Đạo không thể giải thích được qua sự độc thoại, nhưng có thể thấy nó được qua sự đối thoại

Đây là một câu trả lời rất hay tôi gặp được khi đặt câu hỏi trên subreddit r/taosim. Xin chia sẻ lại với các bạn.

Câu hỏi:

Lúc thực hành Đạo giáo bạn có bao giờ gặp mâu thuẫn (paradox) nào không?

Ví dụ, làm X thì sẽ làm theo Đạo, không làm X cũng là làm theo Đạo, và làm thứ ngược lại với X cũng là làm theo Đạo. Vậy X với bạn là gì? Ba cái này có thể khác nhau tùy theo thời điểm và hoàn cảnh, nhưng tôi đoán nó cũng có thể làm bạn bối rối?

Câu trả lời của CloudwalkingOwl:

Tôi đoán mâu thuẫn lớn nhất chính là kung fu. Để có thể làm được điều gì đó mà không phải tốn công, bạn phải tốn công tập luyện cả bao nhiêu năm trời. Và để có thể làm nó một cách tự phát và không phải suy nghĩ, bạn phải dành ra rất nhiều năm chiêm nghiệm về thứ bạn đang học. Nhưng cái mâu thuẫn này nó không có thực, nó chỉ trông vậy mà thôi. Cái mâu thuẫn này đến từ việc không hoàn toàn hiểu cái thứ bạn đang nói. Đây chính là chỗ đưa ta đến cái ý tưởng bạn không thể giải thích Đạo bằng từ ngữ.

Cái ý tưởng Đạo khả Đạo phi thường Đạo không thực sự là mâu thuẫn, mà thật ra nó đòi hỏi ta có một cách hiểu sâu sắc hơn về bản chất của “phát ngôn”. Đạo không thể giải thích được qua sự độc thoại, nhưng có thể thấy nó được qua sự đối thoại. Nghĩa là bạn không thể giải thích nó bằng từ ngữ mà ai nhìn vào cũng thấy đương nhiên. Nhưng một người thấu suốt có thể giải thích nó cho một người khác – nếu như họ đã sẵn sàng – thông qua một cuộc nói chuyện với rất nhiều lần đối đáp (back-and-forth), bằng kinh nghiệm cả hai bên cùng có chung, và bằng  niềm tin cùng bồi đắp lẫn nhau. Đó là vì không ai sử dùng từ ngữ theo cùng một cách, và, không ai có chung một trải nghiệm. Điều này không giống với điều mà đa số mọi người đều nghĩ.

Chị Nguyễn Đan Khanh gửi: hãy giữ niềm tin sống như một người trẻ mới bước vào đời

Những câu nói mà tôi hay nghe nhất từ ngày tôi lớn: “Đời không như phim”, “Trên đời không ai thiệt tình nữa hết”, “Có tiền có quyền/ Có tiền có tuốt/ Người ta chỉ xem trọng người có tiền”, “Người ba xạo thì sống sung sướng, người thật thà cả đời lận đận”, và vân vân. Thông thường tôi không góp chuyện trong những đề tài như vậy. Tôi không có ý tranh luận cơ sở tâm lý của các hiện tượng xã hội. Tôi cũng hiểu, chỉ lời nói của một mình tôi không bì lại điều đã trở thành quan điểm của một phạm vi không nhỏ người trong xã hội, trừ khi tôi nổi tiếng (tiếc là tôi không phải!). Và trong quan điểm của tôi, những điều như thế nên làm nhiều hơn nên nói.

Tôi thấy trong lĩnh vực sáng tạo có một câu rất hay: giữ óc sáng tạo như những đứa trẻ lên ba. Quan điểm xã hội của tôi cũng gần giống thế: giữ niềm tin sống như một người trẻ mới bước vào đời, giữ liều lĩnh sống như kẻ đã đi đến đường cùng.

Tôi tin vào những gì xem thấy từ phim ảnh cũng hiện hữu ngoài đời sống thực. Trừ thể loại viễn tưởng, thông thường ta không thấy phim giống với đời, bởi vì trên phim, mỗi một điều được phơi bày ra với khán giả chỉn chu, tường tận. Góc nhìn phim ảnh là tổng hợp nhiều góc nhìn trong thực tế đời sống, mục đích truyền tải thông điệp nhất định của nhà làm phim. Cuộc sống mà ta trông thấy bằng đôi mắt của ta, đa phần thiếu bao quát, bởi mỗi một người, lẽ thường nhìn và kết luận sự việc từ những phương diện cá nhân. Đời nhiều góc khuất. Có bao nhiêu người sẽ theo sâu sát cho đến tận cùng tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh của một ai đó khác không phải bản thân? Nhưng thường ta không nhận mình như thế. Ta gán sự thất vọng cho xã hội nhiều hơn.

Khi tôi kể câu chuyện về Hoàng với nhiều chi tiết ẩn chứa bên trong, (cùng với những N., những T., những cô hàng xóm, những bậc phụ mẫu như cha mẹ của em,…) có người thốt lên thật không tin nổi, có người lại thấy tôi như vừa kể ra cuộc đời của họ. Tôi thường trả lời, những điều như thế không hề hiếm hoi, chỉ là nhiều khi ta không tin vào khả năng hiện hữu thường tình của chúng.

Đối với lòng chân thành, tình thương yêu, tôi cũng nhìn tương tự.

Gần đây tôi quen vài người bạn mới. Các em có nhiệt tình sống, nhiệt tình yêu thương tôi rất khâm phục. Có em trăn trở cả điều lớn lao như là, làm sao thay đổi cái nhìn bi quan của xã hội về tình thương yêu thuần tuý giữa con người với nhau. Nghe vào đúng thật có chút vĩ mô, nhưng tôi tin vào những thế hệ trẻ mang theo trong mình hạt giống yêu thương.

Quả Cầu, bài này của em chị thích lắm nè. 😊

👉 Khi sự giúp đỡ lại trông như cưỡng ép

Những câu nói mà tôi hay nghe nhất từ ngày tôi lớn: "Đời không như phim", "Trên đời không ai thiệt tình nữa hết", "Có…

Dikirim oleh Nguyễn Đan Khanh pada Rabu, 15 April 2020

Tại sao không nên dùng ngực thay cho vú?

Đ vui: Đâu là s khác nhau gia con ln vi con heo?

Ngực là gì? Vú là gì?

Chúng ta hãy ôn tập lại kiến thức sinh học một chút. Đây là sự khác biệt giữa ngực và vú:

  • Ngực: khoang trống trong cơ thể để chứa tim phổi, nằm giữa cổ và bụng
  • : cơ quan bài tiết sữa

Ta có thể xét rộng vấn đề ra hơn để thấy cơ quan bài tiết sữa phải gọi là “vú” mới chính xác. Ta không thể nói “động vật có ngực”, “mèo có 6 ngực”, “cả ngực lấp miệng em”, “trái ngực sữa”, mà chỉ có thể nói “động vật có vú”, “mèo có 6 vú”, “cả vú lấp miệng em”, “trái vú sữa”. Việc có sự tương đồng giữa “vú” và “bú” cho thấy người ta chỉ có thể bú vú chứ không thể bú ngực. (Tương tự, sự tương đồng giữa “bú” và “bu” (nghĩa là “mẹ” ở một số địa phương) cho thấy bu là để chỉ người có khả năng cho bú.) Nghĩa là vú với ngực là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Nước sông không phạm nước giếng.

Tại sao không nên dùng từ “ngực” thay cho “vú”?

Trên thực tế thì mọi người lại hay dùng nước sông thay cho nước giếng: từ “ngực” thường xuyên được dùng để chỉ vú. Ví dụ như cuốn Cơ th& đi sng tình dc ca ph n (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) biên soạn) sử dụng “ngực” và “vú” song song với nhau:

Machine generated alternative text:
Néu quan såt båu nguc cüa ban trong guong, hoäc düng 
tay dé kiém tra bö_nguc cüa minh, ban sé thäy - cüng nhu däu 
van tay- khöng hé co hai gi6ng het nhau, vå khöng co 
'cap döi hoån håo". Hinh dang vå kich co cüa båu nguc cüng 
khåc nhau O möi nguöi, co ban 16n, co ban_nggc nhö, 
co nguc rän chäc, co nguc mém nhéo, cö_nguc khöng duqc min 
mäng. Bao nhiéu Phu nü lå bäy nhiéu bO_nggc khåc nhau. Hai 
vti cåa ban co th6 khöng gi6ng nhau vé kich thuOc vä hinh 
däng. CO nguöi co chia thång vé phia truOc, co nguöi co 
nxim—ui det, co nguöi co nxim-YAit thut våo trong. Quång vi lå 
vüng säm xung quanh co thé 16n, hoäc nhå, co thé måu 
sam hoäc måu nhat, vå thuöng co nhüng n6t nhö san du6i da. 
Nhüng n6t san nay lå nhüng tuyén bä nhön, tiét ra chät nhön dé 
båO ve-num-y-li trong thöri gian cho con bü. Döi khi phia ngoåi cüa 
quang vü co mot våi svi löng. Mét s6 Phu nü co båu nguc 16n hon 
hän so vöi nggc cüa nhüng Phu nü khåc.

Một số người sẽ xem chuyện này giống như bắt bẻ tiểu tiết, vì dùng thế nào mà chả được, miễn hiểu đúng ý nhau. Ví dụ, việc gọi cái ổ đĩa ngoài để chứa dữ liệu là cái USB là một cách gọi sai, vì USB chỉ là cái cổng kết nối mà thôi. Nhưng vì cái ổ đĩa ngoài đó sử dụng cổng USB để kết nối, nên mọi người quen gọi nó là USB luôn. Nói cách khác, từ “USB” đã trở thành từ đng nghĩa khác âm với từ “ổ đĩa ngoài”, như kiểu “con lợn” là từ đồng nghĩa khác âm với “con heo” vậy. Và vì chuyện này không gây ra hệ lụy nào, nên đây chỉ là sự phát triển bình thường của ngôn ngữ.

Bản thân từ “USB” lúc này trở thành một t đa nghĩa.

Nhưng trong trường hợp “vú” và “ngực”, có những người thực sự sợ phải dùng từ “vú” đến độ nhất quyết gọi nó là “ngực”. Vào các bệnh viện lớn như 175, bạn sẽ thấy lâu lâu có một cô hỏi là muốn đi khám ngực, xong nhân viên hỏi lại là “cô muốn khám vú đúng không?”, thì cô sẽ trả lại là “ừ, là khám ngực đó”. Tức là cô muốn khám vú, nhưng nhất quyết gọi nó là ngực. Việc này gây ra phiền toái, vì đi khám ngực sẽ vào một khoa khác, và khám vú sẽ vào khoa khác. Việc gọi ngực là ngực và vú là vú quan trọng như vậy đó.

Điều này khiến cho việc gọi vú là ngực khác với chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB, vì không ai sợ cái ổ đĩa ngoài và né tránh gọi cái tên đúng của nó cả. Ai biết thì dùng cho đúng thôi.

Đồng ý rằng vú thì không phải như chân hay tay để mà nói chuyện bình thường. Những thứ liên quan tới bộ phận sinh dục hoặc tình dục luôn là những thứ nhạy cảm, và những gì nhạy cảm sẽ được thay thế bằng các uyển ngữ. Chuyện tạo uyển ngữ trong một chừng mực nào đó thể hiện khả năng xử lý ngôn ngữ và sự nhạy cảm với cảm xúc của người khác của bạn. Tuy nhiên về lâu dài sẽ vô tình làm sự xấu hổ về từ “vú” không thể hết được. Việc đối diện với nỗi sợ bắt đầu từ việc dám gọi tên nỗi sợ đó ra – nỗi sợ vú. Hay nói như Yoda trong Star Wars thì: “Named must your fear be before banish it you can”.

Đây cũng là một ví dụ cho một hiện tượng: có những vấn đề bạn cảm thấy không ổn, nhưng càng nghĩ về nó thì bạn càng thấy nó là điều bình thường. Một mặt, bạn thấy rằng việc gọi vú là ngực giống hoàn toàn như chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB. Mặt khác, bạn cũng thấy việc xem nó không khác gì gọi cái ổ đĩa ngoài là USB như đang dung dưỡng nỗi sợ vú. Bạn muốn lên tiếng phản đối nó, nhưng bạn tự nhận ra sự vô lý của mình. Nhưng điều đó vẫn không làm bạn thấy yên tâm hơn. Bạn muốn chỉ ra (pinpoint) chân tướng của vấn đề, nhưng tất cả những gì bạn có thể miêu tả được vẫn mãi không trọn vẹn. Sau một thời gian bạn bỗng nhận ra có một bức tường vô hình giữa bạn với giải pháp, mà mỗi lần bạn định phá nó đi thì nó lại lẩn đi đâu mất.

Một tham vọng của tôi là nêu lên được bản chất của bức tường này. Đây là các bài viết khác trong blog tìm cách miêu tả nó:

Tinh thần Quả Cầu

Dự án Quả Cầu được lập ra là để khơi gợi sự tò mò, lòng tốt và lòng dũng cảm ca nhng ngưi đã đánh mt nó, thông qua vic xóa bỏ nhiều hiu lm, ng nhn và nim tin sai phổ biến trong xã hi. Chào mừng bạn đã ghé thăm.

Đây là sơ đồ của blog:

Machine generated alternative text:
Quå cau 
Lan truyén sv tö mö, lÖng töt vä 
löng düng cåm 
Tinh thån Quå Cåu: 
• Dåm biét. Dåm chinh phyc nöi sq. Dåm di dén cüng 
• Dåm Iva chon diéu t6t nhät cho ngurdi khåc 
• Dåm di tim bång ch(rng dé phü djnh niém tin cüa minh 
• Dåm yen tarn rång röi moi chuyen nhät dinh sé trd nén 
t6t dep 
Giåi quyét hiéu låm, ngé nhön, 
niém tin sai Phd bién 
Xäy dvng co Sd 19 thuyét 
Giåi quyét sv bät Ivc hoc durqc 
dVng Dao gia bång khoa hoc hien dai 
Bån ngä lå gi néu khöng phåi lå sv chü 9? 
Bån chät cüa cåi dep, cåm xüc, ham mu6n vå dam mé 
• Hien tugng bién döi nghTa vä d6ng am khåc nghia trong 
quå trinh hinh thånh niém tin 
Råc r6i cüa tu bi 
Khi deo ST göp r6i loan tam IY 
• Khi giüp dö lei tröng nhu cutöng ép 
• Khi sv bät luc trd thånh cåi dep

Mình gọi những quan điểm sau là tinh thần Quả Cầu:

  • Dám biết. Dám đối diện nỗi sợ. Dám đi đến cùng
  • Dám lựa chọn điều tốt nhất cho người khác
  • Dám đi tìm bằng chứng để phủ định niềm tin của mình
  • Dám yên tâm rằng rồi mọi chuyện nhất định sẽ trở nên tốt đẹp

Nếu làm được những điều đó, thì bạn sẽ có được những phần thưởng sau:

  • Có được niềm vui của việc tìm ra cái sai của bản thân
  • Thấy được sự ngọt ngào khi đối diện nỗi sợ của mình
  • Nhìn ra được vẻ đẹp của người khác dù họ không đáng tin đến bao nhiêu
  • Những mất mát sẽ được hoàn lại nguyên vẹn, không một vết trầy

Ngoài ra mình cũng khuyến khích các bạn có một hệ thống ghi chép. Như vậy bạn sẽ định hướng được điều mình cần làm, và không bao giờ sợ bị lạc lối.

Hai bài viết sau sẽ nói rõ hơn về hai ô màu vàng ở giữa:

Còn đây là các bài ở phần cơ sở lý thuyết:

FAQ

Vì với nhiều người, những tinh thần này giống như mơ mộng thiếu thực tế, như đạp xe trên cầu vồng vậy. Nên tôi mới phải đặt là Quả Cầu, vì thực sự tôi cũng biết nó cũng khá lý tưởng. Nhiều người bảo người như tôi đáng lẽ phải bị tuyệt chủng mới phải. Nhưng bây giờ không làm thì ai làm? Nếu một người trước đây chưa nghĩ tới những giá trị đó, và bây giờ chúng góp mặt trong những kế hoạch tương lai của họ, thì dự án này đã thành công. Lúc đó họ sẽ trở thành một Quả Cầu thứ hai.

Đặt tên như vậy cũng giống như việc Steve Jobs đặt tên cho công ty mình là Apple vậy. Cái quả cầu này cũng còn nhiều ý sâu xa lắm 😛 Mời bạn đọc bài mở đầu.

Những câu hỏi đó chỉ có thể trả lời được trong một trường hợp cụ thể. Mà những lúc đó thì lại không cần phải nói rõ ra, vì cả hai đều hiểu với nhau rồi. Đối tượng của sự tò mò và lòng dũng cảm là thứ mà người trong cuộc đang né tránh. Đối tượng của lòng tốt là người mà họ đang đề cập tới. Chỉ trong những lúc đắn đo thì những vấn đề về sự tò mò, lòng tốt và lòng dũng cảm mới được đặt ra. Họ đã có hết mọi thông tin khác rồi, nhưng nếu thiếu mảnh ghép này thì không thể tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh. Tôi chỉ mong muốn đưa mảnh ghép này cho họ mà thôi. (Thật ra là họ luôn có sẵn, chỉ là họ không dám lắp nó vào.)

Thực tế là rất khó để giữ những tinh thần này. Kể cả với những người bình thường thì chỉ cần bận thôi là những tinh thần này cũng có thể mất đi. Lâu dần họ cũng sẽ không còn giữ được những tinh thần đó, trừ phi họ có một môi trường cực kỳ thuận lợi để nuôi dưỡng sự tò mò. Nên tôi mới cần phải củng cố thêm những tinh thần vốn có sẵn của họ.

Với những người có sự bất lực học được, cuộc đời đã dạy cho họ là làm một người tốt, tò mò và dũng cảm là tai hại. Cái giá phải trả cho những lần họ tin tưởng người khác là quá đắt. Đặc biệt là với những người có rối loạn tâm lý, việc đó rất dễ làm vấn đề của họ nặng hơn. Bây giờ họ không làm cũng đáng thương mà họ chọn làm cũng đáng thương. Nhưng đường dài thì họ cần phải chọn làm.

Có rất nhiều, nhưng chưa bao giờ là đủ. Những dự án đó chỉ dừng ở việc hi vọng cái hiểu đúng sẽ đủ khả năng cạnh tranh với cái hiểu sai, nhưng bản thân những thứ đang dung dưỡng cái sai thì không bị đả động đến. Vậy thì chỉ là chữa phần ngọn chứ không phải phần gốc. Với những người có sự bất lực học được, cách duy nhất để họ thay đổi niềm tin là thấy rằng số đông đang bất đồng ý kiến với họ. Bạn nào đã xem phim “12 người đàn ông giận dữ” sẽ hiểu. Còn không thì các dự án đó chỉ giống như các buồng dội âm (echo chamber) của những người đã có sẵn nhân tốt mà thôi.

Cơ bản là mục [Xây dựng cơ sở lý thuyết] này sẽ không cần lắm với việc giúp người có sự bất lực học được hoặc những người trợ giúp họ. Ta chỉ nắm được những hiểu lầm và niềm tin sai của họ là được. Mục này là để có thể lý giải được một cách thỏa đáng tại sao những hiểu lầm và niềm tin sai này xuất hiện ngay từ đầu. Những quan niệm sai này tất nhiên cần có một sự hợp lý nhất định nào đó thì mới trở thành quan niệm phổ biến được.

Tôi cố gắng viết bài dựa trên các quan điểm khoa học, triết học được thừa nhận rộng rãi, và các lập luận dựa trên chúng tôi cũng cố gắng hợp lý nhất có thể. Tuy nhiên, mọi người có thể thấy là các lĩnh vực liên quan là quá nhiều. Tôi có thể đọc và kết nối chúng lại với nhau, nhưng kiểm tra xem mọi lập luận của tôi là có cơ sở hay không thì mình tôi làm là không thể. Hơn nữa sau khi làm dự án này xong tôi sẽ định đi tiếp con đường học thuật: hoàn thiện những cơ sở lý thuyết đó theo chuẩn mực cao nhất của khoa học. Nhưng bây giờ thì chỉ tạm tới đó thôi.

Lưu ý là tôi hướng đến những người đang còn hoài nghi hoặc mù mờ, chứ không phải là những người muốn mở mang kiến thức (dù tất nhiên tôi cũng hoan ngênh). Tôi cho rằng giữa sự hoài nghi hoặc mù mờ thì chúng ta nghĩ cần phải nói thật rõ đến mức cực đoan thì người nghe mới thấy được. Người nghe cần những sự cường điệu đó, và đáp ứng những sự cường điệu đó là đang đặt mình vào vị trí của họ. Hay nói như Camus là: “Hãy luôn đi quá xa, bởi đó là nơi bạn sẽ tìm thấy sự thật.”

Liệu sự cường điệu có gây hại hay không? Tôi cho là không, vì trước thực tế là chỉ trong vòng một tiếng sau khi đọc bài là chúng ta đã quên hết sạch một nửa thông tin, thì những ý cường điệu sẽ được hạ về mức bình thường (còn những ý bình thường thì sẽ bị quên sạch). Trừ khi họ cũng đã có một quan điểm tương tự như vậy và lời nói này chỉ đang lặp lại những gì họ thật sự muốn nghe. Trong trường hợp đó, thì ngay cả một câu nói không cường điệu cũng sẽ bị uốn theo quan điểm đúng ý với họ.

Đây là biểu đồ đường cong trí nhớ. Bạn thấy là chỉ sau 1 tiếng thôi là ta đã quên hết một nửa thông tin rồi.

Lại quay về chuyện Steve Jobs đặt tên công ty là Apple. Cái tên này là một ẩn dụ, và như Lakoff và Johnson đặt tên cuốn sách làm thay đổi ngành ngôn ngữ học tri nhận của mình, thì chúng ta sống bằng ẩn dụ. Cái tên của bạn cũng rất có thể là một sự ẩn dụ. Ẩn dụ thấm đẫm trong ngôn ngữ của chúng ta, chúng ta sử dụng chúng mà không hề hay biết. Sự cường điệu cũng là một phần của ẩn dụ mà thôi.

Mời bạn đọc bài Độc giả của blog này là ai? để hiểu tại sao.

Ủng hộ và liên hệ

Để ủng hộ xin vui lòng chuyển khoản vào tài khoản sau:

🍀 Chủ tài khoản: Lý Minh Nhật
🍀 Ngân hàng: Vietcombank chi nhánh Bến Thành
🍀 Số tài khoản: 033 1000 438 307
🍀 Vui lòng ghi theo cú pháp: UHQC_tên người gửi_lời nhắn

Thông tin liên hệ:
🍀 Email: lyminhnhat911@gmail.com
🍀 SĐT: 091 221 4006
🍀 Facebook: Quả Cầu
🍀 Group: Bạn bè blog Quả Cầu

Sự bất lực học được là gì?

Dự án Quả Cầu được lập ra để giải quyết nhiều nhầm lẫn và ngộ nhận phổ biến trong xã hội. Mục tiêu cuối cùng của nó là để lan truyền tinh thần dám tin rằng những niềm tin tiêu cực của mình luôn có thể sai, dám đi đến tận cùng để làm mọi thứ sáng rõ, và dám chấp nhận hy sinh vì điều tốt nhất cho người khác.

Trở ngại lớn nhất để đạt được mục tiêu này chính là sự bất lực học được (learned helplessness). Có một thí nghiệm như sau: người ta nhốt một con chó và cho nó bị giựt điện nhẹ. Ban đầu nó tìm mọi cách để thoát, nhưng vì bị nhốt nên nó đành chấp nhận. Sau đó, người ta để nó ra ngoài cùng với những con chó khác và làm lại thí nghiệm. Mặc dù lần này nó không khó khăn gì để thoát cả, và nó thấy rõ ràng là những con khác có thể thoát khỏi sự khó chịu đó, nó vẫn chấp nhận chịu đựng. Người ta phải tự tay đưa nó ra khỏi nơi bị giựt hai ba lần nó mới nhận ra là có thể thoát ra được thật. Con chó đã học được rằng nó sẽ luôn bất lực, nên nó từ chối tin vào khả năng giải thoát của nó. Clip này minh họa rõ hơn vấn đề này:

Sự nguy hại lớn nhất của sự bất lực học được không phải ở chỗ ta bất lực, mà ở chỗ nó ẩn sâu và gần như vô hình trong mắt người ngoài, khiến họ cảm thấy không có gì phải lo lắng cả, ngay cả với những ai thân cận với “nạn nhân” nhất. Sự bất lực học được nằm đâu đó giữa những người bạn của chúng ta, và giữa những người ta ngưỡng mộ. Họ có thể là nhà thơ, nhà nghiên cứu, phật tử, đạo sĩ, nhà tham vấn tâm lý, v.v. Và biết đâu, chính bản thân chúng ta cũng là nạn nhân của nó mà không hề hay biết. Việc không nhìn thấy nó không có nghĩa là nó không ở đó.

Nn nhân ca s bt lc hc đưc luôn chng li vic thoát ra khi nó. Nó như một con ký sinh, làm “vật chủ” không có được một cuộc sống an lạc, hạnh phúc, nhưng vật chủ lại xem nó là bạn. Để hợp lý hóa sự chống đối đó, họ sẽ viện dẫn đến những triết lý sống khó mà phản bác được. Những triết lý sống này ban đầu vốn hợp lý, nhưng lại bị áp dụng sai cách, khiến cho nạn nhân thêm tin chắc rằng mình không phải là nạn nhân gì cả. Thậm chí khi được đối diện với bằng chứng ngược lại thì họ sẽ nhất quyết khẳng định rằng đó là hoang đường. Nói chung, họ đã đánh mất sự tò mò, lòng tốt và lòng dũng cảm của chính mình.

Cách để giải quyết sự bất lực học được là phải thay đổi niềm tin rằng những triết lý đó là đúng. Và để họ thay đổi niềm tin, thì phải có thật nhiều, thật nhiều người đến nói rằng họ không bất lực. Cuộc sống đã cho họ quá đủ trải nghiệm rồi nên họ mới thành ra như vậy. Giờ muốn họ thực sự suy nghĩ điều ngược lại thì cần cho họ những trải nghiệm mới nhiều gấp đôi, gấp ba. Chỉ có những người thật hiểu họ mới có thể làm được điều đó. Không cất lên tiếng nói là đang tiếp tục làm hại họ.

Dự án Quả Cầu mong muốn nâng cao nhận thức của mọi người, rằng giữa những người ta yêu quý có những người đang chịu đựng nó, rằng những niềm tin đó là không đúng và cần phải lên tiếng, và rằng chúng ta không hề bất lực trước sự bất lực. Giải quyết nó là chuyện kh thi, và nếu ai hoài nghi về sự khả thi của giải pháp, thì hoặc người đó đang có một phát hiện mới mà bao nhiêu thế hệ các nhà khoa học tìm mãi mà vẫn không nhìn thấy, hoặc là họ đang nói chuyện phản khoa học.

12 người đàn ông giận dữ

Bạn sẽ làm gì nếu phải thuyết phục một người rằng định kiến của họ là sai? Nghe qua là biết là đâm đầu vào tường rồi, và đa số chúng ta sẽ vui vẻ bỏ cuộc với rất nhiều lý do xác đáng. Nhưng nếu đó là để quyết định xem có nên tử hình một con người hay không, thì lại là vấn đề khác. Khi đó, dù gian nan đến mấy cũng phải thuyết phục họ cho bằng được.

Bộ phim “12 người đàn ông giận dữ” sẽ lột tả được rất nhiều vấn đề mà bất cứ ai đang cần phải thuyết phục người khác sẽ thấy đồng cảm, từ thái độ, định kiến, thuyết phục, đến gây hấn, nghe theo số đông, và lòng vị tha. Tất cả những điểm mình vừa liệt kê đều là những chủ đề quan trọng trong tâm lý học xã hội, và đó chính là lý do mà những ai quan tâm đến tâm lý học không nên bỏ qua.

Trên trang Psychmovies.com, bộ phim này đứng hàng đầu trong danh sách các phim về tâm lý học xã hội.

Thông tin từ Wikipedia

12 Angry Men là một phim thể loại tòa án kể về một bồi thẩm đoàn có 12 người đàn ông đang bàn thảo về tội trạng của một bị cáo. Tại Hoa Kỳ, trong hầu hết các phiên xử hình sự qua bồi thẩm đoàn, tất cả các bồi thẩm viên phải nhất trí khi kết luận bị cáo có tội hay vô tội. Bộ phim đặc biệt ở điểm gần như chỉ dùng một bối cảnh: trừ một đoạn mở đầu xảy ra trước tòa án và một đoạn ngắn ở trong phòng vệ sinh, toàn bộ bộ phim diễn ra trong một phòng họp bồi thẩm. Trong toàn bộ 96 phút của bộ phim, chỉ 3 phút diễn ra ngoài phòng này.

Bộ phim miêu tả những phương pháp đi đến sự đồng thuận, cũng như những sự khó khăn trong quá trình này, trong một nhóm người có nhiều cá tính khác nhau, cộng thêm cá tính mạnh và mâu thuẫn lẫn nhau. Trừ hai bồi thẩm trao đổi tên trước khi rời tòa án ở cuối phim, trong phim không sử dụng tên nhân vật nào: bị cáo được gọi là “thằng nhỏ” và các nhân chứng được gọi là “ông già”, và “bà ở bên kia đường”.

Vào đoạn đầu phim, các máy quay hình được đặt ở vị trí cao và dùng ống kính góc rộng để tạo cảm giác khoảng cách giữa các nhân vật, như càng về sau thì tiêu cự của các ống kính càng giảm dần. Đến cuối phim, hầu như mỗi nhân vật đều được quay gần bằng ống kính telephoto từ một góc độ thấp hơn, làm giảm độ sâu trường ảnh. Lumet vốn là một đạo diễn nhiếp ảnh, cho biết rằng ông có ý định làm như vậy để tạo một cảm giác chứng sợ không gian hẹp (claustrophobia).

👉 Link xem phim

Một suy nghĩ về lập trình ngôn ngữ tư duy (NLP)

Trong một bài dịch về NLP có viết:

Họ (những người xây dựng NLP) tuyên bố là bằng cách thách thức các biến thể ngôn ngữ (linguistic distortions), chỉ định khái quát hóa và khôi phục thông tin đã bị xóa trong biểu hiện/lời nói của khách hàng/thân chủ, các khái niệm ngữ pháp chuyển đổi của cấu trúc bề mặt mang lại sự thể hiện đầy đủ hơn về cấu trúc sâu bên dưới và do đó có khả năng trị liệu lợi ích.

Cụ thể những người theo NLP đã làm điều này như thế nào? Có ai có thể đưa ra được ví dụ về các biến dạng ngôn ngữ này không? (Mình dịch là biến dạng cho đúng với từ distortion, không phải biến thể (variation)). Mình cho là điều này liên quan đến tâm lý học ngôn ngữ (hoặc ngôn ngữ học tâm lý), cụ thể ở đây là các ngành nhỏ: ngữ nghĩa học (semantics), cú pháp học (syntactics), và ngữ dụng học (pragmatics). Vậy có ai có những cập nhật mới về ngành học này chưa?

Mình hỏi câu này vì quả thật, để có thể thay đổi niềm tin của người khác (ở đây là thân chủ), thì cần tra vấn lại niềm tin đó (phương pháp của Beck/Socrates). Mình đoán là phương pháp trị liệu nào, cho dù không thuộc họ CBT, cũng liên quan tới chuyện này. Mà bản thân việc tra vấn đó đòi hỏi thân chủ phải nhớ lại được những gì họ đã từng quan niệm (khôi phục lại thông tin đã bị xóa), và việc làm đó sẽ tái định nghĩa lại những gì họ đã từng nghĩ (thay đổi cấu trúc ngữ pháp). Nghĩa là đúng với cái đoạn mình trích ra.

Ví dụ

Mình sẽ minh họa điều này qua bộ phim Ratatouille, cụ thể là ở cảnh Ego viết bài phê bình cuối cùng. Tóm tắt nội dung cho những ai chưa xem phim: Gusteau là một đầu bếp nổi tiếng với khẩu hiệu: “Ai cũng có thể nấu ăn”. Ego, một nhà phê bình thực phẩm, cực kỳ phản đối câu này, với lý do: ẩm thực là một bộ môn nghệ thuật đòi hỏi nhiều tài năng và thiên phú, và rõ ràng không phải ai cũng có tài.

Khi Ego bị chinh phục và viết bài phê bình, ông ấy viết thế này:

Tối qua, tôi đã có một trải nghiệm mới mẻ, một bữa ăn ngoài sức tưởng tượng đến từ một nguồn gốc kì quặc không thể nào ngờ được. Nói rằng cả bữa ăn và người làm ra nó đã thách thức những quan niệm trước đây của tôi về việc nấu ăn ngon là còn chưa đủ xứng tầm. Phải nói là cả hai đã làm tôi chấn động đến tận tâm can. Trong quá khứ, tôi không hề giấu diếm sự xem thường của tôi đối với khẩu hiệu nổi tiếng của Bếp Trưởng Gusteau: “Ai cũng có thể nấu ăn.” Nhưng tôi nhận ra rằng, chỉ lúc này đây tôi mới thực sự hiểu được ý của ông ấy. Không phải tất cả mọi người đều có thể trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng một nghệ sĩ lớn có thể đến từ bất cứ đâu. Thật khó để tưởng tượng nguồn gốc khiêm tốn của thiên tài đang nấu ăn tại nhà hàng của Gusteau, người mà, theo quan điểm của kẻ phê bình này, hoàn toàn xứng đáng là đầu bếp danh giá nhất nước Pháp. Tôi sẽ sớm trở lại nhà hàng của Gusteau, nóng lòng được ăn thêm.

Phân tích: Để Ego có thể nhận ra ý nghĩa thật sự của câu Ai cũng có thể nấu ăn, Ego đã phải tái định nghĩa lại toàn bộ những gì ông ấy đã quan niệm trước đây. Cái câu đó khi Ego lần đầu tiên nghe, nó đã không còn mang nghĩa gốc mà Gusteau nói, mà đã được khoác lên mình một cách hiểu hoàn toàn khác. Nói cách khác, nó đã bị biến nghĩa. Ego phải tự mình tìm cách đảo lại nghĩa của nó thì mới nhận ra được ý nghĩa gốc ban đầu.

Tại sao nó lại bị biến nghĩa? Vì bản thân Gusteau cũng không nói rõ ràng. Ý của ông ấy là Ai (dù xuất thân tầm thường đến mấy) cũng có thể nấu ăn, chứ không phải là Ai (dù khả năng nấu tệ đến mấy) cũng có thể nấu ăn. Nhưng do não chỉ có thể lưu được 3 đến 4 thông tin trong trí nhớ ngắn hạn, nên để phù hợp với việc lưu trữ và xử lý, cả cụm dài loằng ngoằng Ai dù xuất thân tầm thường đến mấy cũng có thể nấu ăn sẽ phải rút gọn thành Ai cũng có thể nấu ăn. Nhưng dưới lớp vỏ ngôn ngữ đó, khi được lôi ra xài lại, nó lại dễ bị hiểu thành Ai dù khả năng nấu tệ đến mấy cũng có thể nấu ăn. Cần phải hiển ngôn được cái ý ẩn đó thì người nghe mới không hiểu nhầm được. Nhưng điều đó là bất khả. Ngay từ đầu cái ý đó buộc phải bị loại khỏi câu để não có thể lưu trữ và xử lý nó.

Bạn nào muốn đọc cả bài có thể đọc ở đây: Ratatouille – những góc nhìn chưa từng có

Chìa khóa học cách phát âm

Mọi người thường hay đồn rằng ta không thể học để có được giọng chuẩn nếu bạn bắt đầu học sau 7 tuổi, hoặc 12 tuổi, hoặc một độ tuổi nhất định nào đó. Nhưng điều này rõ ràng là không đúng. Các ca sĩ và diễn viên học cách phát âm giọng mới suốt đấy thôi, mà thường thì họ cũng không thông minh hơn ai cả (và khá chắc chắn là không phải tất cả bọn họ đều bắt đầu học trước 7 tuổi).

Vậy chuyện gì đang diễn ra ở đây? Tại sao ai cũng nói là bạn không thể học được cách phát âm tốt khi trưởng thành? Và nếu điều này không đúng, vậy thì cái gì mới đúng?

Trong bài này, chúng ta sẽ dạo một vòng quanh các nghiên cứu về sự nhận dạng giọng nói và phát âm, và chúng ta sẽ bàn về việc học phát âm một cách hiệu quả khi đã trưởng thành. Nhưng trước hết, hãy cho tôi được phép dài dòng một tí:

Sự quan trọng của phát âm

Đây là một chủ đề lớn, và với tư cách là một ca sỹ, đây là một chủ đề vô cùng gần gũi với tôi. Đối với tôi, giọng là một thứ đặc biệt quan trọng.

Với cá nhân tôi, nếu bạn không học cách nghe được âm thanh của một ngôn ngữ mới, bạn sẽ tốn nhiều thời gian để vật vã nhớ nó. Chúng ta dựa vào âm thanh để hình thành trí nhớ về từ, và nếu bạn thậm chí còn không phân biệt nổi các âm thanh mà bạn nghe, bạn đã gặp bất lợi ngay từ đầu. (Thử nhớ hai từ Hungary này xem: máy ảnh – fényképezőgépga xe lửa – vásutállomás. Hai từ này nghe thật kinh dị cho đến khi bạn có một chút cảm giác về tiếng Hung.)

Nhưng bên cạnh vấn đề trí nhớ ra, một giọng phát âm tốt còn làm tăng sự kết nối giữa bạn và người khác. Nó cho những người từ một nền văn hóa khác thấy là bạn không chỉ dành thời gian và công sức để học từ vựng và ngữ pháp của họ, mà còn dành thời gian để học cách họ di chuyển miệng, môi và lưỡi. Bạn biến đổi một thứ gì đó trên cơ thể bạn vì họ – bạn cho họ thấy rằng bạn quan tâm tới họ – và chính vì vậy họ sẽ mở lòng vì bạn.

Tôi đã thấy chuyện này nhiều lần khi tôi đi hát hoặc xem biểu diễn tại Châu Âu. Cứ như là một quy luật, bình thường thì khán giả cũng dễ thương, nhưng hễ mà bạn hát bằng tiếng mẹ đẻ của họ, họ lại chuẩn bị lên tinh thần. Họ chuẩn bị sẵn tư thế để mỉm cười lịch sự rồi khen “Quả là một giọng hát đáng yêu!” hay “Giai điệu thật là đẹp!” Nhưng đằng sau vẻ lịch sự ấy, họ đang sẵn sàng chờ chứng kiến cảnh bạn băm vằm ngôn ngữ và di sản của họ. Không có gì phải áp lực đâu nhé.

Ngay lúc đó, nếu bạn làm họ ngạc nhiên bằng một giọng đúng thật sự, họ sẽ mở lòng ra. Nụ cườ của họ không còn là lịch sự nữa, mà là thật. Bạn cho họ thấy là bạn quan tâm đến họ không chỉ bằng tinh thần, mà còn bằng thể xác, và sự quan tâm này thật khó mà cưỡng lại được.

Nhưng mà thôi, lãng mạn vậy đủ rồi. Giờ làm sao để bạn có thể thật sự làm một cái gì đó để phát âm đây?

Một nghiên cứu về luyện tai và phát âm

Khả năng phát âm chuẩn là một sự tổng hợp của hai kỹ năng chính: luyện tai và luyện miệng. Bạn học cách nghe một âm thanh mới, và bạn học cách tạo lại nó trên miệng. Trong hai kỹ năng, cái đầu tiên là cái khó làm nhất; nếu bạn nghe được một âm thanh, thì rồi bạn cũng sẽ học được cách tạo ra nó một cách chính xác. Nhưng trước khi đạt được điều đó, bạn sẽ phải vất vả (để nghe được). Cho nên bây giờ, chúng ta sẽ tập trung vào luyện nghe.

Khi đang nghiên cứu để viết quyển sách của tôi, tôi tình cờ bắt gặp các nghiên cứu tuyệt vời của James McClelland, Lori Holt, Julie Fiez và Bruce McClandiss, khi họ cố dạy người Nhật trưởng thành nghe ra được sự khác nhau giữa “Rock” và “Lock”. Sau khi đọc các bài báo của họ, tôi đã gọi điện phỏng vấn tiến sĩ McClelland và tiến sĩ Holt về nghiên cứu đó.

Điều đầu tiên họ khám phá ra được là công việc luyện nghe rất khó, đặc biệt khi ngoại ngữ mà bạn học chứa hai âm cực kỳ giống một âm trong tiếng mẹ đẻ của bạn. Đây chính là trường hợp của tiếng Nhật, khi âm “R”[ɺ] của họ nằm ngay chính giữa âm R [ɹ] và L [ɫ] trong tiếng Anh Mỹ trên phương diện âm học. Khi bạn kiểm tra những người Nhật trưởng thành sự khác nhau giữa Rock và Lock (bằng cách cho họ nghe thu âm của một trong hai từ này và hỏi họ đây là từ nào), kết quả không khác gì đánh hên xui (50%). Tới đây thì không được khả quan cho lắm.

Các nhà nghiên cứu mới thử hai phương pháp luyện tập. Đầu tiên, họ cứ cho người Nhật trưởng thành nghe Rock và Lock trong một thời gian, và xem xem liệu họ có khá hơn sau khi luyện tập không.

Không.

Tin này rất xấu. Nó gợi ý là việc tập luyện chẳng có tác dụng gì. Bạn cứ việc nghe Rock và Lock cả ngày (hoặc với người Anh sẽ là //[bul/pul/ppul] trong tiếng Hàn) và bạn sẽ chẳng tìm được sự khác nhau giữa chúng. Cái này chỉ tổ xác nhận cho cái lời đồn đã quá trễ để học cách phát âm. Khỉ thật.

Phương pháp thứ hai liên quan đến việc khuếch đại một cách nhân tạo sự khác nhau giữa L và R. Họ bắt đầu bằng những ví dụ cực kỳ dễ thấy (RRrrrrrrrock), và nếu người nghe có tiến bộ, họ sẽ nâng dần độ khó cho tới khi người nghe có thể nhận ra được những sự khác biệt tương đối nhỏ bé giữa hai bản thu (rock). Phương pháp này khá hơn chút đỉnh. Những người tham gia bắt đầu nghe được sự khác nhau giữa Rock và Lock, nhưng điều đó lại không giúp họ nghe được sự khác nhau của một cặp từ khác, như Road và Load. Lại là một ngõ cụt nữa.

Sau đó họ thử cho thêm sự phản hồi, và tất cả mọi thứ liền thay đổi.

Thí nghiệm có phản hồi với cặp từ

Họ lặp lại thí nghiệm cũ, chỉ trừ lần này, khi người tham gia đưa ra câu trả lời (“Cái này là Rock“), màn hình máy tính sẽ nói cho họ biết đúng hay sai (“ding – Chính xác!”). Chỉ trong ba lần, mỗi lần 20 phút sử dụng loại luyện tập này, người tham gia đã thật sự làm chủ được khả năng nghe R và L, trong mọi hoàn cảnh.

Không phải là ngẫu nhiên khi đây chính là cách học của ca sỹ và diễn viên. Tuy ta học từ giảng viên chứ không phải từ máy, nhưng nguyên lý cơ bản thì vẫn là một. Ta ngồi kế bên giáo viên luyện giọng và nhờ họ đọc một đoạn chữ. Sau đó ta sẽ đọc to đoạn chữ đó lên, và người giáo viên sẽ chỉ cho biết ta đọc đúng chỗ nào và sai chỗ nào. Họ cho chúng ta sự phản hồi. Họ sẽ nói những điều đại loại như “Không, cái anh nói là siehe, không phải sehe. Siehe…Sehe. Nghe ra không?” Và mỗi lần ta nói tốt hơn, họ vẫn tiếp tục đưa phản hồi (“Anh đang nói [một cái gì đó gần giống ‘sehe’], nhưng không phải sehe.”) Sau khi được hướng dẫn, chúng ta về nhà, nghe lại đoạn thu âm của những buổi tập này, và dùng những đoạn thu này để cho ta thêm nhiều phản hồi hơn.

Có một vài lưu ý cho vấn đề này. Người tham dự không hoàn toàn đạt tới trình độ hoàn toàn nghe được sự khác nhau giữa Rock và Lock. Độ chính xác của họ cao nhất chỉ khoảng 80%, so với ~100% như người bản xứ. Tìm hiểu sâu thêm sẽ cho ta biết tại sao.

Phụ âm có rất nhiều cấu tử khác nhau (gọi là formant). Về cơ bản, một phụ âm rất giống một hợp âm trên piano. Trên một cây piano, nếu bạn chơi một nhóm các nốt nhất định cùng với nhau, bạn sẽ nghe được hợp âm. Đối với phụ âm, nếu bạn tạo một nhóm các nốt (phức tạp hơn), bạn sẽ nghe được một phụ âm. Đây không phải là lối nói ẩn dụ; nếu bạn có một cây piano được máy tính hóa, bạn thậm chí còn có thể dùng nó để phát ra tiếng người.

Người Anh bản ngữ có thể phân biệt được sự khác nhau giữa R và L nhờ vào một điểm mấu có tên là formant thứ ba – về cơ bản nó là nốt thứ ba trong bất kỳ hợp âm R hoặc L. Người Nhật bản ngữ tốn nhiều thời gian cho mấu chốt này, và sau khi họ đã vượt qua bài kiểm tra, họ cũng không thật sự nghe được nó tốt hơn. Thay vào đó, họ học cách sử dụng một điểm mấu dễ hơn là formant thứ hai – nốt thứ hai trong hợp âm R/L. Cái này cũng có tác dụng, nhưng không đảm bảo 100%, vì thế giải thích được tại sao họ không thể có được kết quả như người bản ngữ.

Khi tôi nói chuyện với các nhà nghiên cứu qua điện thoại, họ hầu như đã dừng cuộc nghiên cứu này, kết luận là họ không biết làm cách nào để tăng độ chính xác lên trên 80%. Họ cũng khá thất vọng về kết quả này.

Tiềm năng cho tương lai

Nhưng hãy nhìn lại một chút về những gì chúng ta đạt được.

Trong vòng ba đợt, mỗi đợt 20 phút, họ đã hạ gục một trong những thách thức ngôn ngữ khó nhất – học cách nghe một âm mới – và tăng độ chính xác từ 50% (đoán mò) lên đến 80% (không tệ chút nào).

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có công cụ này ở mọi ngôn ngữ? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta có thể khởi đầu mọi thứ bằng việc nghe thử một vài bài kiểm tra có phản hồi và có một đôi tai có độ chính xác là 80%, trước cả khi chúng ta bắt đầu học phần còn lại của ngôn ngữ?

Chúng ta có những công cụ để luyện theo cách riêng của chúng ta. Tất cả những gì bạn cần là một hệ thống lặp lại sau từng khoảng (spaced repetition system) có hỗ trợ file âm thanh, như Anki, và một bộ tốt các thu âm mẫu của các từ dễ nhầm lẫn (một nhóm các từ như rock/lock, thigh/thy’s và niece/knee trong tiếng Anh, hoặc sous/su, bon/ban’s và huis/oui’s trong tiếng Pháp). Cái này tốn nhiều công để làm, nhưng nó chỉ cần được làm một lần, sau đó cả cộng đồng sẽ được hưởng lợi.

Nên là tôi sẽ làm điều đó.

Phát âm cực kỳ quan trọng, và giải pháp này thật giá trị để đợi cho một công ty lớn nào đó chịu làm. Trong vòng 9 tháng tới, tôi sẽ bắt đầu tạo các danh sách từ mẫu tốt, thu âm chúng và xây dựng các bộ từ (trong Anki). Tôi sẽ tuyển những người song ngữ, bởi vì nhờ có họ, ta sẽ có những bản thu để học sự khác nhau không chỉ ở hai từ trong ngôn ngữ đích, mà còn ở hai từ giữa ngôn ngữ đích và ngôn nữa mẹ đẻ của bạn (sous vs Sue). Tôi có được ý tưởng này nhờ tiến sĩ McClelland, và ông cho rằng nhờ cái này ta sẽ học còn tốt hơn nữa (eo, ta sẽ có thể có khả năng phá vỡ rào thế 80%). Và tôi sẽ làm một vài bản beta mở để chỉnh cho tới lúc học nó vừa có hiệu quả lại vừa vui.

Hi vọng là, với đúng công cụ, ta sẽ đưa lời đồn “đã quá trễ để học phát âm” vào dĩ vãng. Ta cũng sẽ có nhiều thảnh thơi hơn khi học ngôn ngữ, và ta cũng sẽ dễ dàng hơn để thuyết phục mọi người quên đi tiếng mẹ đẻ của chúng ta và nói bằng thứ tiếng của họ (tác giả có tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ).

Nguồn: The Key to Learning Pronunciation | Fluent Forever Blog

Một số suy nghĩ từ dự án Chữ VN Song Song

Sau khi dự án Chữ VN Song Song được cấp đăng ký bản quyền, nó đã nhận được nhiều chỉ trích của cộng đồng. Bên cạnh những chỉ trích hoàn toàn mang tính lăng mạ ra, thì những phản biện nghiêm túc tôi cảm thấy vẫn chưa đủ hợp lý, còn có lỗ hổng hoặc không đúng trọng tâm. Do vậy tôi muốn nêu lên một số hiểu biết cũng như suy nghĩ của tôi về dự án này.

Nguyên tắc cốt lõi của tôi luôn là tìm ra những điều có ích giữa những thứ đáng bỏ đi. Chỉ ra cái sai thì ai chả làm được, nhưng biến cái sai thành cái tốt mới là thứ đáng nói. Tất nhiên, tôi hiểu quá trình chú ý, ghi nhớ và biến đổi nghĩa của ý niệm sẽ luôn cản trở ta làm việc đó, nên dù có cảm thấy những người phản biện họ đã không làm đúng với tinh thần cởi mở, thì tôi cũng hiểu điều đó nằm ngoài năng lực của con người. Tôi mà phê phán họ thì không khác gì tự bắn vào chân mình.

Ở đây tôi chỉ đang muốn đặt lại cho đúng những giá trị mà nhóm tác giả đang theo đuổi mà thôi. Xin lưu ý là tôi và họ hoàn toàn không liên quan gì tới nhau, và tôi không cố gắng “bênh” họ. Và tất nhiên, có thể chính tôi cũng đang hiểu sai họ không kém.

Xin xem thêm bài Tranh luận hiền hòa để hiểu thêm về điều tôi muốn nói.

Vài thông tin và suy nghĩ xung quanh vụ tranh cãi này (suy nghĩ meta)

Theo như tôi hiểu, dự án Chữ VN Song Song chỉ đơn giản là một phương pháp tốc ký, giống như cách những ai làm dịch cabin, thư ký tòa án hoặc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của người câm dùng. Nó cũng có thể hiểu như một bộ gõ tiếng Việt như VNI hay Telex. Tác giả khẳng định không hề có mục đích cải tiến chữ Quốc ngữ: “Gọi là Chữ Việt Nam song song vì chúng tôi không có tham vọng dùng nó thay thế chữ Quốc ngữ như một số thông tin thời gian gần đây. Bộ chữ của chúng tôi chỉ là một loại chữ viết tắt không dấu, dùng song song với chữ Quốc ngữ. Đó là cách viết tay hay viết trên điện thoại và không cần dùng bất cứ phần mềm nào”.

Giả sử cho rằng chúng tôi có mong ước thay thế chữ Quốc ngữ bằng Cvnss thì đó chỉ là mong ước hoang tưởng, trừ khi có đến khoảng 1 triệu người thích dùng Cvnss4.0.

Nguồn

Vì vậy, nếu ai cũng khẳng định rằng mong muốn thay thế chữ Quốc ngữ là hoang tưởng, thì có nghĩa là họ đang đồng ý với tác giả. Nếu họ vẫn muốn tiếp tục phủ định giá trị của dự án, họ cần đưa ra được những lập luận mạnh hơn.

Một số link tham khảo:

Tiền thân của dự án Chữ Việt Song Song là dự án Chữ Việt Nhanh. Dự án này đã được giới thiệu từ rất lâu qua tạp chí công nghệ eChip, một tờ báo công nghệ lớn vào thời kỳ internet mới được phổ cập ở Việt Nam. Tổng biên tập báo eChip, bác Nguyễn Hữu Thiện, cũng đồng thời là dịch giả bộ truyện Lucky Luke và nhiều bộ truyện tranh phương Tây khác. Rất có thể những bài viết do bác viết trên tờ eChip và các bộ truyện được bác dịch đã được sử dụng phương pháp gõ tiếng Việt này.

Dưới đây là một số cái tên lớn:

Ngoài ra dự án cũng từng tổ chức các cuộc thi tìm hiểu tại nhà văn hóa Thanh Niên và trường KHXHNV TP.HCM:

Tức là nó đã được giới thiệu từ lâu rồi chứ không phải mới đây.

Xem thêm: Website dự án Chữ Việt Nhanh

Tôi không hài lòng khi thấy những người làm khoa học lâu năm lại dễ dãi buông ra những lời như “tào lao” hay “vớ vẩn”. Tất nhiên tôi hiểu không phải lúc nào trong rác cũng có vàng, và tôi cũng hiểu đã có quá nhiều những nhà nghiên cứu nghiệp dư với những ý tưởng mà dùng từ vớ vẩn là thích hợp nhất. Đã thế họ còn coi thường những người phản biện, cho rằng họ chẳng biết ất giáp gì. Tuy nhiên, việc họ chỉ nói suông mà không đưa ra được bằng chứng thuyết phục là việc của họ. Việc của mình vẫn là giữ đúng tinh thần hoài nghi của một người làm khoa học: tin rằng ngay cả những kết luận chắc chắn nhất của mình cũng có thể sai. Không thể vì họ sai mà cho phép mình vi phạm nguyên tắc đó được. Nếu họ vẫn không chịu nghe lời mình nói, thì im lặng là cách tốt nhất.

Hơn nữa, trong trường hợp này, tôi nghĩ các tác giả đã hành xử lịch thiệp và tôn trọng giới chuyên môn. Có thể họ không có đủ kiến thức ngôn ngữ học để làm thỏa mãn những đòi hỏi khắt khe nhưng cần thiết của giới chuyên môn, nhưng ít nhất qua những gì tôi thấy họ không hề có một biểu hiện nào của chứng vĩ cuồng. Tôi không hài lòng khi thấy những người làm khoa học lâu năm lại nói họ như vậy mà không hề đưa ra được một bằng chứng nào.

Xem thêm:

Tuy các tác giả khẳng định tới khẳng định lui là không có ý định thay thế chữ quốc ngữ và muốn lắng nghe giới chuyên gia, nhưng phải công nhận là ấn tượng mọi người thấy là trái ngược. Tôi giả định đây không phải là do các tác giả cố ý, mà chủ yếu là do họ không có nhiều kiến thức chuyên môn thì buộc phải nói như thế. Giống như bạn thấy một người mù nói là con voi như con đỉa là buồn cười, nhưng ở vị trí của họ, thì đó là cách miêu tả tốt nhất, và bạn phải đứng ở góc nhìn của họ để nói, chứ không phải để cười họ. Nếu bạn nói, “không, con voi không phải là con đỉa”, bạn phải miêu tả được tại sao khi tay ông ấy tiếp xúc với vòi của con voi, nó đem lại cảm giác sun sun như một con đỉa thực thụ vậy. Ở đây mọi người đều giải thích theo kiểu “nó không phải là con đỉa vì nó to hơn con đỉa”. Nhưng nói như vậy thì sẽ đặt câu hỏi là “ủa vậy thì con voi là một con đỉa khổng lồ? Cũng là con đỉa vậy?”. Tức là những lý do bạn đưa ra chỉ là phụ thôi, không đả động gì tới cái cảm giác sun sun nguyên thủy đó, và thậm chí là còn có thể uốn theo cái ý “là con đỉa” được. Rốt cuộc là ổng cũng không có lý do để thấy nó không phải là con đỉa, và bạn càng cố nói là nó không phải là con đỉa thì ông ấy càng hoang mang hơn, còn bạn thì càng cảm thấy ổng cố chấp hơn. Bạn chỉ có thể chấm dứt sự hoang mang này khi nào bạn thực sự nói về cái cảm giác sun sun mà thôi.

Ở đây cũng thế. Bạn có thể đưa ra đủ loại lý do rất chính đáng, nhưng sẽ không bao giờ thuyết phục được họ với cách thuyết phục như hiện nay. Không phải là họ tìm mọi cách để có sự chú ý, mà là họ không hiểu tại sao lại sai. Cái sun sun ở đây chính là cái ý “viết không dấu, viết ngắn nhất”, và bạn phải ghi tâm khắc cốt điều đó trong từng lập luận của mình thì mới có thể đưa ra được một câu trả lời thuyết phục.

Cũng không khó để chứng minh ý này. Cứ cho các bài phản biện vào máy thống kê, tôi khá chắc tần suất các từ như “ký âm”, “khó nhớ” chiếm chủ đạo, trong khi “không dấu”, “ngắn nhất” thì lại rất thấp. Chỉ khi nào có một bài phản biện có tỉ lệ ngược lại mới có thể làm thỏa mãn họ.

Hơn nữa, như trong bài Bản ngã là gì nếu không phải là sự chú ý?, tôi có nói:

Tôi nghĩ nói rằng một người có cái tôi giống như bắt họ phải nhận một tội lỗi không biết từ đâu chui ra, một tội lỗi họ đã rất cố gắng để không phạm phải, một tội lỗi ngay cả quan tòa cũng phạm phải mà còn kết án ai, và một tội lỗi lỡ phạm vào rồi thì cũng không ai biết cách nào để khắc phục hậu quả vậy.

Các chuyên gia ở đây chính là các quan tòa. Và những quan tòa này cũng phạm phải tội lỗi đó mà còn kết án ai.

Xem thêm:

Một số suy nghĩ cho những phản biện về nó

Các suy nghĩ của tôi được gợi ý từ nhiều nguồn. Trong số đó có những bài phản biện này:

Tôi đồng ý với các tác giả phản biện là bộ chữ này không theo một phương pháp ký âm tốt. Ai đã từng xem qua lăng trụ thanh điệu này chắc sẽ đồng ý là dấu thanh là một yếu tố rất quan trọng trong chữ viết tiếng Việt, và là một thứ xứng đáng được giữ lấy trong chữ viết.

Xem thêm: Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt

Tôi đồng ý là bộ chữ này không thể thay thế được chữ quốc ngữ, và việc áp dụng nó theo hướng toàn dân là không hợp lý (hoặc tôi vẫn chưa rõ tính hợp lý của nó). Sẽ chỉ có một nhóm người cảm thấy nó cần thiết cho công việc của họ, còn lại đa số sẽ không cần.

Tuy nhiên, dự án Chữ Việt Nhanh thì vẫn sử dụng dấu thanh, và tôi cũng chưa thấy ai khảo sát xem nó có tuân thủ theo các nguyên tắc ký âm hay không.

Bản chất của mâu thuẫn này

Vấn đề là, nhóm tác giả thừa sức biết bộ chữ mình làm không hề tuân theo những nguyên tắc ký âm cơ bản, nhưng họ có lý do quan trọng hơn để phá nát những nguyên tắc đó. Ngược lại, về phía tác giả cũng cần nhận ra rằng với những nhà chuyên môn việc bộ chữ có thể hiện được các nguyên tắc ký âm đó không là vô cùng quan trọng. Các tác giả cần nhận ra rằng cho tới chừng nào bên phản biện chưa nghe được sự thừa nhận của các tác giả về tính phi ngôn ngữ học của bộ chữ, thì những gì họ nói sẽ không bao giờ lọt được vào tai. Các tác giả đã thừa nhận việc này rồi, nhưng vẫn chưa đủ. Họ cần phải gào to hơn nữa mới mong bên phản biện nghe ra được điều mà với họ vô cùng hiển nhiên và chẳng cần thiết phải nói làm gì.

Điều này tôi cũng có nói trong bài Phản biện cuốn Cuộc cách mạng một cọng rơm, phần Người dịch phản hồi. Ở đó cũng có một trận bất đồng với nhau nảy lửa như vụ này, và cũng giữa các nhà chuyên môn và một lão gàn. Cả hai bên đều không hiểu tại sao mình lại bị phản đối gay gắt đến như thế, vì ý tưởng chủ đạo và xuyên suốt của mỗi đều không không phải là đối tượng bị phủ nhận (thậm chí còn được bên kia ngầm ủng hộ bằng một sự diễn đạt khác). Sự gay gắt tưởng như không thể nào hòa giải được đó, nhìn thật kỹ thì chỉ là chó cắn mèo cào mà thôi.

Tác giả Đặng Minh Tuấn có viết:

Quá rắc rối, rối rắm, quá nhiều quy tắc cho những điều bất quy tắc: CVNSS4.0 vì không có tính đơn trị nên rắc rối và nhập nhằng trong ký hiệu, lúc ký hiệu có ý nghĩa này, lúc khác lại ý nghĩa khác tùy vào các trường hợp, tùy vị trí trong từ, tùy theo đi với chữ nào, buộc người dùng phải nhớ nhiều quy tắc và phải phân tích trong đầu trong khi gõ. Trong khi kiểu gõ Telex hay VNI thì chỉ cần 8 quy tắc đơn giản (5 cho dấu thanh, 3 cho các dấu mũ, trăng và đ) thì CVNSS4.0 cần đến 52 quy tắc, trong đó có nhiều quy tắc khá khó nhớ, buộc người dùng phải xử lý một thuật toán if-then khá lớn, tóm lại CVNSS4.0 khó nhớ, buộc tốn nhiều tài nguyên của trí não khi phải phân tích các trường hợp if-then…

Trên quan điểm của tâm lý học nhận thức thì điều này là sai. Ví dụ như chữ “cats” trong tiếng Anh, thì ta không có hàm if-then trong não theo kiểu “cat” + số nhiều → “cats”, mà thực sự ta lưu “cats” như thể nó là một từ độc lập với “cat”. Các ngôn ngữ có kiểu biến hình morpheme khác, không chỉ ở số nhiều/số ít, mà còn có là giới tính, quá khứ/tương lai, chủ động/bị động, v.v…. tổ hợp ra có thể tới gần chục biến thể từ một gốc từ, thì ta cũng nhớ cho bằng hết, chứ không có xử lý if-then. Tương tự, tôi cũng rất hoài nghi lập luận này: “nếu không dùng các kỹ thuật thống kê và AI để dự đoán cả từ thì với một bộ luật gõ đơn giản người sử dụng có thể gõ với tốc độ rất nhanh (do não không phải xử lý thuật toán gõ tắt, if-then).”

Anh Tuấn là dân công nghệ, vậy tôi có thể đưa ra một câu hỏi minh họa: phần mềm Vim hẳn là rất ít quy tắc? Các lệnh Linux hẳn là đến với anh rất straightforward và anh không cần phải google lần nào? Theo tôi, loại chữ này với chữ quốc ngữ giống như giữa Vim và Word, giữa giao diện dòng lệnh và giao diện đồ họa. Quan trọng là người học có cảm thấy cần phải học hay không mà thôi.

Với những hiểu biết của tôi về tâm lý học nhận thức, tôi xin được mạnh dạn nói rằng: dù là 100 quy tắc thì nó cũng như 3 quy tắc thôi. Hơn nữa, các tác giả cũng khẳng định là chỉ mất 3 buổi là xong. Không nên ch vì đếm s quy tc mà ph nhn bng chng thc tin ca nhng ngưi đã tng hc b ch này.

Nhiều người phản biện cho rằng nếu muốn gõ nhanh thì vẫn có các công cụ hỗ trợ, như bảng gõ tắt (vd: đánh hai ký tự vn sẽ bung ra Việt Nam), hay sử dụng máy học để đoán chữ tiếp khi đang đánh. Tuy nhiên đâu có lý do gì để không sử dụng những công cụ đó cho bộ gõ/bộ chữ này?

Nhân tiện, nếu ai có nhu cầu gõ tắt nhiều thì có thể sử dụng một chương trình dành riêng cho gõ tắt, như PhraseExpress hoặc AutoHotKey. Tôi thì dùng AutoHotKey vì ngoài việc gõ tắt ra nó còn làm được nhiều thứ lớn lao hơn :)). Xem thêm: Các phần mềm hữu ích

Đã có vô số đề xuất cải cách chữ viết dựa trên những bất cập về mặt ngôn ngữ học có lẽ là hai năm rõ mười của chữ quốc ngữ, tuy nhiên chúng đều thất bại. Tôi nghĩ bài học đã quá rõ ràng: mọi cải tiến chữ viết mới buộc phải dung hợp được những yếu tố phi ngôn ngữ học vào trong nó. Những yếu tố đó phải được xuất hiện ngay từ những dòng đầu tiên của bản thảo cải tiến, là động lực dẫn dắt, là giá trị cốt lõi, là thông điệp chủ đạo, song song với các các nhu cầu ngôn ngữ học khác. Đó là hy vọng, là con đường cho những ai muốn triệt để thay đổi những bất cập của chữ quốc ngữ.

Vì dự án CVNSS này là một nỗ lực cải cách chữ viết không dựa trên một lập luận ngôn ngữ học nào, mà dựa trên những mong muốn rất phi ngôn ngữ học (viết không dấu và ngắn nhất bằng mọi giá), nên hóa ra nó lại có thể là một gợi ý quan trọng cho các dự án cải cách chữ viết sau này. Với tôi, nó gợi ý một số yếu tố phi ngôn ngữ học như sau:

Những lý do phi ngôn ngữ học được gợi ý từ dự án CVNSS

Nhiều người phản biện rằng với sự phát triển của tin học, ta đã có đủ khả năng để gõ tiếng Việt có dấu một cách tiện lợi, không cần phải có thêm cái nào khác. Vậy ta có thể hỏi ngược lại họ: họ đang dùng bộ gõ VNI hay Telex, và tại sao?

Chúng ta hãy xem qua sơ đồ bố trí các phím gõ dấu của VNI và Telex:

Ta có thể thấy, tất cả các phím gõ dấu của VNI đã bị đẩy lên hàng phím số. Còn các phím như w, f, j, z nằm rải rác trong khu phím cơ sở (nơi các ngón tay được để lên bàn phím một cách tự nhiên nhất) thì lại bị bỏ phí. Điều này gây ra sự lãng phí lớn về hiệu suất gõ phím. Cách gõ Telex giải quyết được vấn đề của VNI. Tương tự, cũng không có gì đảm bảo cách gõ Telex là cách gõ tối ưu nhất.

Xem thêm: Phân tích kỹ thuật các kiểu gõ tiếng Việt

Dự án Chữ Việt Nhanh ước tính giảm được 40% thời gian gõ. Với những người có các cơn đau liên quan đến máy tính (bệnh RSI) thì 40% là rt nhiu. Một giờ gõ phím liên tục sẽ chỉ còn 40 phút, 5 giờ gõ phím liên tục chỉ còn 3 giờ, v.v. Tất nhiên con số 40% này cần được xác minh thêm, và ngay cả như vậy, hiệu quả của nó với việc giảm thiểu các vấn đề về RSI cũng cần được khảo sát kỹ.

Không phải lúc nào ta cũng có thể dùng tiếng Việt có dấu. Trong một số trường hợp bắt buộc phải sử dụng tiếng Việt không dấu (như khi viết code máy tính, hoặc viết tên riêng cho người nước ngoài đọc), hoặc khi bộ gõ của bạn bị xung đột với phần mềm khác và dot nhien ban phai go khong dau, ban se thay ich loi cua cach dung nay. Luc nay nhung nham lan khong dang co cua tieng Viet khong dau se khong con nua (vi du: nguoi vo dam dang). Dung cach go nay thi di dau ban cung co the dung tieng Viet ma khong phai cai them bat ky chuong trinh nao.

Tên miền của website bạn đang đọc là Quảcầu.com. Không phải Quacau.com. Tôi muốn dùng tên miền có dấu, bởi vì chỉ có dấu mới thể hiện được hết thông điệp không thỏa hiệp với những thứ nửa vời. Tôi không muốn dùng tiếng Việt không dấu rồi bị đọc thành Quacầu.com, hay Quảcau.com. Nhưng nếu đăng ký tên miền tiếng Việt có dấu, thì khi chia sẻ trên Facebook thì nó sẽ bị hiển thị thành xn--qucu-hr5aza.com. Chán :-<

Kết

Tôi nghĩ đúng là những cải cách ngôn ngữ mới nên được giới thiệu thông qua một bộ gõ mới. Nó sẽ thuyết phục được những người muốn dùng nó, mà người chưa biết gì về nó vẫn không gặp khó khăn trong giao tiếp. Như vậy sẽ tránh gây sốc cho cộng đồng.

Các tác giả của các chữ viết cải tiến nếu muốn quảng bá thêm loại chữ viết này có thể xác định đây là một dự án thay đổi nhận thức xã hội. Có thể các bài giảng của Trung tâm cộng đồng LIN sẽ giúp xây dựng một kế hoạch chiến lược, kế hoạch hành động, và kế hoạch truyền thông hiệu quả, hướng đến những người xem việc sử dụng loại chữ này là cấp bách.

Thông tin người viết bài

Tôi tên thật là Nhật, tốt nghiệp ngành vật lý lý thuyết trường KHTN TPHCM (2010-2014). Từ lúc tốt nghiệp đến nay thì tôi tìm hiểu nhiều lĩnh vực để biết chính xác con đường nghiên cứu mình muốn đi. Nay thì mọi thứ đã rõ ràng, nhưng tôi lại muốn ứng dụng những gì mình tìm hiểu được để giải quyết các ngộ nhận và định kiến trong xã hội. Hiện tại thì tôi tự xem mình là nhà hoạt động xã hội thông qua dự án Quả Cầu, nhưng xong dự án này thì tôi sẽ đi tiếp con đường học thuật. Đề tài tôi muốn tìm hiểu là bn cht ca góc nhìn. Người ta thường nói “luôn giữ cho góc nhìn của mình luôn tươi mới”, “nhìn vấn đề bằng nhiều góc nhìn khác nhau”, “đặt mình vào góc nhìn của người khác”, nhưng góc nhìn bản chất là gì thì vẫn còn mơ hồ. Chính vì mơ hồ như vậy, nên mới có chuyện nói thì dễ làm mới khó. Nghiên cứu của tôi tìm cách trả lời những câu hỏi như:

  • Bản chất của góc nhìn là gì?
  • Như thế nào thì gọi là có góc nhìn mới?
  • Bản chất của việc đặt mình vào góc nhìn của người khác là gì?
  • Tại sao hai người luôn bị bất đồng dù cả hai đều có ý tốt cho nhau?
  • v.v.

Câu chốt của nó là:

Lật lại giả định ngầm = biến đổi nghĩa của từ = thay đổi góc nhìn

Một điều tình cờ là cách đây một tháng GS Hồ Hải Thụy (thầy của GS Nguyễn Văn Hiệp, viện trưởng Viện Ngôn ngữ học) có ghé thăm web của tôi và donate $50, với lời nhắn là “Tôi thấy ông làm được nhiều việc có ích thì ủng hộ để động viên”.

Một số link khác cho ai có quan tâm:

Trung Quán Minh Cú Luận, bản tiếng Pháp

Trong Phật giáo Đại Thừa có tông phái Trung Quán rất nổi tiếng, và Nguyệt Xứng (Chandrakirti) là một người có nhiều đóng góp lớn cho tông phái này, chỉ sau Long Thọ (Nagarjuna). Trong các bộ luận của ông thì có cuốn Trung Quán Minh Cú Luận (Prasannapada Madhyamakavrtti). Một người bạn sư của bác Nguyễn Hoài Vân muốn dịch bản kinh rất hiếm và quý này sang Việt ngữ, và muốn sử dụng bản tiếng Pháp để đối chiếu với các bản dịch trong tiếng Hán. Bác đã chụp lại bằng máy hình toàn bộ quyển sách trước khi gửi cho bạn. Xem thêm: Vài hàng về Trung Quán Minh Cú Luận – Prasannapada Madhyamakavrtti | Nguyễn Hoài Vân – Triết Học – Tâm Linh – Tôn Giáo

Do quyển sách được chụp bằng máy hình nên sẽ khó đọc trên máy. Mình đã xử lý nó như sau:

  • Tách trang
  • Canh trang sách lại cho thẳng
  • Tẩy trắng
  • Tạo bookmark (cái này làm cực nhất)
  • Tạo lớp text để tìm kiếm hoặc sao chép (OCR)

Tất cả các công cụ mình có ghi hướng dẫn ở đây: The ultimate guide to process scanned books

Các trang bị thiếu được phát hiện: 100-101

Mình chia thành hai bản: bản tẩy trắng để dễ đọc, và bản không tẩy để có những trang máy xử lý không tốt thì đọc cho rõ. Hy vọng đóng góp nhỏ này sẽ hữu ích cho mọi người.

Tải về: bản tẩy trắng, bản không tẩy.

Đọc trên Scribd: bản tẩy trắng, bản không tẩy.