn.

Có một thí nghiệm như sau: người ta nhốt một con chó và cho nó bị giựt điện nhẹ. Ban đầu nó tìm mọi cách để thoát, nhưng vì bị nhốt nên nó đành chấp nhận. Sau đó, người ta để nó ra ngoài cùng với những con chó khác và làm lại thí nghiệm. Mặc dù lần này nó không khó khăn gì để thoát cả, và nó thấy rõ ràng là những con khác có thể thoát khỏi sự khó chịu đó, nó vẫn chấp nhận chịu đựng. Người ta phải tự tay đưa nó ra khỏi nơi bị giựt hai ba lần nó mới nhận ra là có thể thoát ra được thật. Con chó đã học được rằng nó sẽ luôn bất lực. Chính s bt lc hc đưc (learned helplessness) này làm nó không chịu thoát, dù nó biết là nó làm được. Clip này miêu tả khá hay vấn đề này:

Người làm thí nghiệm này, Martin Seligman, chính là cha đẻ của tâm lý học tích cực. Xem thêm What is Positive Psychology?

Bạn thấy, với những ai đã có sự bất lực học được rồi, thì ta bắt buộc phải giúp. Sự bất lực đơn thuần khác sự bất lực học được ở chỗ khi một người bất lực, họ vẫn muốn làm nhưng chỉ là không biết phải làm thế nào thôi. Nhưng ít nhất ở đâu đó họ vẫn muốn làm. Còn người đã học được rằng mình đã bất lực rồi thì kể cả khi thấy những người xung quanh bảo là có làm được đi chăng nữa, họ cũng tự thuyết phục mình là họ không liên quan. Họ sẽ không cố gắng đi tìm lối thoát mà sẽ chấp nhận ở lại với nỗi đau. Kể cả khi họ rất tin tưởng bạn, và bạn đã cho họ cảm thấy mình luôn được an toàn và ủng hộ vô điều kiện, thì họ vẫn sẽ mặc kệ sự tin tưởng đó để tiếp tục dày vò mình.

Trường hợp 3: người có định kiến hoặc bóp méo nhận thức

Đâu là dấu hiệu của một cái đầu mở? Là sự tôn trọng với những thứ trái ngược với những điều mình tin là đúng. Có thể trong một cuộc tranh luận, cả hai bên đều cứng đầu, và có thể sẽ không ai thuyết phục được ai. Nhưng miễn là cả hai đều đưa ra được một lý do mới cho mỗi lần nói thì đó vẫn là một cuộc trao đổi lành mạnh, và cả hai vẫn sẽ thu lại được một điều gì đó sau cuộc nói chuyện. Còn nếu chỉ có một bên đưa ra được lý do, còn bên kia gạt phắt ngay lập tức và cho rằng người kia chắc chắn là sai dù không hề xem xét lập luận đó, thì lúc đó đúng là có vấn đề.

Tất nhiên, cũng có rất nhiều lý do cho việc không đưa ra được lý do tại sao. Có thể là do họ e ngại việc trả lời sẽ bị đánh giá, có thể là lúc đó họ cũng không biết phải giải thích sao, có thể là họ biết giải thích nhưng cũng ý thức được rằng nếu nói thiếu ý sẽ dẫn đến một cách hiểu hoàn toàn khác. Nhưng biểu hiện của chúng là sự nhức đầu và bối rối, chứ ko phải là gạt ngay và nói bạn sai ngay lập tức. Nếu khi ta đưa một thông tin trái ngược cho họ và họ phản ứng là “ủa vậy à? Để từ từ nghĩ thêm”, hoặc “ừ biết rồi, nhưng giờ chưa biết giải thích sao”, thì tốt, ta không có gì phải lo. Nếu họ phủ nhận phản biện của bạn nhưng sự phủ nhận đó dựa trên những thông tin bạn nói, thì đó là đang tìm cách chỉ ra sự mâu thuẫn của bạn chứ không phải phớt lờ nó.

Nói về bản thân tôi một chút. Tôi cũng tự biết mình cứng đầu chứ không phải không. Tôi cũng có nhiều điểm không đồng ý với số đông. (Chính vì không đồng ý nên mới phải viết cái blog này.) Không những thế, từ lúc cảm thấy không đồng ý đến lúc có thể nói ra được lý do rõ ràng cho sự đồng ý đó là một quá trình dài. Nên trong khoảng thời gian đó, nhìn từ ngoài vào thì rõ là tôi không chịu nhìn nhận sự mâu thuẫn mình đang có. Nhưng tôi nghĩ, một người thành thật với bản thân là người sẽ tìm cách để làm lập luận của ngưi phn bác mình mạnh hơn trước khi phản bác họ. Đó là sự khác biệt giữa trông như bóp méo và thật sự bóp méo.

Trường hợp 4: người cho rằng việc mình làm là hợp lý

Đây lý một số lý do ví dụ mà họ hoặc những người xung quanh họ thường viện vào. Nghe thì cũng hợp lý, nhưng thực chất chỉ là biện minh mà thôi:

  • Tôi không thích thay đổi, tại sao lại bắt tôi thay đổi?
  • Không ai có quyền bắt tôi phải làm điều tôi không muốn
  • Miễn điều tôi làm không hại ai là được
  • Tôi đã quá mệt mỏi rồi bây giờ tôi phải được tận hưởng
  • Cái này ai cũng làm mà đâu riêng gì tôi
  • Tôi bệnh tôi có quyền
  • Người điên là người tỉnh táo nhất
  • Phải điên mới có được những tác phẩm để đời
  • Cuộc đời tựa một bài thơ. Vui buồn gieo vận tình cờ trầm thanh
  • v.v.

Những người thích lừa phỉnh người khác (hay nặng hơn là đạo đức giả) cũng luôn có một lý do cho việc làm của họ.

Thật ra, bản thân những lý do đó ban đầu vốn rất hợp lý. Nhưng dưới sự biến đổi nghĩa của khái niệm, những gì họ nói từ việc chống lại sự nuông chiều lại thành ra phê bình lý trí, từ đó vô tình lại làm cho chúng được nuông chiều thêm. Nhưng bạn cũng khó mà lý giải tại sao.

Tình huống liên quan

Trước khi qua trường hợp 5, tôi muốn lưu ý một chút. Ở trường hợp “tôi bệnh tôi có quyền” đôi khi có một mắc mứu. Giả sử có hai người đang ở trong mối quan hệ “lá lành đùm lá rách”. Trong trường hợp đó, cả bên lá lành lẫn bên lá rách đều hiểu là bên lá rách cần được ưu tiên và thông cảm hơn. Cả hai cũng đều hiểu là sẽ có những lúc lá rách ăn vạ trong lúc quẫn trí, và cả hai cũng nghĩ là mình có thể gánh được vấn đề.

Chuyện chỉ xảy ra khi bên lá rách đang có chuyện và cảnh báo rằng nếu bây giờ lá lành không quan tâm thì lá rách sẽ gây ra tổn thương cho nhau, thì có khi là lá rách chỉ đang cố gắng truyền đi một sự thật mà lá lành không để ý. Đây không phải là ăn vạ, mà là cảnh báo sự nghiêm trọng của vấn đề mà thôi. Nhưng ngặt nỗi là việc đòi hỏi như vậy trông rất giống như đang ăn vạ. Mà cách để ứng phó với thực sự ăn vạ sẽ rất khác, và cách đó sẽ khiến bên lá rách cảm thấy mọi nỗ lực của mình như đổ sông đổ bể. Điều đó càng thúc đẩy bên lá rách làm dữ hơn để bên lá lành nhận ra được vấn đề. Tức là lúc đó, ăn vạ là cách duy nhất để bảo vệ cả hai khỏi sự… ăn vạ.

Tức là lúc này, sự oan và sự không oan cứ xen kẽ, lẩn khuất giữa nhau. Bên trong oan có không oan và bên trong không oan có oan. Điều này sẽ làm cả hai tức phát điên vì không biết phải hiểu vấn đề ra sao.

Trường hợp 5: con mắt lạnh như băng

Để thuận tiện trong việc diễn đạt cũng như thống nhất với các bài viết khác trong blog, tôi sẽ đặt tên người cần được giúp là Megan, còn người đi giúp là Cueball.

Đây là Cueball và Megan:

Trường hợp này khác các trường hợp trên ở chỗ đây là sự tự ý thức cao nhất của Megan về cuộc đời mình. Megan có một con mắt mà tôi đặt tên là con mắt lạnh như băng. Nhìn vào mắt cô, không ai còn có thể nghi ngờ việc người sở hữu nó thiếu tỉnh táo hay gì cả. Dưới ánh mắt đó, ruột gan của bạn sẽ bị phơi bày lộ thiên, và linh hồn bạn sẽ bị choán ngợp. Ánh mắt đó sẽ ám ảnh bạn cả đời.

Cô có ý thức rất rõ về bản thân. Cô biết điều cô làm là sai, nhưng cái sai của cô có một mục tiêu quan trọng: thử thách người đang cố gắng giúp đỡ họ. Bằng việc lợi dụng việc mình đang có sẵn những vấn đề kể ở trên, cô sẽ chủ động tìm cách vô hiệu hóa những cố gắng giúp đỡ của anh. Không phải cô muốn anh buông xuôi – cô muốn anh đến giúp cô thoát khỏi tình trạng này chứ – nhưng cô cần phải kiểm tra xem anh có đáng tin hay không. Và cách để bài kiểm tra này đáng tin nhất là làm cho anh trở nên không đáng tin trong mắt mọi người. Cô không đặt điều để nói xấu anh gì cả, nhưng những đánh giá của cô về anh chỉ dựa trên những cảm xúc ngắn hạn chứ không phải là một sự cân nhắc thấu đáo. Và để có thể làm những người khác cảm thấy đây là sự cân nhắc thấu đáo chứ không phải cảm xúc ngắn hạn, cô cần ám thị bản thân, tự lẩm nhẩm kịch bản mỗi ngày để có thể hoàn toàn hoá thân vào nhân vật mình tạo ra. Nó cần trở thành một phản xạ để khi có ai hỏi đến thì cô có thể trả lời ngay mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Sự chống đối của cô có được áp dụng một cách triệt để hay không sẽ quyết định sự đáng tin cậy của bài kiểm tra dành cho anh.

Đúng ra với những người như đang giỡn mặt như vậy thì anh chẳng cần phải giúp chi cho phí công. Anh còn bao nhiêu thứ quan trọng hơn, mà những người giỡn mặt như vậy thì chẳng xứng đáng. Tuy nhiên, anh cũng hiểu là những gì cô làm là hợp lý, và thấy đúng là mình vẫn có thể làm tốt hơn. Anh hiểu nếu chính bản thân anh cũng còn chưa hài lòng với kết quả hiện tại, thì làm sao cô có thể bị thuyết phục hoàn toàn được. Anh biết là cô đang dùng sự tổn thương của mình như là một giải thưởng để anh tiếp tục nỗ lực, và anh cũng hiểu là người khác nhìn từ ngoài vào chỉ thấy đây là một mối quan hệ độc hại. Anh hiểu là cho đến chừng nào anh thể hiện được khả năng lãnh đạo và khiến cho những người từng tin tưởng cô và hoài nghi anh thôi hoài nghi anh và bắt đầu yêu cầu cô giải thích, thì cô sẽ không ngừng lại. Anh biết là với cô, tất cả những gì cô cần chỉ là một người có thể vượt qua được tất cả thử thách cô tạo ra, và anh biết là cô biết là anh biết hết những điều đó.

Đây không phải là sự nhõng nhẽo, hay trò chơi mèo vờn chuột, càng không phải là sự thao túng chuyên nghiệp, mà là của hai con người đang trao niềm tin cho nhau. Nó là một sự khẳng định mạnh mẽ và đầy tự chủ rằng cô đang chờ anh đến gặp cô. Với khả năng của mình, cô thừa hiểu là anh dư sức để vượt qua hết, nhưng cô vẫn trì hoãn càng nhiều càng tốt. Còn anh, anh cũng chẳng cần phải làm vậy chi cho mệt, nhưng anh biết cô xứng đáng được một lần hết đau khổ, và anh hiểu là cô làm như vậy là cần thiết. Chừng nào có anh có thể vượt qua được muôn ngàn sóng gió để tới thay đổi cô, thì cô sẽ thừa nhận mình đã sai. Còn từ giờ cho đến lúc đó thì đừng hòng.

Cho nên, bảo rằng cô không cần tác động cũng rất đúng, mà bảo rằng cô cần phải được tác động cũng đúng không kém. Người ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy cô rất ổn, và anh thì rất không ổn. Nhưng họ không tài nào hiểu nổi là trong rất không ổn có rất ổn và trong rất ổn có rất không ổn. Phải là những người nghĩ cho nhau kinh khủng lắm mới làm được những điều như thế.

Phần 0, Phần 3, Phần 4

Biết chửi thề trước khi biết nói

Nói tục là đặc tính của con người ở mọi nơi. Mọi ngôn ngữ, dù là phương ngữ hay thổ ngữ, là sinh ngữ hay tử ngữ, nói bởi hàng triệu người hay chỉ một bộ lạc nhỏ, đều có những từ “cấm”. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra các tác động của “ngôn ngữ cấm” lên não, từ đó thăm dò những mối quan hệ rối rắm khó hiểu giữa những vùng cao hơn của bộ não khi xử lí các vấn đề của trí tuệ, lí trí và kế hoạch, với những vùng thần kinh thấp hơn, “thú tính” hơn mang lại cho ta những cảm xúc.

Chửi thề trong phòng thí nghiệm

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sự nguyền rủa thường là một mớ hỗn tạp của sự sống sượng, tự phát với sự sắc sảo có chủ ý. Khi chửi một ai đó, thì người chửi hiếm khi tuôn ra những lời tục tĩu và lăng mạ một cách nhát gừng, mà sẽ đánh giá đối tượng bị chửi để điều chỉnh cơn thịnh nộ “không kiểm soát nổi” của mình.

Những nhà điều tra khác thì xem xét tâm lí chửi thề, các giác quan và phản xạ của chúng ta phản ứng lại như thế nào với âm thanh hoặc hình ảnh một từ tục tĩu. Họ cho rằng nghe một câu chửi có thể suy ra trình độ văn hoá của một người.

Người ta dùng những sợi cảm biến đặt trên da tay và ngón tay một nhóm người để nghiên cứu các mẫu hình truyền dẫn của da SCP (skin conductance patterns). Khi những người này được nghe một số từ thô tục được nói lên một cách rõ ràng dứt khoát, họ có biểu hiện như bị đánh thức. Mẫu hình SCP của họ nhọn lên, các lông trên tay dựng đứng, mạch đập nhanh và hơi thở gấp.

Theo Kate Burridge, một giáo sư ngôn ngữ học ở Đại học Monash, Melbourne, Australia, một phản ứng tương tự cũng xảy ra ở những người tự hào về trình độ văn hoá của mình khi họ nghe người khác nói sai ngữ pháp hoặc sử dụng những tiếng lóng mà họ coi là bất nhã, vô văn hoá.

Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, những lời tục tĩu có thế khiến người ta nổi da gà và bất động trong giây lát. Trong một cuộc thí nghiệm, những người tham gia được cho xem một chuỗi từ được viết bằng các màu khác nhau và được đề nghị phản ứng bằng cách gọi ra các màu của từ đó thay vì đọc chính các từ đó.

Ví dụ, nếu người tham gia nhìn thấy từ “ghế” màu vàng, họ phải nói “vàng”. Sau đó, người ta chèn thay thế các từ tục vào chuỗi từ. Lập biểu đồ về những câu trả lời tức thời và có chậm trễ, họ thấy rằng, mọi người cần nhiều thời gian hơn để đọc được các màu của từ tục hơn là khi họ đọc các từ bình thường.

Rõ ràng việc nhìn thấy bằng chữ những từ tục làm người tham gia xao nhãng nhiệm vụ mã hoá màu sắc. Nhưng việc đó cũng để lại dấu ấn. Trong những cuộc kiểm tra trí nhớ sau đó, những người tham gia không chỉ nhớ tốt hơn những từ khó chịu, mà họ còn nhớ tốt cả màu sắc của những từ đó.

Trong một nghiên cứu khác, người ta đề nghị những người tham gia nhanh chóng lướt qua một danh sách các từ trong đó bao gồm cả những từ tục tĩu, rồi sau đó cố nhớ lại càng nhiều từ càng tốt, kết quả là họ lại tỏ ra nhớ tốt hơn với những từ xấu, và nhớ rất kém các từ đứng trước hoặc đứng sau từ xấu đó.

Ích lợi của việc chửi thề

Tuy nhiều ngôn ngữ xấu có thể làm người nghe choáng váng, nó có thể giúp tẩy bỏ stress và giận dữ. Trong một số trường hợp, một sự tuôn trào tự nhiên của ngôn ngữ thô tục có thể không phải mang ý nghĩa chống đối thù địch hay bệnh xã hội.

Các nghiên cứu cho thấy, nếu bạn ở cùng một nhóm bạn thân, bạn càng thoải mái bao nhiêu thì bạn càng chửi thề bấy nhiêu. Bạn muốn nói bất cứ điều gì bạn muốn. Các bằng chứng cũng cho thấy rằng chửi thề có thể là một phương tiện hữu hiệu để xả đi sự bực tức và do đó ngăn chặn được bạo lực.

Với sự trợ giúp của một nhóm nhỏ sinh viên và những người tình nguyện, Timothy B. Jay, một nhà tâm lí ở Đại học Khoa học –Nhân văn Massachusets, và là tác giả của các cuốn sách Chửi thề ở Mĩ (Cursing in America) Tại sao chúng ta chửi thề (Why we curse), đã khám phá ra động lực chửi thề một cách rất chi tiết.

Các nhà điều tra đã phát hiện rằng đàn ông thường chửi thề nhiều hơn phụ nữ, trừ khi những phụ nữ đó ở trong một hội nữ sinh, và các hiệu trưởng đại học chửi thề nhiều hơn các thủ thư hoặc những thành viên của trung tâm chăm sóc ban ngày của đại học.

Bất kể người chửi là ai và điều chọc tức họ là gì, lí do căn bản của cơn giận dữ tuôn trào thường giống nhau. “Mọi người vẫn nói với tôi rằng chửi thề là một cơ chế đương đầu khó khăn đối với họ, một cách để giảm stress. Đó là một hình thức quản lí sự giận dữ thường bị đánh giá không đúng”, Jay nói.

Thực ra, việc chửi thề có thể là một cách để trút giận và tránh một cuộc ẩu đả bằng tay chân. Không gì đáng sợ hơn việc một người quá giận không thể thốt nên lời, lặng lẽ nhặt một khẩu súng hay con dao và…

Tấm gương của nỗi sợ hãi

Các kết quả nghiên cứu cũng tiết lộ: cái được xem như ngôn ngữ cấm trong một nền văn hoá nào đó thường là một cái gương cho thấy sự sợ hãi và đóng kín của nền văn hoá đó. Ở một số nền văn hoá, các từ chửi thề thường được rút ra chủ yếu từ các chức năng tình dục và các bộ phận trên cơ thể hoặc từ những vùng tôn giáo.

Chửi thề là bản năng bất biến của con người, chỉ có thể chế ngự được bằng văn hóa

Ở những xã hội nơi sự trinh tiết và danh dự của người phụ nữ là điều quan trọng, không ngạc nhiên khi nhiều từ chửi thề là biến thể trên chủ đề “đồ chó đẻ” hoặc nói một cách hình ảnh về cơ quan sinh dục của mẹ hoặc chị của người bị chửi.

Khái niệm sơ khởi của một từ chửi thề bắt nguồn từ việc các nền văn hoá cổ coi trọng lời chửi thế theo tên của một hoặc nhiều vị thần. Ở thành cổ Babylon, thề dưới tên một vị thần là cách để chắc chắn hoàn toàn không bị nói dối, và mọi người tin rằng nếu thề giả dối trước thần thánh sẽ bị trừng phạt. Lời răn của Kinh Thánh cũng được cảnh báo không được lợi dụng tên Chúa để thề thốt. Còn ngày nay, những nhân chứng khi đứng trước toà cũng phải thề trên cuốn Kinh Thánh rằng họ đang nói sự thật,

Tuy thế, cả điều răn Kinh Thánh lẫn người kiểm duyệt sốt sắng nhất đều không thể loại bỏ khỏi tâm trí con người những từ ngữ thô tục nói về thân thể. Người ta luôn cảm thấy khó chịu khi nghe hoặc đề cập đến chức năng của cơ thể. Và thế là mỗi ngôn ngữ lại phát minh ra những chuyển ngữ để nói về những chủ đề nhạy cảm đó. Khi một từ trở nên có liên hệ gần gũi với một chức năng thân thể nhất định, gợi nhớ đến cái không được gợi lên, nó sẽ bắt đầu xâm nhập vào vương quốc của điều cấm kị và phải được thay thế bởi một sự chuyển ngữ mới.

Tiềm thức thuở hồng hoang

Các nhà khoa học mới đây đã tìm cách vẽ bản đồ địa hình thần kinh của ngôn từ bằng cách nghiên cứu những bệnh nhân bị hội chứng Tourette (Tourette’s syndrome) – một dạng rối loạn về thần kinh chưa rõ căn nguyên có đặc điểm chủ yếu là bị rối loạn thần kinh vận động và mắc tật máy giật phát âm, ví dụ như nhăn mặt liên tục, đẩy kính quá cao trên sống mũi hoặc phát ra những tiếng gầm gừ.

Trong cuốn Tàng thư về tổng quan bệnh tâm thần (The Archives of General Psychiatry), tiến sĩ David A. Silbersweig, giám đốc khoa tâm thần học và hình ảnh thần kinh của trường cao đẳng y học Weill thuộc Đại học Cornell, đã mô tả việc ông và các đồng nghiệp đã sử dụng các phương pháp quét bằng tia X (Positron Emission Tomography (PET) scan) để đo luồng máu não và xác định những vùng nào não ở những bệnh nhân Tourette được kích động trong giai đoạn phát bệnh.

Họ phát hiện sự kích hoạt mạnh mẽ của hạch căn bản (basal ganglia), một nhóm bốn bó neuron nằm sâu trong não trước ở ngay chính giữa trán, nơi được biết là giúp phối hợp các vận động của cơ thể, cùng với sự kích hoạt của các vùng trọng yếu ở não trước phía sau trái chuyên tham gia vào việc lĩnh hội và tạo ra lời nói.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy sự thức giấc của những mạch thần kinh có tương tác với hệ thống các chi, vốn có cảm xúc con người, và, quan trọng hơn, với những vùng “thực hiện” của não, nơi các quyết định hành động hoặc ngừng hành động có thể được thực hiện. Một quá trình phức tạp diễn ra trong não khi một người bị thôi thúc nói ra những điều không nên nói. Người đó bị thôi thúc bởi một sự ao ước được nguyền rủa, được nói lên cái gì đó không được phép. Những mạch ngôn ngữ ở thứ tự cao được khơi ra, để xếp đặt nội dung của lời nguyền rủa. Trung tâm điều khiển xung não đấu tranh để ngắt mạch sự thông đồng giữa sự thúc giục hệ thống chi vận động với mưu đồ ở vỏ não, và nó có thể thành công một thời gian. Nhưng khi sự thôi thúc gia tăng, cho đến khi cuối cùng những lời nói cũng bùng ra, thì những vùng não cổ xưa và tinh tế cũng phải bó tay.

Niềm cảm hứng văn chương

Theo Guy Deutscher, một nhà ngôn ngữ học ở Đại học Leiden (Hà Lan), thì trong những văn bản viết cổ xưa nhất có từ 5.000 năm trước, cũng đã có những mô tả thô tục về cơ thể con người. Mà văn bản viết thì hẳn là một sự phản ánh tiếng nói – xuất hiện từ khi thanh quản con người phát triển, nếu không phải là sớm hơn. Còn với John McWhorter, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học ở Học viện Manhattan (Mĩ), trẻ em thường nhớ những ngôn từ bị cấm từ rất lâu trước khi hiểu được ý nghĩa của chúng, và các cây đại thụ trong văn học thì luôn xây dựng nghệ thuật của họ trên nghĩa gốc của những từ đó.

Kịch gia Anh thế kỉ 17, Ben Jonson, đã rải lên khắp những vở kịch của mình những câu chửi thề, còn Shakespeare khó mà có thể viết nổi một đoạn thơ mà không chèn thêm những câu bang bổ như “zounds” hay “sblood” – những từ viết tắt của “God’s wound” và “God’s blood” mà thời đó thường dùng như một cách chơi chữ đề cập đến tình dục. Một vở kịch Shakespeare có tên là Much Ado About Nothing (Chẳng có gì mà ầm ĩ) chính là cách chơi chữ của “Much Ado About an O Thing” trong đó “the O thing” được ám chỉ bộ phận sinh dục nữ.

Văn hòa William Shakespear sử dụng rất nhiều ngôn ngữ chửi thề đương thời trong các tác phẩm kịch của mình

Bài gốc: Almost Before We Spoke, We Swore – The New York Times
Lược dịch: Thục Phương, đăng trên Tạp chí Khám Phá số 15 ngày 17/10/2005

Anh Nguyễn Dương Minh gửi: Rắc rối của từ bi

Không thiếu những câu chuyện lay động về việc cảm hóa sự giận dữ, hận thù bằng sự từ bi. Nhưng tất cả các câu chuyện đó đều chứa một ngầm định quan trọng: người từ bi đã đi guốc trong bụng người được từ bi rồi. Và đây chính là điều khiến cho chúng chỉ là những câu chuyện nghe thì hay nhưng gần như không thể nào xảy ra trong thực tế, chỉ vì một câu hỏi đơn giản: họ là ai mà dám cho rằng mình đúng?

Những câu chuyện, cuối cùng chỉ là những câu chuyện. Những người đã “ngộ” rồi, những người thực sự đã đạt đến cái từ-bi đó, liệu đi ngang qua họ bạn có nhận ra? Cũng như trong công ty, một nhân viên IT làm tròn bổn phận của họ, thực sự trông như họ chẳng làm gì cả. Vậy, những người từ-bi trong truyện kể kia, họ có thực sự từ bi hay không?

Bài viết nói về những đào sâu suy tư và những biến đổi tâm lý của một người từ bi, cũng như những yêu cầu khắc nghiệt và mâu thuẫn nhau để họ có thể mạnh dạn nói rằng điều họ làm xuất phát từ lòng từ bi. Đặc biệt trong trường hợp ngặt nghèo nhất: người từ bi chưa hiểu được tại sao người kia lại làm như vậy (tức chưa có một cơ sở lý thuyết cho trực giác của mình), và người được từ bi có định kiến sẵn với họ. Đáng tiếc, đây có lẽ mới là trường hợp phổ biến trong xã hội nhất, và dường như chưa có ai đề cập đến chúng.

Vậy, ngay từ tiền đề của bài viết, bạn đã vướng vào chính điều mà bạn đưa ra: Bạn có thực sự biết người từ-bi là ai hay không? Làm sao bạn có thể đào sâu vào suy tư và biến đổi tâm lý của một người từ-bi, khi mà bạn còn chưa biết họ là ai? Hay là, bạn cho rằng bạn chính là một người từ-bi, và đây là những suy tư của bạn? Nói cho ngắn gọn lại là: Bạn đang “lên lớp” những người cho rằng họ từ-bi, hay bạn là một người từ-bi chia sẻ những khó khăn trong việc hành thiện của mình? Đi theo hướng thứ hai, có lẽ sẽ có ảnh hưởng hơn. Song, nếu bạn đã là một người từ-bi, liệu bạn có đưa hai chữ từ-bi vào trong bài viết? Vậy thì, thực ra bạn đang lên án những người cho-rằng-họ-từ-bi vậy. Khổ một nỗi, người ta cần thì sẽ hỏi, khó thì mới tìm đến sư thầy để gỡ, chứ ít ai chịu nhận mình vào dạng người cần phải đọc bài này cả.

– Bởi vậy mới nói là rắc rối. Hiểu biết thực sự đòi hỏi sự phản tư, sự can đảm đánh đổ những gì mình biết. Nhưng sự giúp đỡ đòi hỏi sự dìu dắt, am hiểu, vững vàng, và có khi là cứng rắn nữa. Hai cái đó về cơ bản là không thể làm cùng một lúc, và vào một thời điểm nào đó họ phải thôi cho rằng mình có thể đang sai để mà còn giúp người khác. Đó là bi kịch của người từ bi đấy.

Đây là bi kịch của kẻ “trí”. Người hiểu biết ít ỏi đơn giản, cuộc sống với họ mới thực đơn giản làm sao: Đã có những giới hạn cứng, những hằng số bất biến, những quy luật bất di bất dịch làm hệ quy chiếu cho con đường họ đi. Người học nhiều hiểu rộng hơn, họ biết rằng hệ quy chiếu của họ thực ra chỉ là một thứ được người ta vẽ ra, và mọi hằng số, giới hạn, quy luật kia, chỉ đúng trong hệ quy chiếu kia thôi. Một khi hệ quy chiếu đã thay đổi, thì thế giới đảo ngược, hỗn mang! Nhưng vốn dĩ, thế giới là hỗn mang. Để dò dẫm trong đêm trường hỗn mang kia, con người đã từng bước, từng bước rờ rẫm xung quanh mình, rồi quy định, đặt tên cho những thứ mà mình rờ phải. Nếu không có hệ quy chiếu đó, thì loài người mãi mãi chìm trong mông muội!

Thế nên, kẻ trí thì biết rằng, cái họ biết-biết thực quá khiêm tốn với cái họ không-không biết. “There are known knowns, known unknowns and unknown unknowns.” Cái không-không biết, quả thực là một rào cản quá lớn trong tâm trí của kẻ trí. Do đó mà dẫn đến cái gọi là “analysis paralysis”: Tê liệt vì phân tích!

Vậy từ bi là gì? Ví dụ khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì bạn đều muốn họ hạnh phúc mà không mong nhận được gì lại, và những hành động đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó đặc biệt hoặc cao cả hơn giúp đỡ vô vụ lợi. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.

Đức Phật chẳng phải là bậc từ-bi sao? Nhưng khi Ngài thấy một kẻ khốn-nạn đang hấp hối bên vệ đường, Ngài đâu có dừng lại để chăm sóc cho họ? Thay vào đó, Ngài đã bỏ ngai vàng, bỏ vợ đẹp con thơ để đi tìm con đường cứu-nạn cho trần gian khốn-nạn. Như vậy thì, từ-bi không nhất thiết cứ phải là một hành động phản ứng với sự kiện (reactive response). Từ-bi không cần phải là hành động, mà theo tôi, nó là một trạng thái của tâm trí (state of mind).

Chừng nào bạn còn chưa thấy mình bị khủng hoảng niềm tin, bạn còn chưa hài lòng. Và quả thật, vì mỗi lần làm như vậy bạn lại nhìn ra một góc nhìn mới, và thấy những thứ mình nghĩ là hai năm rõ mười hóa ra không phải, nên bạn càng có lý do để làm điều đó. Điều này chưa từng có ngoại lệ, trăm lần như một.

Đây gọi là “làm triết học”.

Thế nên, mặc dù từ bi là câu chuyện không cho phép mình tin vào bất cứ suy nghĩ nào của bản thân, thì nó cũng là câu chuyện có dám làm điều ngược lại hay không.

Đây (vẫn) gọi là “làm triết học”. Descartes đã nghi ngờ cả bản thân mình có tồn tại hay không. Có gì chứng minh được rằng, bạn không phải chỉ là một bộ não sống trong một cái vạc? Có gì chứng minh được rằng, vũ trụ không phải chỉ vừa được tạo ra 5 phút trước đây, với tất cả trí nhớ và niềm tin của bạn được tái tạo nguyên vẹn?

Nhưng có dám sử dụng quyền đó hay không là cách duy nhất để hoàn thành công việc. Người từ bi có quyền được sử dụng quyền đó, và phải sử dụng quyền đó. Đó chính là bi kịch của người từ bi.

Đây là bi kịch của kẻ trí. Và, chắc bạn đã có câu trả lời: Dù muốn hay không, chúng ta phải thuyết phục kẻ khác đi theo chúng ta. Trong vũ trụ vô biên, cái có-tồn-tại là một phần bé xíu xiu, còn cái hư-vô là mênh mông không lường hết được. Do đó, bản chất của vạn vật là sinh sôi nảy nở, là nhân rộng sự tồn tại của nó ra; và bản chất của ý tưởng cũng là như vậy: Ý tưởng đòi hỏi phải được phổ rộng ra, như một con vi-rút dịch bệnh, lan truyền từ người này sang người khác để mãi mãi nó được tồn tại. Vậy bạn là kẻ trí, nhận thức được sự vô nghĩa của vô thường, thì bạn phải thuyết phục kẻ khác tin theo điều đó. Nếu điều bạn tin là sai? Chẳng sao cả, vì bạn, người trần mắt thịt, giới hạn tri thức của bạn chỉ đến đó thôi. Dĩ nhiên, tôi không nói là bạn không nên tiếp tục “làm triết học”, không tự đặt câu hỏi nghi ngờ niềm tin của chính mình nữa. Nên, bạn vẫn làm điều đó; nhưng bạn vẫn nên áp đặt tư tưởng của mình lên những người bạn có thể áp đặt được.

Vậy thì, chúng ta hãy bỏ qua các “rắc rối” và đi tới giải pháp:

Bạn cần khởi lên được trong lòng họ cảm giác thú vị. Nó là cái cảm giác khiến ta ngẩn người ra và tự hỏi “ơ, hóa ra là được à? Thế mà mình cũng không nghĩ ra.” Chính sự thú vị đó mới tiếp thêm năng lượng cho người nghe, làm cho họ thấy bạn tuyệt đối an toàn, và xóa tan mọi dè dặt để đến giúp bạn. Còn bằng không, thì quá trình chú ý, ghi nhớ và biến đổi nghĩa của từ sẽ hành bạn tới chết.

Theo tôi, giải pháp là một cuộc thập tự chinh. Giải pháp, là tẩy não, là tiêm nhiễm tư tưởng vào đầu óc con người từ lúc họ còn rất, rất bé. Tư tưởng từ-bi kia phải là tư tưởng độc tôn, phải là thứ chiếm đoạt lấy suy nghĩ của con người và chối bỏ hết mọi tư tưởng cạnh tranh. Bạn ngạc nhiên ư? Chắc bạn nghe đến khái niệm “a war to end all wars” rồi. Muốn có Pax Mongol, phải có vó ngựa Mông Cổ hoành hành, đốt phá, cướp giết. Muốn có hòa bình, nhất thiết phải có chiến tranh. Hai mặt của một đồng xu, vĩnh viễn không thể tách rời.

Muốn có trí tuệ, phải có ngu muội.

Muốn có từ-bi, phải có nhẫn-tâm.

Bạn Đoàn Phương Thảo gửi: Chuyện Tiểu Cúc

Thỉnh theo lời đề nghị hết sức chân thành, tôi quyết định góp một lời bình về “Chuyện Tiểu Cúc” cho những người yêu thơ dù không mấy sẵn sàng. Lý do thì đã rõ, thứ nhất là tôi còn mơ hồ về bài thơ ấy, thứ hai là tôi không phải dân chuyên. Mà dù không phải người trong ngành, tôi cũng hiểu được một bài thơ hay luôn có vẻ đẹp, ẩn chứa thông điệp nào đó. Nhiệm vụ của người bình thơ là phải làm rõ nó ra, đẩy cái ý hay, cái đẹp ấy lên cho mọi người cùng thưởng thức, thậm chí lôi ra cái vẻ riêng mà không phải độc giả nào cũng thấy được, dù cho cái đẹp là một khái niệm trừu tượng và luôn biết cách làm bất lực ngôn từ. Giống như dù Đạo không thể diễn giải ra nhưng ta vẫn cần dùng lời để nói về Đạo là vậy. Suy đi tính lại, đứa hay đọc chùa như tôi nghĩ mình nên có chút trách nhiệm với bài thơ và với tác giả.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi thân thương, tiếng gọi một cô gái trong hình hài bông cúc nhỏ bé:

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.

“Lá đổ vàng” và “gió heo may” là tiếng nói riêng của mùa thu, là cách thức mùa thu giao tiếp với con người và giao thoa với cảm xúc. Nó đứng riêng, tách mình với tất cả các thời điểm khác trong năm và mang cái hồn riêng biệt động lòng tác giả. Ta đã quen với nỗi niềm vu vơ, lành lạnh, man mác của “heo may” xuất hiện xuyên suốt trong tập “Dấu vết thiên di”. Thu đến với lá vàng và gió se lạnh, hiển nhiên như nó vẫn là, từ năm này qua năm khác. Chính vì nhận ra những dấu hiệu của mùa thu ấy không hề tình cờ, thật bình thường và hiển nhiên quá, nên bỗng dưng tác giả thấy “rất lạ” vì lâu nay không để ý đến cách mà mọi sự vận động rất đỗi tự nhiên.

Hoa cúc từ lâu đã trở thành một biểu tượng cho mùa thu, điều này chẳng ai bàn cãi. Nhưng tiếng gọi Tiểu Cúc ngay từ câu thơ đầu tiên khiến ta dấy lên mối nghi ngờ. Là hình ảnh Tiểu Cúc đã gợi lên cả một mùa thu sống động như thật hay thu về nhắc nhớ đến bóng dáng thân thuộc của Tiểu Cúc? Tôi đồ rằng câu trả lời nằm gọn trong trong ý thứ nhất, vì chúng ta hãy cùng nhìn xem hình ảnh Tiểu Cúc nối liền, “dây mơ rễ má” và rung động mạnh mẽ đến thế giới tâm tưởng như thế nào:

Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tất cả những hình ảnh gợi ra trong đoạn này là từng phần nhỏ của cả một bức tranh thu rộng lớn chứ không hề rời rạc. Có điều bức tranh này khiến ta có cảm giác cô đơn, trật nhịp trong cái bao la rộng ngợp, mênh mang xa mãi. Nào là “heo may”, “trầm tư”, “buồn” rồi đến “bơ vơ”, “bão”, “lang thang”, “lạc nhịp” với mức độ tăng tiến. Tôi đã mường tượng ra một cánh đồng rộng lớn trải dài ngút mắt bên cạnh con sông trước khi bão về. Bầu trời xám lại mù mịt trong gió. Những gợn sóng xô nhau vỗ nước văng ra thành từng giọt như bay về trời để làm mưa. Hình ảnh dòng sông cũng là một hình ảnh quen thuộc trong thơ Nguyễn Băng Ngọc, vừa là dòng sông của hiện tại, dòng sông Hồng chảy nặng phù sa nơi tác giả được nuôi dưỡng và trưởng thành “Cây cơm nguội vàng trút lá đầu đông/Và những buổi chiều nắng tắt trên sông”, vừa là dòng sông hồi ức “Một khúc sông trôi chở miên man những suy tư thời thiếu nữ”, “Người hoạ sĩ bước ra từ giấc mơ/Đi qua sông, đi lạc miền hoài niệm”, vừa là dòng tâm tưởng “Gửi cho anh dìu dịu màu lá mới/Màu dòng sông bình yên – như màu trái tim biết đợi”. Có những khi dòng sông bám lấy cô gái như một đứa trẻ đáng yêu “Có dòng sông màu hồng chảy miết/ Quanh cổ chân bé nhỏ đung đưa”. Có những khi dòng sông như dòng nước mắt chảy cuốn xuôi nỗi buồn “Và chuyện dòng sông màu đỏ…/…bốn mùa say…/Chảy quanh co hờn tủi con phố ngắn/Dường như Mặt Trời khóc ai bên chiều lặng/Nước mắt rơi, loang lổ trải sông dài…”. Dòng sông biến hóa khôn lường là thế, trở về trong “Chuyện Tiểu Cúc” không còn dáng vẻ hiền hòa, không một giọt nắng đậu lấp lánh áng sông trôi. Dòng sông đang trở mình, run lên như thế giới nội tâm đầy xáo động. Ẩn hiện trong bức tranh thiên nhiên tâm tưởng ấy lẻ loi hình ảnh một “lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu”. Con người đó chẳng có tên riêng dù đã bước vào cuộc hành trình từ lâu. Ôi cái sự tự do, lãng du nhưng đơn độc và nhỏ bé. Đó là cảm giác mà Tiểu Cúc mang đến cho tác giả, thứ cảm giác định hình luôn khung cảnh xung quanh. Giống như nỗi buồn hay gắn liền với khung cảnh tối, lạnh. Nghĩ về Tiểu Cúc, tác giả liền tưởng tượng ra cả một thế giới ôm trọn lấy cô. Tiểu Cúc tự tại và không lo nghĩ đến cái nhìn từ bên ngoài. Thế nhưng có đôi khi cô cũng quay đầu lại, để thấy rằng cuộc đời vẫn trôi như thế dù cô có chú ý đến hay không, đời vẫn thật thà “hồn nhiên tấu nhạc” dẫu trong lòng cô là giông bão. Chợt nhận ra điều ấy, nỗi buồn lo bỗng chốc trở nên vô lý và tan đi.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say - nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Có người cho rằng câu hỏi “Tiểu Cúc của ta đâu” là ám chỉ Tiểu Cúc đang lạc lối trong dòng suy tư ngổn ngang của chính mình. Tôi không nghĩ thế vì đơn giản Tiểu Cúc không hề đi lạc, cô ấy biết cách đi đến nơi mình muốn đến. Câu hỏi ngỏ là cách gọi với một cô gái đang không ở gần bên “anh”, ý tứ rằng “em ơi hãy lại đây nghe anh nói”. Em đừng để bị cám dỗ bởi vẻ đẹp nơi ấy vì đối với anh, nó xa xôi và có vẻ vô thực, vô dụng: “mùa thu say nói nhảm”, “vầng trăng khóc trên trời”. Nhưng Tiểu Cúc có lý lẽ của riêng mình, cô để cho cảm xúc “lên ngôi” và lấn át giọng nói anh. Thế giới của cô có gì anh nào đâu biết, “đàn chim sẻ”, “đồi mộng mị”, ngay đến ngọn cỏ, lá cây cũng là một phần trong đó. Thế giới không có thực nhưng mang đến sức sống thực, là nơi cư ngụ, là nơi cô tạm trốn đi những toan tính đời thường, thả lỏng và bình yên. “Tôi-đã nhiều khi-thấy bóng mình nằm yên trên một ngọn đồi, dưới một bóng cây tán rộng. Một ngọn đồi xanh xao mềm mại, rưng rưng tiếng chim qua các ngọn cây. Còn tôi, tôi nằm đó xuôi tay thanh thản.”, “Ngọn đồi nhỏ đó, như niềm an ủi nỗi lòng, gợi nhắc tôi nghỉ ngơi và an thái. Muôn nẻo đường tôi đi có một chốn dừng chân. Nơi mà chỉ cần nằm xuống và nhắm mắt lại, ngọn đồi ấy sẽ ôm trùm tôi rồi biến vào tận cùng hư ảo.”. Vậy nhưng với cái nhìn vật lý từ bên ngoài, anh tưởng cô như người say, bị vẻ đẹp ảo mộng kia mê hoặc và cứ chìm vào đó mãi. Anh liệu có biết đi tìm em không? Vì hình như anh yêu em mất rồi. Anh chẳng biết những điều anh cho là phù du hoá ra lại rất có ý nghĩa với em. Anh chẳng thể hiểu được, chẳng thể nắm bắt được em. Anh không thấy những gì em nhìn thấy. Mà thật ra chính Tiểu Cúc cũng đang trông mong một người có thể tìm đến khoảng không bí mật của mình. Cô chờ đợi “người trăm năm” trong thinh lặng, chỉ viết vội một “chữ Tình” dẫn lối, buộc người yêu thương cô tự kiếm tìm.

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Tiếng gọi Tiểu Cúc da diết, đong đầy lo lắng và yêu thương. Tác giả muốn Tiểu Cúc sống là chính mình, chẳng tình yêu nào lớn lao hơn thế nữa. Ngay cả khi em tồn tại nơi “mùa hạ” bản thân không thuộc về, em hãy cứ “rong chơi” vô ưu vô tư. Khi đêm thu đến, hãy trở về với khoảng lặng của riêng em, để nghỉ ngơi và thanh thản, để hồi sinh nguồn năng lượng.

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ - hóa mộng giữa sương ngời…
....
Tiểu Cúc à...
...Tiểu Cúc của ai ơi?

Tôi đã ngồi ngẫm nghĩ câu này mãi: “Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối”. “Lời nói dối” ở đây là gì? Liệu có phải vì em vừa muốn anh đến, vừa không chào đón, nửa kín nửa hở mời gọi rồi cuối cùng lại lựa chọn “hoá mộng” nên tưởng như em đang lừa dối anh? Hay là em đang lừa dối chính bản thân mình khi muốn vùi mãi trong mộng tưởng? Chữ “mỏng” ở đây đã làm rất tốt công việc của nó khi ranh giới giữa hư và thực, giữa thật thà và lừa dối rất mong manh. Và dù mâu thuẫn là thế hoặc chính vì mâu thuẫn là thế, Tiểu Cúc lựa chọn miền hư ảo đầy ánh sáng “hoá mộng giữa sương ngời”. Khoảnh khắc ấy cô trở nên nhẹ bẫng, chẳng còn lưu luyến điều gì rồi tan đi trong rực sáng thuần khiết. Ta tưởng như có đức Phật, có một ông chúa vừa xuất hiện, Tiểu Cúc thoát ra khỏi vòng luân hồi, tan biến mãi vào hư không, chẳng còn buồn đau hay hạnh phúc, để người ở lại chỉ biết ngước mắt trông theo “Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ai ơi”. Những dấu chấm lửng lơ là những tiếc nuối cuối cùng, những nghẹn ngào, những nhớ mong chưa thành hình dội đến, vang vọng trong không gian. Tiểu Cúc cuối cùng chẳng thuộc về ai, ngay cả bản thân cô ấy.

Có đôi điều thế này. Người thầy mà tôi vô cùng ngưỡng mộ – thầy Chu Văn Sơn đã từng nhận định: “Mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc văn, căn cứ tin cậy nhất, trước sau, vẫn là văn bản tác phẩm. Đó là một nguyên tắc. Và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng hiểu và hiểu thấu đáo là hai cấp độ. Không am tường tác giả thì khó mà thấu đáo tác phẩm.” Hiểu được vậy, mong tác giả hãy thứ lỗi khi có một người vô duyên tự dưng đến xâm phạm vào suy tư cá nhân, để rồi đi vòng quanh, cầm lên đặt xuống mà phân tích, mà bóc tách và lột trần thế giới cảm xúc riêng của Tiểu Cúc, rồi thì ba hoa chích chòe, nói lời mông muội.

Và để đáp lại tâm tình người ở lại ngày ấy, gửi tặng anh bài hát này, như một đoạn kết buồn, hoặc như một “dấu vết thiên di”: Đông kiếm em-Thái Vũ.