Các dự án thành phần

Categorized as Meta
Go_board

Tập huấn các kỹ năng CTXH cho bạn bè người thân của người gây bạo lực/người có niềm tin tiêu cực

Thực trạng

Với người gây bạo hành

Các chương trình can thiệp dành riêng cho người gây bạo hành (batterer intervention program) có hiệu quả rất khiêm tốn trong việc giúp họ nhận thức được hành vi của mình gây ra tổn thương cho nạn nhân. Và để tham gia chương trình này thì phải có lệnh của tòa án, chứ không thể trông chờ họ tự nguyện tham gia. Mà thường những ca như vậy không đủ bằng chứng để tòa án có thể kết tội họ, dù bạo hành dưới bất kỳ hình thức nào đều là vi phạm pháp luật. Thế nên các chương trình can thiệp về bạo hành thường chỉ ưu tiên vào nạn nhân, nên khi nạn nhân đã ổn rồi, thì những chương trình đó cũng kết thúc luôn, ít khi làm việc tiếp với người gây bạo hành. Việc này vô tình trở thành chỉ chữa phần ngọn chứ không chữa phần gốc.

Với người bị bạo hành

Đã có rất nhiều chương trình hỗ trợ nạn nhân. Nhưng gọi là tập trung cho nạn nhân, nhưng nạn nhân của bạo lực tinh thần hầu như phải “ngậm đắng nuốt cay”, tự mình chấp nhận. Dù rằng bạo hành dưới bất kỳ hình thức nào đều là phạm luật, nhưng đa số các trường hợp đều không đủ bằng chứng. Chỉ cho tới khi nào nạn nhân thốt lên rằng “enough is enough” thì mới nhận được sự can thiệp từ bên ngoài. Tuy nhiên, để tới được trạng thái đó, họ phải từ bỏ việc giả định rằng mình đang sai, tự tay bóp chết những tia hy vọng còn sót lại về sự hướng thiện của người gây bạo hành, dứt khoát không động lòng thương nữa. Những gì họ học được vào thời điểm đó sẽ làm cho hệ thống niềm tin của họ rẽ theo một hướng hoàn toàn khác. Lúc đó, họ sẽ học được rằng mình hoàn toàn bất lực.  

Với người ngoài (VD: bạn bè)

Các chương trình điều phối trong cộng đồng (coordinated community program) chỉ kêu gọi sự tham gia của cảnh sát, bác sĩ, nhân viên CTXH, chức sắc tôn giáo, những người vốn không thân thiết với người gây bạo hành. Bản thân những người bạo hành cũng có khi là những người thành đạt, được nhiều người ái mộ.

Nguyên tắc về tôn trọng sự tự quyết đòi hỏi người ngoài không được can thiệp nếu người trong cuộc chưa yêu cầu trợ giúp. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, đại đa số mọi người không tìm hiểu kỹ những lý thuyết về tự quyết, đồng thuận, riêng tư, tin tưởng, v.v. Điều này cũng hợp lý, vì để bàn về chúng một cách rốt ráo thì phải đụng tới triết học, và những người làm thực hành thì chỉ cần lấy kết luận của những bàn luận đó là được. Nhưng theo hiểu biết của chúng tôi, nếu tìm hiểu chúng kỹ lưỡng thì sẽ thấy cách áp dụng như hiện nay là máy móc. Kết quả là, người thân, bạn bè họ được dạy là không can thiệp được, trong khi điều này không phải là bất khả. Họ sẽ buộc phải chấp nhận rằng người gây bạo lực sẽ không bao giờ có khả năng để thay đổi, nên tốt nhất là nên kệ họ đi. Đây chính là một sự bất lực học được khác.

Chúng tôi có niềm tin rằng đã gọi là bạn bè thì đều muốn điều tốt nhất cho bạn mình. Tuy nhiên kỹ năng để tác động một cách hiệu quả là thứ họ thiếu. Khảo sát 30 người với câu hỏi “Giả sử bạn của bạn có một niềm tin rất chắc chắn, và điều đó đang gây hại cho họ. Đâu là lý do khiến bạn chưa muốn tác động?” thì 3 lý do đứng đầu là “không dám khẳng định mình hiểu đầy đủ vấn đề”, “nghĩ rằng không cần tác động thì họ cũng sẽ học được bài học của riêng mình”, và “không biết phải bắt đầu thế nào”. Khá ngạc nhiên khi chỉ có 2 người nói rằng “không có thời gian tìm hiểu vấn đề”, và “sợ đánh mất mối quan hệ”. Nghĩa là đa số mọi người sẵn sàng dành thời gian để tìm hiểu, thậm chí sẵn sàng hy sinh mối quan hệ để tác động, nếu như họ thấy rằng mình hiểu được đầy đủ vấn đề, có kỹ năng để can thiệp, và thấy rằng không thể trông mong bạn mình tự nhận ra được bài học gì cả.  

Tất cả những điều đó đưa chúng tôi tới một đề xuất: Tập huấn các kỹ năng CTXH cho bạn bè người thân của họ, sau đó lập một nhóm chiến lược để thay đổi môi trường xung quanh họ để họ nhận ra mình đang gặp vấn đề và có động lực thay đổi.

Tính khả thi

Mấu chốt trong xử lý bạo lực phải do chính người bạo lực thức tỉnh bản thân tới đâu. Họ là những người ở giai đoạn tiền dự định (precontemplation) trong mô hình Stages of Change. Theo suy luận của chúng tôi thì có hai trường hợp cho việc họ không thức tỉnh được:

  • Họ thực sự không hiểu tại sao làm vậy lại khiến người khác tổn thương (do ngày xưa họ được học từ môi trường bạo lực)
  • Họ biết làm vậy là sai nhưng vẫn tiếp tục làm (do họ muốn có được cảm giác có quyền lực)

Ở loại thứ nhất, thì đó là vì ngày xưa họ cũng bị đối xử như vậy, nên họ học được rằng như vậy là bình thường. Những tổn thương trong quá khứ của họ đã thiết lập một hệ thống niềm tin và hệ định nghĩa khác hẳn với người bình thường. Khi chúng ta thử làm họ tự nhìn nhận bản thân, ví dụ như “anh đâu có muốn bị người khác làm vậy với anh đâu đúng không?”, thì có người sẽ nhận ra được vấn đề, có người sẽ nói:

  • “Ừ, tôi không thích bị đối xử như vậy, nhưng tôi đã vượt qua được nó. Cô ấy cũng sẽ vượt qua được giống tôi”
  • “Ừ, nhưng đó là quy luật của cuộc sống, mạnh được yếu thua”
  • “Ừ, nhưng nếu tôi làm sai giống như cô ấy thì tôi xứng đáng bị ăn đòn. Tôi không thích vậy nhưng tôi đáng bị vậy”

Nhưng bất kể câu trả lời là gì, thì đó chính là cánh cửa để ta có thể chỉ ra sự phi lý trong niềm tin của họ. Dần dần họ sẽ nhận ra suy nghĩ như vậy là không đúng. Nhưng để làm được điều này thì phải có người chủ động chỉ ra điều đó cho họ. Thường nếu như họ bị tòa án bắt phải tham gia một chương trình can thiệp thì được, còn nếu không thì chỉ có bạn bè họ mới làm được điều này.

Loại thứ hai thì đơn giản hơn, chỉ cần thấy sự không hài lòng của những người xung quanh thì họ sẽ dừng lại.

Tất cả những dấu chỉ này cho thấy việc có sự tham gia của bạn bè, người thân của họ là vô cùng quan trọng. Và nếu có sự tham gia đó thì khả năng thành công sẽ rất cao, nếu không nói là chắc chắn. (Đây là kiến thức cơ bản trong tâm lý học xã hội.)

Kế hoạch hoạt động 

  • Dịch xong các bài về tự trị, đồng thuận, hệ quả luận, thao túng, tin tưởng, v.v.
  • Tham gia tình nguyện cho một dự án công tác xã hội để được thực hành việc lên kế hoạch tiếp cận, quản lý ca, xây dựng nhóm, huy động nguồn lực và truyền thông, vận động
  • Vận hành thử một kế hoạch giúp đỡ một người đang có niềm tin tiêu cực
  • Lập bản khảo sát người thụ hưởng
  • Gom một số bạn có động lực mạnh mẽ hỗ trợ người có niềm tin tiêu cực để tập huấn kỹ năng CTXH cho họ
  • Có được cách thức ổn định để có quỹ cho một năm tiếp theo

Nâng cao mối quan tâm của nghệ sĩ và người làm trong ngành giải trí và văn hóa đại chúng về những tác hại dù không muốn nhưng không thể tránh khỏi mà ngành của mình tạo ra

Thực trạng

Những giá trị như cái đẹp và sự thích thú các giác quan tuy vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần con người, nhưng đôi lúc chúng xung đột với một giá trị không kém phần quan trọng khác là sức khỏe. Thậm chí một chủ đề rất thường gặp ở những lĩnh vực này là những hành vi có hại cho sức khỏe được dùng như là nguồn cảm hứng cho sáng tạo hoặc dễ chịu, sảng khoái. Điều này thật ra cũng không phải là vấn đề lớn, nến như người tham gia vào các lĩnh vực này có sẵn một nền tảng sức khỏe ổn định. Nhưng nếu ban đầu họ không có điều đó, đặc biệt là khi họ đã có một niềm tin là mình sẽ không thể thay đổi được tình hình, thì cái đẹp và sự thích thú giác quan sẽ trở thành những lý do để hợp lý hóa sự thờ ơ của mình với vấn đề của mình. Cũng vì sự hợp lý hóa đó, mà bạn bè của họ không nhìn ra được những vấn đề của bạn mình để hỗ trợ kịp thời, hoặc nếu thấy thì xem đó là chuyện bình thường.

Cụ thể hơn:

  • Chúng ta sẽ không bao giờ có những khái niệm như sự quấy rối tình dục đẹp, sự bạo hành tinh thần đẹp, nhưng chúng ta lại có những nỗi đau đẹp. Khi một người đang ở trong tình trạng bất lực, thì cái đẹp sẽ giữ chân họ ở lại với sự bất lực đó, và làm họ xao nhãng với điều quan trọng nhất là chấm dứt nỗi đau.
  • Để một sản phẩm văn hóa được trở thành văn hóa đại chúng, nó cần có những yếu tố đi ngược lại những gì được xem là tốt đẹp, đạo đức. Những yếu tố đó đôi khi là những khuôn mẫu tạo sự bất công trong xã hội
  • Với phương châm “khách hàng là thượng đế”, người làm trong các ngành giải trí và dịch vụ không thể không nuông chiều ham muốn của khách hàng. Và nếu khách hàng không có nhu cầu thì họ lại phải tạo ra nhu cầu đó. Các kỹ thuật quảng cáo đều đánh vào vô thức

Tất cả những điều đó đưa chúng tôi tới một đề xuất: Nâng cao mối quan tâm của nghệ sĩ và người làm trong ngành giải trí và văn hóa đại chúng về những tác hại dù không muốn nhưng không thể tránh khỏi mà ngành của mình tạo ra

Tính khả thi

Thật ra mà nói, cũng đã có vô vàn tiếng nói phản đối cái đẹp và sự thích thú giác quan về những ích lợi ngắn hạn của nó. Nhưng cũng giống như cũng đã có vô vàn bài viết về tác hại của thuốc lá, những người tham gia các hoạt động đó biết nhưng đều phớt lờ. Thế nên, những bài viết đó chủ yếu là để người làm trong ngành nói cho nhau nghe, chứ cũng không hiệu quả lắm trong việc thuyết phục người cần thuyết phục. Nhưng nếu có những bài viết sâu sát hơn với những trải nghiệm và suy nghĩ của họ, thậm chí để chính những người trong nghề tự nói về điều đó, thì sẽ tạo động lực để họ thay đổi tốt hơn. Tâm lý con người là sẽ tin vào những gì tự mình nói ra. Các nhà hoạt động không nên nói thay họ, mà chỉ nên đặt những câu hỏi để họ tự mình nói về tác hại của chúng. Từ đó, họ sẽ tự có những điều chỉnh phù hợp mà không cần chúng ta phải can thiệp sâu hơn.

Kế hoạch hoạt động

Trả lời các câu hỏi sau:

  • Tỉ lệ các tác phẩm nghệ thuật miêu tả sự bất lực học được là bao nhiêu?
  • Có sự khác biệt gì về mặt tâm lý giữa các tác giả có và không có sự bất lực học được hay không?
  • Có sự khác biệt gì về sự tiếp nhận của độc giả có và không có sự bất lực học được khi đọc các tác phẩm nói về sự bất lực học được hay không?
  • Giá trị của diễn giải của độc giả là gì, đặc biệt nếu nó không khớp với ý của tác giả?
  • Các trường hợp như Nguyễn Đức Sơn, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn có gì đáng chú ý không?
  • Cái đẹp bị hư hoại thế nào nếu chuyện này tiếp diễn?
  • Sự tiêu thụ và giải trí có vai trò gì trong đời sống con người?
  • Mạng xã hội thể hiện con người chân thực đến mức nào? Khi người dùng đăng sự nuông chiều hoặc sự tổn thương đẹp lên mạng, liệu nó thể hiện rằng người đó đang bị bất ổn?
  • Liệu có cần phải lo lắng về sự nuông chiều không biết bao giờ sẽ dừng không?
  • Sự châm chích và dung tục trong thơ ca và rap, game bạo lực, đấu vật biểu diễn có gì đáng lo ngại không?
  • Thời trang phá bỏ hay củng cố khuôn mẫu giới?
  • Tác động tâm lý của những ngành chuyên biệt hóa những thứ mà nếu quá nhiều sẽ gây hại (diễn viên – cảm xúc thái quá, người mẫu – nuông chiều thái quá) là thế nào?
  • Suy nghĩ của những người làm trong những ngành thời trang và giải trí về sự nuông chiều và củng cố khuôn mẫu là gì?
  • Quan điểm của những người làm marketing và quảng cáo về phát triển bền vững là gì? Đặc biệt là ở những người biết về chủ nghĩa tiêu thụ

Các hoạt động khác:

  • Đọc một vài quyển văn học kinh điển
  • Quảng bá nhóm Lý thuyết văn học
  • Tham gia một công việc trong ngành thời trang
  • Khảo sát và phỏng vấn sâu những người làm trong ngành giải trí

Nâng cao hiểu biết của người có niềm tin Phật pháp về những xung đột trong những cách hiểu của Phật giáo về trí tuệ

Thực trạng

Câu chuyện về việc Đức Phật hóa độ tên tướng cướp Aṅgulimāla được xem là câu chuyện mẫu mực trong Phật giáo về lòng từ bi. Nhưng nếu ta thay đổi một số chi tiết của câu chuyện để mọi người thấy nó là một câu chuyện gần gũi với cuộc sống (ví dụ như thay tên đổi họ các nhân vật, từ Aṅgulimāla thành Alice và Buddha trở thành Bob, và cho Alice làm một hành động phi đạo đức nhưng pháp luật không cấm), nhưng vẫn giữ lại nội dung cốt lõi là cách thức Bob làm để Alice thay đổi suy nghĩ, rồi đưa cho các nhà hoạt động nhân quyền xem, thì có thể họ sẽ cảm thấy thật kinh khủng. Có thể họ sẽ chỉ thấy Bob đang vi phạm sự tự trị của Alice, đang thao túng Alice, đang xâm phạm sự riêng tư của Alice, chứ không thể thấy được đó là kết quả của trí huệ, của chứng đắc niết bàn mà Bob tu tập, rèn luyện được.

Một châm ngôn trong Phật giáo là “Trí Tuệ – Từ Bi”. Nghĩa là nếu muốn làm việc từ bi, ta phải có trí tuệ. Trong Phật giáo, người nhìn thấy được bản chất của mọi sự vật hiện tượng là vô thường, vô ngã, và giải thoát được khổ được gọi là người giác ngộ, là có trí tuệ trọn vẹn. Cái chữ trí tuệ của Phật giáo chỉ gói gọn trong chuyện này thôi. Tuy nhiên, trong thực hành, ta còn cần một loại trí tuệ khác, liên quan tới sự hiểu biết về thế giới khách quan. Quả thực, ai có hiểu biết thì sẽ vượt qua được mọi trở ngại một cách dễ dàng, và hành động mà như không hành động. Họ có khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng. Hai loại trí tuệ này chính là tư tưởng của nhị đế.

Trong 99.999% trường hợp, hai dạng trí tuệ này đi đôi với nhau như hình với bóng, nên có thể xem chúng là một. Chỉ trong 0.001% trường hợp còn lại sự khác nhau của chúng mới bộc lộ ra. Việc nhìn ra được bản chất vô thường vô ngã của sự vật không có nghĩa rằng người giác ngộ sẽ thấy được hết các duyên và có kỹ năng làm mọi thứ. Ta hoàn toàn có thể đạt được trạng thái giác ngộ trong môi trường phóng xạ. Đôi lúc chúng ta phải hành động khi sự hiểu biết là không đầy đủ. Một nửa sự thật không phải là sự thật, nhưng thà hành động với incomplete information còn hơn là rơi vào analysis paralysis. Mà sự éo le ấy, theo trải nghiệm của chúng tôi, có thể được thấy rõ nhất trong việc hỗ trợ những người có niềm tin tiêu cực.

Bỗng nhiên lúc này, những người theo Phật giáo trở nên bối rối, khi họ không hiểu nổi tại sao lại có mâu thuẫn này ở đây. Thường vào lúc đó họ sẽ kết luận là họ (hoặc người họ đang đánh giá) là không có trí tuệ. Thì cũng không sai, nhưng đồng thời cũng lại quá sai. Người dám hành động khi không đủ kiến thức không có nghĩa là người đó đang để cái ngã của mình chi phối, nhưng họ lại kết luận như vậy. Hệ quả của việc này là họ trở thành những người phán xét người khác còn nhiều dính mắc, mặc dù người đó không hề như vậy. Minh chứng rõ ràng nhất của việc này là các tông phái khác nhau của Phật giáo bất đồng với nhau, cho rằng phe kia chỉ đang hý luận mà thôi. Rốt cuộc là, họ vẫn lúng túng trong việc thực hành một thứ mà có lẽ về mặt logic là không có gì mâu thuẫn cả.

Điều này cũng giống như là ta đi học không phải để có điểm 10, nhưng dù mục đích đi học của ta là gì, thì việc có điểm 10 là một minh chứng chắc chắn rằng việc học của ta là có hiệu quả. Phương tiện không phải là mục đích, nhưng nếu không yêu lấy phương tiện, thì ta sẽ không đạt được mục đích. Chính vì vậy, ta lâm vào một tình huống dở khóc dở cười là vừa không có hứng thú vừa rất hứng thú với điểm 10, và bối rối không biết là rốt cuộc mình đi học có phải là để kiếm điểm 10 hay không.

Có thể đây là những xung đột thực sự. Có thể đây chỉ trông giống như xung đột, là những giả xung đột (pseudo-conflict), đến từ một trò chơi ngôn ngữ nào đó mà thôi. Nhưng dù là gì đi chăng nữa, thì đây cũng là những chủ đề đáng để tìm hiểu sâu. Tất cả những điều đó đưa chúng tôi tới một đề xuất: Nâng cao hiểu biết của người có niềm tin Phật pháp về những xung đột trong những cách hiểu của Phật giáo về trí tuệ.

Kế hoạch hoạt động

Tìm hiểu các chủ đề sau:

  • Xã hội học Phật giáo
  • Các hệ thống niềm tin trong Phật giáo (nhận thức học Phật giáo)
  • Quan điểm của Đạt Lai Lạt Ma về khoa học
  • Quan điểm của các nhà Phật học về hậu hiện đại
  • Các tranh luận trong các dự án Phật giáo được diễn ra thế nào?
  • Các nghịch lý được hiểu với ngôn ngữ Phật giáo thế nào?

Nâng cao hiểu biết ở các nhà hoạt động xã hội về các quá trình nhận thức và ngôn ngữ

Thực trạng

Với những người làm hoạt động xã hội, đôi lúc một sự đổ lỗi/áp đặt lại không xuất phát từ sự thiếu khoan dung, mà là từ một nỗ lực khoan dung, một sự trân trọng người khác đến tận cùng. Lúc này, ngay cả những người khoan dung nhất cũng khó lòng hiểu được tại sao, và sẽ xảy ra tình trạng những người khoan dung liên tục đổ lỗi hoặc ép buộc nhau. Một người khá nổi tiếng trong cộng đồng đấu tranh về quyền của người LGBT ở Việt Nam từng nói rằng anh từng bị tấn công và bắt nạt bởi chính những người cũng đấu tranh cho sự công bằng xã hội, vì quan điểm của anh bị coi là kém cỏi, không đúng sách vở như các bạn được học, và anh phải tốn rất nhiều thời gian giải thích lại và bị cuốn vào một cuộc chiến ngôn từ mà sau này nhìn lại anh thấy khá vô nghĩa và kiệt sức.

Chúng tôi nghĩ rằng một xã hội tiến bộ và khoan dung đòi hỏi những thành viên trong xã hội đó phải có dám đi tìm cái sai của mình. Họ phải có khả năng phản đối cái họ đang ủng hộ, và ủng hộ cái họ đang phản đối.

Để hướng đến sự khoan dung triệt để, chúng tôi cho rằng cần có kiến thức về quá trình chú ý, ghi nhớ, và biến đổi nghĩa của từ¹. Chính những quá trình này tạo ra những hiện tượng mà chúng tôi tạm đặt tên là đồng âm khác nghĩa, đồng nghĩa khác âm, và đảo nghĩa². Chính những hiện tượng này tạo ra những vấn đề như phải đạo chính trị, đổ lỗi cho nạn nhân, nghịch lý của sự khoan dung, tiêu chuẩn kép, lập luận người rơm, vội vàng nhảy đến kết luận, hỏi luẩn quẩn, nói thay người khác, tư duy nhị nguyên, v.v. Nó làm ta cảm thấy người khác kiêu ngạo, ích kỷ, thiếu suy nghĩ, thiếu tôn trọng người khác, ác quỷ hóa người khác, mặc dù người đó không có. Chúng tạo ra những mâu thuẫn không đáng có, làm mệt mỏi cả hai bên, làm hai bên tưởng như không tài nào hòa giải nổi, mặc dù cả hai đều đang hướng về mục đích chung. Tấm hình này có lẽ là nêu được rõ nhất hậu quả mà hiện tượng này để lại:

inner-child

¹Thậm chí kể cả khi đã hiểu được hết những vấn đề đó thì vẫn chưa đủ trực quan, và cần phải có thêm một mô hình nhấn mạnh vào yếu tố thị giác để sử dụng.

²Đây không phải là từ đồng âm khác nghĩa hay được nhắc tới trong ngôn ngữ học. Nói cách khác, từ “đồng âm khác nghĩa” ở đây là một từ… đồng âm khác nghĩa. Để phân biệt, chúng tôi sẽ gọi khái niệm của mình là “đồng âm khác nghĩa suy rộng” (generalized polysemy).

Chúng tôi cảm thấy rằng, khung lý thuyết này có thể cho những đột phá trong việc tìm hiểu bản chất của những đối kháng trong các bàn luận về tự do, bình đẳng, quyền lực, nhân phẩm, v.v. Tất cả những điều đó đưa chúng tôi tới một đề xuất: Nâng cao hiểu biết ở các nhà hoạt động xã hội về các quá trình nhận thức và ngôn ngữ.

Kế hoạch hoạt động

Tìm hiểu các chủ đề sau:

  • Ngữ dụng học, chủ nghĩa đối lập, chủ nghĩa nhị nguyên
  • Appreciative inquiry, giao tiếp trắc ẩn
  • Sự tương tác giữa các hệ thống niềm tin
  • Ngôn ngữ trong nhóm yếu thế
  • Sự châm chọc, hài hước, và phải đạo chính trị

Sự hy vọng sẽ không bao giờ đến...

… không phải là vì nó có thể bị dập tắt (“hy vọng trồi lên bất tận” – Alexander Pope), mà là khi ta học được rằng thế nào ta cũng sẽ thất bại mỗi lần hy vọng xuất hiện. Khi một người đã chịu nhiều nỗi đau đến mức một ngày họ bàng hoàng kết luận rằng họ không còn khả năng để hy vọng thêm một lần nào nữa rồi, thì toàn bộ thế giới xung quanh họ sẽ rùng rùng biến đổi. Một khi họ đã học được rằng mình hoàn toàn bất lực để thay đổi tình hình, thì kèm theo đó họ cũng sẽ có những niềm tin mới để hợp lý hóa sự cam phận của mình. Những niềm tin mới này – tuy sai – nhưng lại rất logic, khiến cho họ không những không có động lực để thay đổi, mà còn có động lực để không thay đổi.

Đã có hằng hà sa số những bài viết giải thích những ngộ nhận phổ biến, và cũng đã có hằng hà sa số những dự án thay đổi nhận thức cộng đồng. Nhưng cuộc sống đã cho họ quá đủ trải nghiệm rồi nên họ mới thành ra như thế. Giờ muốn họ thực sự suy nghĩ điều ngược lại thì cần cho họ một sự trải nghiệm mới nhiều gấp đôi, gấp ba. Nên nếu chỉ dừng ở việc hy vọng cái hiểu đúng sẽ đủ khả năng cạnh tranh với cái hiểu sai, còn bản thân những thứ đang dung dưỡng cái sai thì không bị đả động đến, thì chỉ là chữa phần ngọn chứ không phải phần gốc. Nên không giống như những dự án xã hội khác, chúng tôi chọn con đường mà chúng tôi tin là triệt để hơn: xây dựng một con đường để mọi người cùng hợp lực xóa bỏ những hiểu lầm, ngộ nhận và niềm tin sai của bạn mình mà không quá gian lao.

Cho đến nay chúng tôi đã tìm hiểu 7 ngành và 25 chuyên ngành khác nhau để làm nền tảng cho dự án. Từ khi web hoạt động đến nay trung bình mỗi ngày chúng tôi đón nhận 160 lượt xem trang. Mục tiêu của chúng tôi là lan tỏa rộng hơn khái niệm sự bất lực học đượcthử nghiệm và hoàn thiện cách tiếp cận họkhai phá sâu hơn các vấn đề nằm chìm đằng sauthông qua sự giúp sức của các bạn đồng chí hướng. Dự kiến chúng tôi cần tối thiểu 70 triệu VNĐ để hoạt động cho năm 2021 (200k/ngày), bao gồm trả lương, trang thiết bị, đi lại, thuê chuyên gia.

Tinh thần của dự án Quả Cầu là: phản tư với mọi quan điểm của mình, trân trọng người khác tuyệt đối, tò mò với điều khiến mình sợ hãi, và dũng cảm thay đổi cái gây hại. Chúng tôi cần sự hỗ trợ của bạn để lan tỏa tinh thần đó. Bất kỳ sự đóng góp nào, dù lớn hay nhỏ, đều quý giá. Hãy hỗ trợ Quả Cầu dù chỉ là một ly cà phê – và bạn sẽ chỉ mất một phút để giúp. Cảm ơn bạn.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Bấm sao để đánh giá nha!

Đánh giá trung bình: 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Nếu bạn thấy bài này hữu ích

Bạn bè bạn cũng có thể thấy nó hữu ích

Mình rất tiếc nếu bạn thấy bài không có giá trị

Xin hãy nói cho mình biết phải cải thiện ở đâu

Leave a Reply