drinking

Khi sự nuông chiều trở thành cái “đẹp”

Lưu ý: Bài viết lấy hai ví dụ về ngành ăn uống và thời trang, nhưng chỉ là ví dụ cho tất cả lĩnh vực liên quan.

Khi các giác quan được đánh thức

Trải nghiệm chấn động cuộc đời bạn nhất là gì?

Khá chắc rằng vào khoảnh khắc bạn trải nghiệm điều đó, các giác quan của bạn trở nên bừng sáng. Và khi bạn k li vẽ lại những trải nghiệm đó, các giác quan của bạn lại bừng sáng thêm lần nữa, mặc dù bây giờ bạn đang không ở nơi cũ. Những trải nghiệm sâu sắc nhất của ta luôn gắn chặt đến giác quan. Làm sao ta có thể trải nghiệm thế giới này, nếu không có các giác quan?

Mỗi ngày, các giác quan của ta hằng ngày tiếp nhận hàng trăm thứ, nhưng trong số đó có một số sẽ thu hút ta tốt hơn, khiến ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn những thứ khác. Một số âm thanh bắt tai hơn những âm thanh khác, và một số mùi hương dễ chịu hơn các mùi hương khác. Khi được nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ những hình dạng, âm thanh, mùi hương, hương vị, chất liệu đó, những áp lực của cuộc sống bỗng dưng tan biến.

Có thể bạn chưa biết: chúng ta có nhiều hơn 5 giác quan. Tùy vào định nghĩa mà ta có từ 9 đến.. vài trăm giác quan khác nhau :))

Để có thể tiếp tục làm tan biến những áp lực của cuộc sống của cả ta và những người khác, chúng ta cần khám phá, trao đổi, tuyển chọn, kết hợp, lưu trữ các mùi hương, hương vị, v.v. đó lại với nhau. Chúng ta cần chuyên môn hóa công việc đó, và cần những người dành cả đời để tạo ra chúng. Lấy ví dụ về mùi hương chẳng hạn. Khi mùi hương đánh thức chiếc mũi, thì không sớm thì muộn, nền công nghiệp nước hoa sẽ hình thành. Sản phẩm nào kích thích được các giác quan tốt hơn sẽ có ưu thế hơn so với đối thủ. Một quán ăn ngon sẽ thu hút được nhiều người đến, nhưng một quán ăn có cửa sổ lớn, hương hoa oải hương và nhạc jazz thì độ ngon miệng sẽ được nhân lên bội phần. Và chưa kể, nếu món ăn được đưa ra trong lồng kín, thì mùi hương được ủ trong chiếc lồng sẽ còn ngào ngạt hơn.

Food scent

Có lẽ không có con đường nào đi đến sự vui vẻ nhanh nhất bằng việc thỏa mãn các giác quan. Nhưng nếu một sản phẩm khiến cho ta ngập trong sự dễ chịu, làm ta thấy trước được phần thưởng là sự dễ chịu, thì nó sẽ làm ta thèm muốn sự dễ chịu. Như trong bài viết Cảm xúc chết tiệt của bạn, tác giả Mark Manson có viết:

Vấn đề là bộ não không thích đưa ra những lựa chọn rối rắm. Nó không thích sự không chắc chắn hoặc mơ hồ và nó sẵn sàng thực hiện các thủ thuât tâm lý để tránh bất cứ sự không thoải mái nào. Và cách yêu thích của bộ não chúng ta là cố gắng thuyết phục chính nó rằng điều gì cảm giác tốt thì cũng có nghĩa là điều đó tốt đẹp/đúng đắn.

Nên giả sử như bạn biết rằng bạn không nên ăn kem. Nhưng bộ não bạn nói rằng “Này, mày đã vất vả cả ngày rồi, ăn một tý không chết đâu”. Và bạn sẽ thế này, “Ồ, mày nói phải đấy! Cảm ơn nhé, não!” Điều cảm giác tốt đột nhiên cũng là điều đúng đắn. Và sau đó bạn sẽ ăn hết nửa lít kem sơ-ri trong tội lỗi.

Nếu bạn làm những điều này đủ lâu – tức là nếu bản cứ tự thuyết phục bản thân rằng điều gì cảm giác tốt thì cũng có nghĩa là nó tốt thì bộ não của bạn sẽ thực sự trộn lẫn hai thứ làm một. Não của bạn sẽ bắt đầu nghĩ rằng nội dung chính của cuộc đời chỉ là cảm thấy “lên đỉnh”, một cách thường xuyên nhất có thể.

Nên thành ra, thay vì đưa ta đến những trải nghiệm chấn động tâm hồn, việc thỏa mãn các giác quan lại đưa ta đến sự nuông chiều. Tức là, việc tìm đến những cảm xúc tuyệt vời nhất là một con đường với hai lối rẽ. Và lối rẽ dẫn đến sự nuông chiều thì lúc nào cũng hấp dẫn hơn. Chưa hết, vì cả hai cùng có điểm xuất phát như nhau, nên lối rẽ này giống như không có bảng chỉ đường vậy. Phải đi hết một đoạn đường rồi thì ta mới biết mình có đi đúng đường hay không, còn trong lúc đó thì vẫn cứ nghĩ là đang đi đúng đường. Chúng rất giống nhau, nhưng không phải là một.

Ăn được ngủ được là tiên. Để cạnh tranh với nhau, các cửa hàng đều cố gắng chiều theo các ông tiên bà tiên này. Một mặt, họ thành tâm xem khách hàng là thượng đế, và nếu không nỗ lực phấn đấu thì sẽ không được thượng đế ban ơn. Nhưng mặt khác, các kỹ thuật quảng cáo đều đánh vào vô thức, chứ không chỉ đơn giản là đáp ứng người có nhu cầu. Châm ngôn của ngành quảng cáo là nếu khách hàng không có nhu cầu thì hãy tạo ra nhu cầu cho họ. Nhưng làm vậy thì người dùng sẽ không có được sự chấn động tinh thần mà sản phẩm mong muốn đem tới.

Newport
Nếu khách hàng không có nhu cầu thì hãy tạo ra nhu cầu cho họ.

Khi bản thân sở hữu cái đẹp

Thời trang không chỉ là sản phẩm nghệ thuật bằng chất liệu vải, mà còn là thứ chúng ta phô trương ra bên ngoài. Nó định hình cơ thể chúng ta và định hình cả cách chúng ta nhìn cơ thể người khác. Mỗi một lần ta khoác lên một bộ cánh là một lần hình ảnh cá nhân của ta lại thay đổi. Nghĩa là, thông qua nó, một tuyên ngôn về bản thân của ta được đưa ra, và một bản ngã mới của ta được hình thành.

z

Khi ta ý thức được về bản thân mình, thì những cảm xúc tự nhận thức sẽ xuất hiện. Nếu ta nhận thức được rằng ta đang sở hữu cái đẹp, thì ta sẽ tự hào về điều đó. Sự tự hào này tuy chỉ là một cảm xúc bình thường, không phải cảm xúc thẩm mỹ, nhưng vì nó là về cái đẹp của bản thân, nên nó trông rất giống như một cảm xúc thẩm mỹ. Giống như việc một nỗi buồn từ một câu chuyện đẹp trông rất giống nỗi buồn thường ngày, thì ở đây, sự tự hào về cái đẹp của bản thân trông rất giống với sự chiêm ngưỡng cái đẹp nói chung, mà ta chỉ tình cờ là người sở hữu nó. Nhưng chúng không phải là một. Chàng Narcissus vừa có một cảm xúc thẩm mỹ, vừa có một cảm xúc phi thẩm mỹ, và hai loại cảm xúc này đều rất giống nhau.

Narcissus-Caravaggio_(1594-96)_edited

Mục tiêu chính của nhà thiết kế là tạo ra sản phẩm có giá trị thẩm mỹ. Quá trình sản xuất đòi hỏi họ phải làm bằng sự chăm chú và say mê, và sản phẩm được làm ra bằng những điều đó thì luôn đẹp. Tuy nhiên, cái sản phẩm phụ là người mặc có ý thức rằng mình đẹp thì lại không thể loại bỏ được. Nó luôn luôn lởn vởn, lấp ló trong suy nghĩ của họ, dù muốn hay không. Chỉ có những kẻ không có khả năng phản tư mới có thể không mảy may suy nghĩ gì về vẻ đẹp của bản thân. Và cũng chỉ có những kẻ có năng lực lý tính thì mới hiểu rằng người sở hữu cái đẹp là người được những kẻ lý tính khác nhìn ngắm. Nên cùng là một sản phẩm, nó sẽ loại bỏ bản ngã ở người này/trong thời điểm này, nhưng lại mở rộng bản ngã ở người khác/trong thời điểm khác. Nó như một con lắc dao động không ngừng nghỉ, lúc thì ở trạng thái này, lúc thì ở trạng thái kia, làm ta không thể bóc tách được đâu là đâu.

Nếu ngay từ đầu sản phẩm được tạo ra nó với ý định làm cho người mặc sống trong huyễn tưởng, thì sự dao động đó càng mãnh liệt hơn. Việc nhà thiết kế chịu sự đặt hàng của hãng để đón đầu thị trường theo mỗi mùa cũng khiến họ khó có một thiết kế xuất phát từ sự chấn động với cái đẹp. Và khi đã thiết kế xong và tới khâu giới thiệu, nó có khi lại được đi cùng những lời tựa đẹp và sâu sắc – đẹp thực sự, chứ không phải deep deep. Điều đó cũng khiến cho ta cũng khó mà nói rằng nó không phải là đẹp. (Nhớ lại rằng khi đối diện với cái đẹp, ta cần phải tạm ngắt sự đánh giá với cái sai, dù ta biết chúng sai.) Khách hàng vừa được hứa hẹn có được sự nuông chiều, vừa được chấn động trong tâm trí bằng một câu nói đẹp, thì “chạy đâu cho thoát”.

Để làm nổi bật hơn nữa cái cảm xúc phi thẩm mỹ nhưng lại rất giống cái đẹp này, những người mẫu cần tạo dáng làm sao để toát lên vẻ cao ngạo, gợi tình, mong manh, phá cách, thư nhàn, hào hoa, xinh xắn, hờ hững, lạnh lẽo, v.v. Có khiến cho người mua được sống trong huyễn tưởng rằng khi mặc bộ đồ đó lên họ cũng có được sự quyến rũ như vậy thì mới bán được đồ. Nhưng khi ta phấn khích với một bộ váy xinh ơi là xinh, ta không còn trân trọng vẻ đẹp của chiếc váy nữa, mà là muốn sử dụng chiếc váy để bản thân mình trở nên xinh hơn. Vào giây phút đó, ham muốn được trở nên đẹp trong mắt người khác lấn át, và cái đẹp thực sự chính thức rời bỏ chúng ta. Tất cả những gì còn lại chỉ là thứ na ná cái đẹp.

Váy xinh
Đây là một chiếc váy xinh. Nhưng người mặc đang không nhìn thấy cái đẹp của chiếc váy ấy. Thứ bạn ấy đang thấy chỉ là một thứ na ná cái đẹp. Nó đến từ sự tự hào vì có được chiếc váy đó. Nếu bạn nhìn vào tấm hình này và cảm thấy giá như mình có được chiếc váy ấy, bạn cũng đang không nhìn thấy cái đẹp của chiếc váy.

Có phải ý tôi là không có cái đẹp thực thụ trong các lĩnh vực này không? Không. Tôi chỉ muốn nói rằng một sản phẩm có thể cho ta cùng lúc những thứ sau:

  • Sự dễ chịu của các giác quan
  • Niềm đam mê, sự trân trọng với cái đẹp
  • Sự ham muốn sở hữu nó/cảm giác tự hào với bản thân

Các yếu tố này có thể gia giảm tùy người và tùy thời điểm, nhưng sự xuất hiện của cái này sẽ dẫn đến cái kia, thậm chí có thể xuất hiện cùng lúc. Điều đó khiến ta nhập nhằng giữa việc chỉ ra đâu là cái đẹp, đâu không phải là cái đẹp. Tổng hợp lại, chúng sẽ tạo nên một phức cảm giữa các cảm xúc thường ngày và cảm xúc thẩm mỹ.

Với những người đang cảm thấy bất lực

Phần dưới đây có liên quan tới bài Khi sự bất lực trở thành cái đẹp. Bạn có thể đọc bài đó trước rồi quay lại đây.

Quan sát cá nhân của tôi cho thấy, với những người đang cảm thấy mình bất lực (có sự bất lực học được), thường họ sẽ trưng những bức ảnh thể hiện nỗi buồn trên mạng xã hội. Đó có thể là nỗi buồn-đẹp của cảnh vật, nỗi buồn-đẹp của bản thân, hoặc hình ảnh bản thân được nuông chiều hoặc săn sóc. Nhưng nói chung, những bức ảnh đó sẽ hợp lý hóa cho việc trốn tránh của họ. Nó cho họ lớp vỏ bảo vệ bằng cách thể hiện ra là mình đang hân hưởng cái đẹp.

Tôi cho rằng một phần không nhỏ những người làm trong các ngành nghệ thuật hoặc liên quan đến việc thỏa mãn giác quan ban đầu là để chạy trốn như thế. Vì đặc điểm của ngành, sự bất lực của họ càng trở nên vô hình trong mắt người ngoài hơn. Nếu để người khác phát hiện ra là mình đang trốn tránh thì còn trốn làm gì nữa? Nhưng như vậy họ càng khó mà nhận được sự trợ giúp cần thiết từ bạn bè.

Liệu rằng sự nuông chiều là sai? Nó không sai nếu như ta có sự điều độ. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, ta cần thư giãn và giải trí. Sau một cú sốc tinh thần, ta cần nuông chiều để có thể cân bằng lại tinh thần. Nhưng nếu ngày nào cũng làm như vậy, thì đột nhiên nó sẽ gây hại cho bản thân. Cái gì quá nhiều thì cũng sẽ không tốt.

Nếu nghệ thuật là cách mà nghệ sĩ tìm hiểu bản thân và thể hiện mình (self-exploration & self-expression), thì có lẽ sản phẩm của họ cũng là cách duy nhất để họ thông báo cho thế giới là họ đang không ổn. Nhưng nếu tất cả những gì họ nhận được chỉ là vài bình luận về những bài họ đăng, mà không phải là một cuộc nói chuyện dài một hai tiếng về những quá khứ của họ, thì tất cả chỉ là những lời nói trên bề mặt, không thực sự đi sâu vào vấn đề.

Một người ngoài nhìn vào sẽ chỉ có thể thấy những hành động nuông chiều bản thân này, và không khỏi cảm thấy họ đang bỏ mặc bản thân mình. Đó là một lo lắng chính đáng. Nhưng thật ra mỗi ngày với họ đều là một trận chiến. Những người khỏe mạnh có thể chọn cuộc chiến cho mình, và chọn thời điểm họ muốn chiến, nhưng với họ, thì họ buộc phải lâm trận mà đến giờ vẫn chẳng hiểu tại sao. Rốt cuộc, chính vì bế tắc nên họ mới phải kiếm những điều khuây khỏa. Chứ thật ra, họ xứng đáng được nhận huân chương dũng cảm hơn ai hết.

Với những người đứng ngoài, vì biết với thân phận người ngoài cuộc của mình, không thể cho phép mình cất lên tiếng nói. Họ gặp phải thế lưỡng nan: nếu chọn im lặng thì là đang để mặc cho bạn mình cô đơn, còn nếu chọn tham gia sâu hơn thì có thể lại đang làm mọi thứ tệ hơn. Để có thể không làm mọi thứ tệ hơn thì phải tìm hiểu rất sâu. Mà như vậy thì mất rất nhiều thời gian. Và dù có sẵn sàng tìm hiểu đến cùng thì cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Tất cả những gì còn đọng lại chỉ là một cảm giác bất lực mà không cách nào giải tỏa được. Nếu tình trạng này kéo dài, chính họ – những người có khả năng giúp một người bất lực – sẽ trở thành một người bất lực thứ hai.

  • c9d9cb9087d700cc62098d0d91e59bfe
  • Wine & lust
  • Pub
  • Hot-couple-romantic-love-cuddling-emotions-lips-kiss

Đây là sự thỏa mãn về giác quan, sự nuông chiều, hay sự bất lực?

Với những người cung cấp dịch vụ

Không có gì sai khi khách hàng muốn ăn ngon, và cũng không có gì sai khi đầu bếp tìm tòi sáng tạo để có món ăn ngon. Nhưng ăn quá nhiều và không kiểm soát được thì lại có vấn đề. Lúc đó, kể cả khi đó là món ăn đó là tuyệt tác đi chăng nữa, nó vẫn là có hại. Nhưng ta không thể nói rằng chỉ có họ mới có thể tự giúp họ được. Họ dừng lại được thì họ đã làm rồi. Nên lúc này, chỉ có sự tác động từ bên ngoài mới có thể giúp họ. Vì những người làm trong nghề sẽ là những người có tiếng nói quan trọng, nên cũng hợp lý khi nói rằng họ cũng cần cất lên tiếng nói. Khó có ai có đủ uy tín bằng chính họ được.

Tuy vậy, họ lại là những người khó cất lên tiếng nói nhất. Như với ngành thời trang chẳng hạn, vấn đề về sự quá đà này chỉ là sản phẩm phụ, nên họ không mấy bận tâm. Thứ chiếm lấy mối quan tâm của họ hằng ngày là cái đẹp, hay phong cách cá nhân, hay hình ảnh thương hiệu, hay đam mê và nỗ lực như những gì họ thường nói về ngành mình. Mà khi một thứ là vô hình trong mắt họ, thì họ không thể nào hành động được dù rất muốn, và cũng không ai có thể thay thế họ được.

Vả lại, họ có thể làm gì đây? Họ chỉ có thể dừng ở mức tư vấn cho khách, chứ không thể quan tâm cặn kẽ từng khách một, càng không thể cản khách mua sản phẩm được. Nếu làm thế, họ sẽ bị mang tiếng là đuổi khách, và cho dù có đuổi thì khách cũng chỉ cần qua cửa hàng khác là được. Đó là chưa kể, mấy ai có thể hy sinh lợi nhuận mà nghĩ cho khách hàng được như thế?

f65e8d6204793ecb856c926a39757879

Khi sự bất lực trở thành cái đẹp

Sự bế tắc và bất lực luôn là chủ đề bất tận của nghệ thuật. Ví dụ như ở đoạn mở đầu chương 10 cuốn Rng Na Uy, Murakami viết:

Khi nghĩ lại năm 1969, tâm trí tôi chỉ thấy một vùng đầm lầy - một vùng bùn sâu dẻo quánh có vẻ muốn mút chặt và kéo tuột giày tôi ra mỗi lần tôi cất bước. Tôi đi trong vùng bùn ấy, sức lực kiệt dần. Đằng trước, đằng sau, tôi không nhìn thấy gì khác ngoài bóng tối vô tận của đầm lầy.

Hoặc ở bài thơ bìa cuối cuốn Dấu vết thiên di, Nguyễn Băng Ngọc viết:

Lần theo dấu vết thiên di
Buồn vui như thể cơn mưa bất kỳ
Cuối cùng rồi cũng chia ly

Hoặc như một bài hát của Trịnh Công Sơn:

Rừng xưa đã khép
Em hãy ra đi

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một người đang tin rằng mình đang bất lực sáng tác hoặc thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật nói về những nhân vật cũng tin rằng mình đang bất lực?

👉 Bài chi tiết: Sự bất lực học được là gì?

Nhà văn Dostoyevsky có nói rằng: “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Vì cảm xúc thẩm mỹ là một cảm xúc tích cực, nên có lẽ trước tiên tính thi ca trong tác phẩm sẽ làm dịu nỗi đau của họ. Việc được thấy một câu chuyện của một người bất lực khác cho họ thấy rằng mình không phải là người duy nhất phải chịu đựng. Việc được chiêm ngưỡng sự chăm sóc – dù chỉ là trong thế giới hư cấu – cũng sẽ có tác dụng an ủi họ.

photo1524412427320-15244124273201596146795

Nhưng ngoài chuyện họ được an ủi ra, thì liệu ta có thể hi vọng gì được thêm không? Mặc dù ai cũng hiểu nghệ thuật không có nghĩa vụ phải giảng dạy bài học cuộc sống, không có nghĩa vụ bảo rằng độc giả phải có niềm tin tích cực, nhưng liệu với những tác phẩm nói về sự kiên cường, không đầu hàng số phận, liệu ta có thể hi vọng họ lấy đó làm cảm hứng hay không? Tôi e là không. Vì những người đang tin rằng mình đang bất lực (những người có sự bất lực học được), theo định nghĩa, đã học được rằng cứ mỗi lần có niềm tin tích cực thì họ đều sẽ luôn thất bại, nên bây giờ sự tích cực đã bị lọc lại. Với họ, một cái kết day dứt thì là chuyện hiển nhiên và sinh động, còn một kết thúc có hậu thì chỉ là chuyện viễn tưởng, đọc cho biết, cho vui. Có thể sự tích cực đó vẫn có thể gieo cho họ thấy sự tồn tại của một thế giới khả thể khác, nhưng nó khó mà có thể đánh bật được một niềm tin đã được củng cố từ quá lâu. Nếu ngay cả những điều tích cực có thật còn không thể cạnh tranh nổi, thì đồ giả như văn chương làm sao có cửa nào? Cái đẹp có thể cứu rỗi tâm hồn của ai đó chứ không thể cứu rỗi được tâm hồn họ.

Nếu chiếu theo lý thuyết truyền thông của Stuart Hall, thì độc giả đang dàn xếp (negotiate) cách hiểu của mình với văn bản, hơn là chống đối (opposite) nó hoàn toàn. Đó là vì với một văn bản đẹp, họ vẫn có sự chấp nhận tác phẩm một phần nào đó. Chỉ là họ không hoàn toàn chấp nhận nó mà thôi.

Muốn chấm dứt niềm tin rằng ta đang bất lực thì ta cần phải hành động, chứ nó không tự mất đi. Nhưng khi ta xắn tay áo lên, cái đẹp sẽ biến mất. Không ai phủ nhận việc giải quyết được hiện trạng một cách rốt ráo thì sẽ rất tốt, nhưng nếu bản thân việc chiêm ngưỡng hiện trạng đó cũng tạo ra một cảm xúc tích cực, vậy tại sao lại phải vận công thay đổi nó? Và chưa kể, ở giữa cái đẹp đó, họ còn tìm được niềm an ủi. Nên nạn nhân của sự bất lực học được sẽ bị giam trong một vòng lặp: muốn tìm được niềm an ủi cho mọi khổ đau, thì cần phải duy trì hiện trạng để còn tiếp tục thưởng lãm cái đẹp. Như vậy, cái đẹp giữ chân họ ở lại với sự bất lực, và làm họ xao nhãng với điều quan trọng nhất. Thậm chí, họ còn có thể đưa ra một xác quyết là điều quan trọng nhất với họ là ở lại với cái đẹp, chứ không phải chấm dứt nỗi đau của họ.

Nếu họ đem câu chuyện của họ viết ra thành thơ, vẽ thành tranh, phổ thành nhạc, chụp thành ảnh, hoặc chỉ đơn giản là trích một câu nào đó deep deep, thì họ đang đưa ra một thông báo cho thế giới. Thông báo đó nói rằng: tôi đang đau. Nhưng bạn bè họ, với tư cách là độc giả, nhất thiết cần phải giữ khoảng cách với nhân vật trong tác phẩm để còn có thể chiêm nghiệm nỗi buồn đẹp, sự mất mát đẹp. Nhưng nỗi buồn đẹp đó từ đâu ra, nếu không phải từ chính sự bất lực của tác giả? Nên nếu họ (độc giả, bạn của tác giả) không thể nhận ra đây là thông báo của bạn họ về nỗi đau của mình, thì nghĩa là họ sẽ không thể nhắn một câu đơn giản là họ sẽ luôn ở bên cạnh, dù điều đó hoàn toàn nằm trong khả năng của họ, và lại là thứ cần làm nhất. Ngược lại, họ sẽ chỉ đưa ra những lời hâm mộ, thả tim hoặc cà rỡn. Tuy chúng có tác dụng an ủi và khuây khỏa tác giả rất mạnh, nhưng đó chỉ mãi là an ủi và khuây khỏa mà thôi. Chúng sẽ tiếp tục khuyến khích tác giả tiếp tục ở lại vòng lặp của mình, làm cho họ học được rằng việc tự hành hạ bản thân là một thói quen tốt. Cái đẹp đã đánh lạc hướng bạn bè của người có nỗi đau.


Tại sao con người lại cần đến văn học và yêu thích nó, dù biết nó là thứ hư cấu? Đó là vì, như nhà nghiên cứu văn học Wolfram Iser nói, “hành vi hư cấu của chúng ta đưa chúng ta đi thật xa khỏi thế giới này cũng như trạng thái vốn có của chúng ta, đến một thế giới tưởng tượng”. Thế giới tưởng tượng xa xôi huyền viễn ấy hấp dẫn con người bởi nó khắc phục được những giới hạn về thời gian, không gian, nhận thức trong thế giới hiện thực để đạt đến sự tự do nhất, thỏa mãn những ước mơ khát vọng chưa thể hoặc không thể thực hiện được ở hiện tại.

Nhờ có cái đẹp, nên dù họ buộc phải sống một cuộc sống bất lực, thì tâm trí họ cũng không ở trong thế giới đó. Ở thế giới song song đó, rốt cuộc họ cũng được giải thoát. Chỉ có điều, sự giải thoát đó mãi chỉ là hư cấu. Không phải vì sự giải thoát đó là khoa học viễn tưởng, mà là vì họ tin rằng đó là khoa học viễn tưởng. Khi họ từ chối biến sự hư cấu đó thành hiện thực, thì không phải họ đang chạy trốn gì cả, mà chỉ là họ không thể nào chọn làm vậy mà thôi.

Phần 1, Phần 2

Tham khảo:
• Đỗ Văn Hiểu, Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển KH&CN, tập 16 số X2-2013
• Lưu Hồng Sơn, Lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến, tập 6 số 4, 2019
• Thủy Mẫn, Van Gogh: Nỗi Buồn Kéo Dài Mãi Mãi, from Visual to Mind, 2020

Dance of swan (prima balerina of Mariinskiy theater, ballet Swan lake) Painting by Alisa Gibet

Tại sao cái đẹp không nhất thiết đi cùng với cái tốt?

Có bao giờ bạn tự hỏi, tại sao chúng ta lại tin vào một cái gì đó? Câu trả lời: vì nó đúng. Hỏi tiếp: tại sao chúng ta lại muốn một cái gì đó? Vì nó tốt. Và tại sao chúng ta lại nhìn vào một cái gì đó? Vì nó đẹp. Bộ ba giá trị đúngđẹp tốt đó, theo quan niệm của các triết gia thời Hy Lạp cổ, là câu trả lời cho mọi khuynh hướng lý trí của chúng ta. Người nào đặt câu hỏi “tại sao lại tin vào cái đúng?” hay “tại sao lại muốn cái tốt?” là không hiểu bản chất của lý lẽ. Đã gọi là Chân Thiện Mỹ, thì chúng là tối hậu, không còn cái nào hơn.

Trong ba thứ đó, thì thường cái đúng và cái tốt đi cùng với nhau. Nhưng cái đẹp thì không như thế. Ta có thể có những cái đẹp sai sự thật, và có những cái đẹp làm mọi thứ tệ hơn. Cũng giống như cảm xúc, cái đẹp thường bị chê trách là làm ta thiếu lý trí. Nhưng theo Kant, nói rằng cái đẹp khiến ta mất lý trí là không đúng. Trong khi cảm xúc thông thường là thứ cạnh tranh với lý trí, thì với Kant, khả năng nhìn ra được cái đẹp lại là đỉnh cao của lý tính. Chỉ có những loài động vật có phần não mới mới có thể hân hưởng được nó.

Cái đẹp vừa có thể xem là cảm xúc (bên trong ta), vừa có thể xem là một đặc tính của đối tượng (bên ngoài ta), giống như màu sắc hay kích cỡ vậy. Một đặc điểm quan trọng của nó là nó chiếm trọn mối quan tâm của chúng ta, nhưng lại không kích động ham muốn nào. Nếu bạn nhìn một cô gái khỏa thân giống như nhìn một tô phở bò, thì đó là bạn đang có kích động ham muốn. Nhưng cũng với cô gái đó, mà bạn nhìn vào như nhìn một ông già với những nếp nhăn thú vị, thì là bạn đang nhìn vào cái đẹp. Cả tô phở bò lẫn những nếp nhăn của ông già đều chiếm trọn mối quan tâm của bạn, nhưng một thứ làm bạn muốn chan thêm tương ớt vô, còn một thứ chỉ cần quan sát từ một khoảng cách là đủ. Nếu khoảng cách đó mất đi, nếu trí tưởng tượng bị nhấn chìm trong huyễn tưởng, cái đẹp có thể còn lại – nhưng nó là cái đẹp bị hư hoại. Gọi nó là cái đẹp là sự báng bổ cái đẹp. Chỉ khi nào một thứ hoàn toàn chiếm trọn mối quan tâm của chúng ta mà lại độc lập khỏi bất kỳ ứng dụng nào có thể có của nó, thì khi ấy chúng ta mới bắt đầu nói về vẻ đẹp của nó. Bản thân hành động thưởng ngoạn đã thỏa mãn ham muốn sử dụng nó rồi.

Leap - Ray Rapkerg
Cái đẹp chiếm trọn mối quan tâm của chúng ta, nhưng lại không kích động ham muốn nào. (Ảnh: Ray Rapkerg)

Tất cả các tác phẩm nghệ thuật đều xoay quay cái đẹp. Có những loại hình nghệ thuật đem lại cảm xúc nhanh, có những loại hình nghệ thuật đem lại cảm xúc chậm. Văn chương, hội họa, thi ca, điêu khắc, thư pháp, v.v., là những loại nghệ thuật đem lại cảm xúc chậm. Còn âm nhạc, điện ảnh, thời trang, ẩm thực, nhiếp ảnh, v.v., là loại hình nghệ thuật đem lại cảm xúc nhanh. Có vẻ như các loại hình nghệ thuật đem lại cảm xúc chậm thường được phối hợp với nhau và để truyền đạt một ý tưởng phức tạp nào đó, và các loại hình nghệ thuật đem lại cảm xúc nhanh sẽ thường được phối hợp với nhau để cùng làm tăng sự thích thú với giác quan.

Một điểm thú vị là ngay cả những thứ làm ta sợ hãi hay kinh tởm cũng có thể trở thành cái đẹp. Nếu không, bạn đã không thể xem phim kinh dị hay chơi trò đu dây cảm giác mạnh. Điều đó cho thấy cm xúc đi thưng và cm xúc thm m không phải là một loại cảm xúc. Một cái làm bạn muốn tránh xa nó, còn một cái giữ chân bạn lại. Hãy nhìn vào bức ảnh dưới đây. Cảm xúc khi bạn nhìn vào bức ảnh, và cảm xúc khi bạn là người trong bức ảnh, là khác nhau. Nhưng hai loại cảm xúc đó thường được gọi chung bằng một cái tên, và tất nhiên bạn cũng có thể có cả hai loại cảm xúc đó cùng lúc.

chinh-le-duc-TV1QYUtTxJ8-unsplash

Bởi vì tự cái đẹp là thứ đáng để chiêm ngưỡng, nên nó chỉ có thể là cảm xúc tích cực, không thể là cảm xúc tiêu cực được. Tuy đúng là có rất nhiều tác phẩm nói về những cảm xúc tiêu cực, nhưng sự thể hiện nó (portrayal) thì lại là đẹp. Chúng ta không hề muốn mình đau khổ, nhưng chúng ta sẽ muốn thưởng thức “sự đau khổ” được trình diễn. Nếu đi xem kịch và bạn thấy nhân vật quá đau khổ đến mức bạn chỉ muốn đứng dậy để an ủi diễn viên, bạn không còn là người đứng từ xa để chiêm ngưỡng cái đẹp nữa. Bạn đã trở thành người trong cuộc, và đã có một mong muốn rõ ràng rồi. Lúc này, cái đẹp sẽ biến mất.

Nói cách khác, khi cái đẹp xuất hiện, ta có thể chấp nhận những điều phi thực tế, và thôi thúc thay đổi cái phi lý của ta sẽ được tạm ngắt đi. Nếu bạn xem phim Titanic mà lại thốt lên rằng “trời ơi, cái tấm gỗ đó cả Jack lẫn Rose đều cùng nằm được mà?“, thì cảm xúc bạn đang có khi xem phim không phải là cảm xúc thẩm mỹ.

Phần 1, Phần 4

ANTHOLOGY_LS_4175_Vikkia_Lambert_Uri_Sands_091196-12-56

Tại sao cảm xúc không phải là đúng nhất?

Bạn đang khát. Một cảm giác khó chịu xuất hiện đâu đó ở cổ họng bạn, báo hiệu rằng cơ thể bạn đang thiếu nước. Nhờ có cảm giác khó chịu đó, bạn cuối cùng cũng có thể dứt ra khỏi thứ đang chiếm lấy sự chú ý của bạn và đi kiếm nước. Nếu cơn khát đó được thỏa mãn, không những cơ thể bạn có được thêm nước, mà bạn còn được nhớ lại rằng được uống nước thật đã làm sao. Còn nếu mãi mà bạn vẫn chưa dứt ra khỏi thứ đang làm (như việc đọc bài viết này chẳng hạn), thì cơn khó chịu sẽ vẫn còn tiếp tục, và bạn cũng sẽ được nhắc nhở rằng việc trì hoãn uống nước là điều sai trái.

Cơn khát đó là một ví dụ cho cảm xúc. Cảm xúc báo hiệu rằng một nhu cầu đang cần được đáp ứng, tạo ra động lựcham muốn để đáp ứng nhu cầu đó. Tùy vào kết quả mà ta sẽ có cảm xúc tiêu cực hay cảm xúc tích cực. Nếu nhu cầu đó được thỏa mãn, cảm xúc tích cực sẽ được sinh ra, nhắc ta nên duy trì những động lực và mong muốn đó trong tương lai. Nếu không, cảm xúc tiêu cực sẽ được sinh ra, và ta sẽ còn cảm thấy khó chịu cho tới khi nào nhu cầu đó được đáp ứng.

Nhờ có cảm xúc, ta có thể thích nghi được với môi trường. Trong bao nhiêu triệu năm đấu tranh sinh tồn và tiến hóa, bộ não của chúng ta đã học được rằng s đáp ng tc thì vi biến đi ca môi trưng là quan trng. Có những thứ ta cần phải làm mà không cần phải nghĩ, và những thứ đó sẽ được báo hiệu bằng cảm xúc. Nó sẽ choán lấy sự chú ý của ta, dứt ta ra khỏi những vấn đề không thực sự thiết yếu để chú ý vào những nhu cầu thiết yếu hơn. Nó đem thông điệp của cơ thể đến với nhận thức, là sứ giả giữa nhu cầu và hoạt động tư duy. Nếu bạn muốn ghi nhớ một điều gì đó, kết nối nó với cảm xúc là cách hiệu quả nhất.

Để có thể được trao quyền cho việc chi phối ta, cảm xúc cần được khắc sâu vào hệ thần kinh. Để minh họa được quyền lực của nó, mạn phép bạn cho tôi bổ não bạn ra làm đôi:

Triune+Brain-01_0

Sau khi não của bạn đã được bổ ra làm đôi, bạn sẽ thấy nó được chia ra làm 3 phần: phần não bò sát (màu nâu), hệ viền (màu đỏ), và não mới (màu xanh). Ban đầu, khi tất cả chúng ta đều mới là bò sát, thì chúng ta chỉ có não bò sát. Sau một thời gian tiến hóa, phần não này đã được mở rộng ra thành hệ viền. Sau một thời gian tiến hóa nữa, hệ viền tiếp tục được chồng thêm lớp não mới.

Cái mô hình ba não này tuy không còn được xem là chính xác, nhưng lại rất trực quan cho người mới tìm hiểu. Hơn nữa với những phân tích ở đây thì dùng nó vẫn ổn.

Hầu hết các cảm xúc của chúng ta xuất phát từ hệ viền, trong khi các hoạt động tư duy của chúng ta lại nằm ở phần não mới. Do được nằm ở phần não cấp thấp hơn, nên nó cũng có quyền lực trong việc chi phối ta hơn. Điều đó không có nghĩa là ta không thể kiểm soát chúng, mà chỉ là sẽ luôn có sự cạnh tranh giữa cảm xúc và lý trí nếu chúng mâu thuẫn nhau.

Trong mấy chục loại cảm xúc khác nhau của chúng ta, thì 6 cảm xúc sau đây được xem là căn bản trong mọi nền văn hóa: vui, buồn, sợ, kinh tởm, giận dữ, ngạc nhiên. Sự khác biệt trên khuôn mặt là rất rõ ràng.

6 basic emotions

Ta có thể thấy 4 trong 6 cảm xúc này đều là cảm xúc tiêu cực.

Cảm xúc tự nhận thức bản thân

Một nhóm các cảm xúc quan trọng mà có lẽ chỉ những loài động vật có tính xã hội cao như con người mới có chính là các cảm xúc tự nhận thức về bản thân (self-conscious emotions). Như tên gọi của nó, để xuất hiện các cảm xúc tự nhận thức bản thân, tâm trí bạn phải ý thức được về mối quan hệ giữa bản thân với những người xung quanh. Chúng không phải là các cảm xúc cơ bản, và chúng ta có chúng trễ hơn so với các cảm xúc khác. Để phân biệt chúng với các cảm xúc khác, ta phải dựa vào các điệu bộ của đầu và cơ thể, chứ những gì biểu lộ trên gương mặt (facial expression) thì không đặc trưng lắm.

Đây là một số cảm xúc tự nhận thức bản thân của chúng ta:

  • Tự hào, hãnh diện (pride)
  • Xấu hổ, ngại ngùng, quê độ (embarrashment)
  • Mặc cảm (shame)
  • Hối lỗi (guilty)
  • Ghen tị (jealous, envy)

Trong các cảm xúc này, có duy nhất tự hào là cảm xúc tích cực. Tính luôn cả các cảm xúc cơ bản, thì phần thưởng do tự hào đem lại là rất lớn. Nó đem lại cho ta một năng lực mà lòng biết ơn (gratitude) và lòng trắc ẩn (compassion) cũng đem lại: sự kiên trì và bền bỉ vượt qua mọi chướng ngại.

Có hai loại tự hào: tự hào vì thành quả (achievement-oriented pride) và tự kiêu (hubris pride). Chúng là sự khác nhau giữa “tôi đã làm được điều gì đó quan trọng”, và “tôi là người quan trọng”. Cả hai đều cùng có một cách thể hiện ra bên ngoài. Tuy nhiên tự kiêu có thể dễ dẫn đến cảm xúc khinh bỉ (contempt), nhưng tự hào vì thành quả thì không. Tự kiêu cũng không tạo ra được sự kính trọng lâu dài.

Điều thú vị nhất về tự hào là nếu ta nhìn thấy một người không có gì đáng để tự hào, mà họ vẫn tự hào được, thì ta cũng gần như không thể nào cưỡng lại được việc xem trọng họ.

Phần 3, Phần 4

Cueball

Một suy nghĩ về sự cộng hưởng

Đầu tiên, mỗi người đều có một thiên hướng để làm một cái gì đó (nghệ thuật, khoa học, v.v.). Cái thiên hướng này còn có những cái tên khác như bản tính, cá tính, tính cách, niềm vui, sở thích, sở trường, v.v. Ta có thể không làm nó mà vẫn sống tốt, nhưng nếu được làm thì nó sẽ đem lại những phần thưởng về mặt tinh thần cho ta. Và đương nhiên để làm nó thì cần có những điều kiện đầu vào. Như vậy mỗi thiên hướng là một quá trình gồm có input và output.

Bây giờ xét hai người A và B. Nếu output của A trở thành input của B, và input của B trở thành output của A, thì tự động sự hợp tác giữa họ sẽ đem lại niềm vui tinh thần cho cả hai. A có thể trước đây phải gác lại cái thiên hướng này vì mưu sinh, hoặc kể cả rảnh rỗi thì cũng thiếu input, nhưng nếu được gặp B thì A không còn cần phải lo lắng cho input nữa, mà chỉ cần tập trung vào việc tạo ra output mà thôi. Tương tự B cũng vậy. Mỗi người chuyên môn hóa việc đáp ứng nhu cầu của người kia, như kiểu cộng sinh với nhau.

Bình thường thì mọi người đều suy nghĩ rằng tương giao cần phải có sự nhường nhịn để cân bằng giữa cho và nhận, nhận nhiều quá sẽ làm người kia mệt mỏi mà cho nhiều quá thì sẽ làm bản thân mệt mỏi. Tuy nhiên trong trường hợp này, thì vì cái output đó đến từ sở trường và cá tính của mỗi người, nên kể cả khi người này chưa kịp đòi hỏi thì người kia đã đáp ứng luôn rồi. Và sự đáp ứng đó không phải là vì người kia, mà là vì chính bản thân mình. Niềm vui cho bản thân xuất hiện trước, còn sự đảm bảo về input cho người kia chỉ là phụ thôi. Nhưng do B lấy output của A làm input của mình, nên chắc chắn là input của B sẽ đảm bảo được. Vậy nên không cần nhường nhịn thì sự cho nhận vẫn xảy ra được.

Một mối quan hệ được đặt trên sự bổ sung cho nhau các mối quan tâm mà không dựa trên ham muốn và đam mê sẽ cho ra được nhiều tiếng cười hơn. Tôi gọi đây là sự ăn ý, đồng điệu hoặc cộng hưởng.

What do pictures want

Những bức ảnh muốn gì?

Đây là những đoạn hay mình đọc được trong 3 chương đầu cuốn What Do Pictures Want?: The Lives and Loves of Images. Tác giả là W. J. T. Mitchell, giáo sư lịch sử nghệ thuật và Anh ngữ tại đại học Chicago. Cuốn này coi vậy chứ triết học ghê gớm. Tác giả lôi toàn những cái tên như Marx, Wittgenstein, Saussure, Freud, Baudrillard, Deleuze, Barthe, Lacan, Žižek ra để nói chuyện. Ở đây mình sẽ dịch “picture” là “bức ảnh”, và “image” là “hình ảnh”. Các trang được trích dẫn sẽ được để trong ngoặc.


Những câu hỏi chủ đạo về hình ảnh trong các tài liệu gần đây về văn hóa thị giác và lịch sử nghệ thuật đều mang tính diễn giải và tu từ. Chúng ta muốn biết những bức ảnh có ý gì và làm gì: cách chúng truyền tải thông điệp với tư cách là những dấu hiệu và ký hiệu (signs and symbols) là như thế nào, và quyền lực của chúng lên cảm xúc và hành vi con người ra sao. Khi một câu hỏi về ham muốn được nêu ra, [điểm xuất phát của ham muốn đó] thường được đặt ở người tạo ra hình ảnh hoặc ở người tiếp nhận hình ảnh, với bức ảnh được xem như một phương tiện biểu lộ ham muốn của nghệ sĩ, hoặc như một cách thức để khơi gợi ham muốn của người xem. Trong chương này, tôi muốn dịch điểm xuất phát của ham muốn tới chính hình ảnh, và hỏi xem các bức ảnh muốn gì. (28)

The dominant questions about pictures in recent literature about visual culture and art history have been interpretive and rhetorical. We want to know what pictures mean and what they do: how they communicate as signs and symbols, what sort of power they have to effect human emotions and behavior. When the question of desire is raised, it is usually located in the producers or consumers of images, with the picture treated as an expression of the artist’s desire or as a mechanism for eliciting the desires of the beholder. In this chapter, I’d like to shift the location of desire to images themselves, and ask what pictures want. (28)

Robert Clark
Ảnh: Robert Clark

Các sử gia nghệ thuật có thể “biết” rằng những bức ảnh họ đang nghiên cứu chỉ là những đồ vật được đánh dấu bằng hình dạng và màu sắc, nhưng họ thường nói và hành xử như thể các bức ảnh có cảm giác, ý chí, nhận thức, động cơ, hay ham muốn. Mọi người đều biết rằng một bức ảnh chụp mẹ của họ thì không sống, nhưng họ luôn ngại ngần trong việc bôi vẽ hay phá hủy nó. Không một người trần tục, lý trí, hiện đại nào lại nghĩ rằng những bức ảnh nên được đối xử như thể là con người, nhưng ta vẫn thường sẵn sàng tạo ra ngoại lệ cho những trường hợp đặc biệt (31)

Art historians may “know” that the pictures they study are only material objects that have been marked with colors and shapes, but they frequently talk and act as if pictures had feeling, will, consciousness, agency, and desire. Everyone knows that a photograph of their mother is not alive, but they will still be reluctant to deface or destroy it. No modern, rational, secular person thinks that pictures are to be treated like persons, but we always seem to be willing to make exceptions for special cases. (31)

Thái Thanh
Ca sĩ Thái Thanh thời còn trẻ

Về chuyện giới tính của những bức ảnh, khá rõ ràng là vị trí “mặc định” của hình ảnh là nữ tính, là một “sự thưởng lãm có cấu trúc”, như cách nói của sử gia nghệ thuật Norman Bryson, “quanh một sự tương phản giữa hai bên: người phụ nữ như là hình ảnh và người đàn ông như là người sở hữu cái sự nhìn”. Đây không phải là những hình ảnh v phụ nữ, mà là những hình ảnh như là những người phụ nữ. Câu hỏi về việc những bức ảnh muốn gì, vì thế, không thể phân biệt được với câu hỏi những người phụ nữ muốn gì. (35)

As for the gender of pictures, it’s clear that the “default” position of images is feminine, “constructing spectatorship,” in art historian Norman Bryson’s words, “around an opposition between woman as image and man as the bearer of the look”—not images of women, but images as women. The question of what pictures want, then, is inseparable from the question of what women want. (35)

ANTHOLOGY_Dance_4168_Shannon_Chain_040896_7_44
Ảnh: Howard Schatz

Thứ một bức ảnh muốn, như vậy, không phải là để được diễn giải, giải mã, hâm mộ, đập bỏ, trưng bày hoặc giải ảo bởi những người nhìn nó, hoặc để gây chú ý với người xem. Chúng thậm chí còn có thể không muốn được trao tặng sự chủ quan tính hoặc sự nhân tính bởi những nhà phê bình có thiện chí, những người nghĩ rằng lời khen ngợi tốt đẹp nhất mà họ có thể trao cho những bức ảnh là nói rằng nó có tính người. Những ham muốn của bức ảnh có thể hoàn toàn phi nhân tính hoặc không liên quan gì đến nhân tính, thứ có thể được mô tả bằng [ham muốn] của động vật, máy móc, người máy, hoặc thậm chí là những hình ảnh cơ bản hơn-thứ mà Erasmus Darwin gọi là “tình yêu với thực vật”. Thứ những bức ảnh muốn, cho đến cùng, chỉ đơn giản là được hỏi rằng chúng muốn gì, với một sự chấp nhận rằng câu trả lời cũng rất có thể là không muốn gì cả. (48)

What pictures want, then, is not to be interpreted, decoded, worshipped, smashed, exposed, or demystified by their beholders, or to enthrall their beholders. They may not even want to be granted subjectivity or personhood by well-meaning commentators who think that humanness is the greatest compliment they could pay to pictures. The desires of pictures may be inhuman or nonhuman, better modeled by figures of animals, machines, or cyborgs, or by even more basic images-what Erasmus Darwin called “the loves of plants.” What pictures want in the last instance, then, is simply to be asked what they want, with the understanding that the answer may well be, nothing at all. (48)

4wx9n9i4e9751
Mặt cắt ngang của ống kính máy ảnh

Bên cạnh mối quan hệ xung khắc với các nguyên lý gây hấn (???), ham muốn con người thường được vẽ ra theo hai các đối nghịch nhau: một mặt liên hệ với những đam mê đen tối, sự thèm muốn, và “bản tính thấp kém” của loài hoang dã, mặt khác được lý tưởng hóa như là nguyện vọng của sự hoàn hảo, tính nhất thể, và giác ngộ tâm linh. Nên cũng không có gì ngạc nhiên khi nói những ham muốn của bức ảnh cũng sẽ rẽ nhánh theo cách tương tự. (61)

In addition to its antithetical relation to principles of strife or aggression, human desire itself has traditionally been pictured in contrary ways: associated with the dark passions, appetites, and “lower nature” of the brutes on the one hand and idealized as the aspiration to perfection, unity, and spiritual enlightenment on the other. It should come as no surprise that the desires of pictures would be bifurcated along similar lines. (61)

Ray Collins
Ảnh: Ray Collins
Emotion in aesthetics

Cảm xúc trong mỹ học

Đây là tóm tắt của mình sau khi đọc xong 3 chương đầu cuốn Cm xúc trong m hc. Sách xuất bản năm 1995, tác giả là Warren Shibles, giáo sư đại học Wisconsin-Whitewater. Cuốn sách dựa trên lý thuyết về nhận thức – cảm xúc của Beck và Ellis (một lý thuyết lớn trong tâm lý học), lý thuyết liên tưởng về nghĩa (association theory of meaning), và trích Wittgenstein khá nhiều. Tác giả có vẻ là dân triết học âm nhạc, vì âm nhạc được đem ra làm ví dụ khá nhiều. Giọng văn hơi thiếu tính trung lập, đưa ra nhiều mệnh đề khẳng định như thể là sự thật hiển nhiên, hầu như không dùng những cụm từ như “có thể”, “có vẻ”, “tôi nghĩ”. Mình nghĩ có thể là do tác giả cũng nghiên cứu về tu từ nên mới như vậy.

Nói chung mình nghĩ nếu ai quan tâm đến mỹ học cũng nên đọc qua vài trang.

Phần giới thiệu: Các khái niệm được dùng trong mỹ học có vô vàn cách hiểu khác nhau¹, và chính vì như vậy nên các triết gia chỉ đưa ra được những mệnh đề luẩn quẩn², hoặc ở tình trạng không hiểu ý của nhau, ông nói gà bà nói vịt. Mọi người đều nói về cảm xúc mà không hề đưa ra một định nghĩa nào (tại đang mải định nghĩa những khái niệm khác). Rốt cuộc, họ kết luận rằng mọi thứ chẳng đi được đến đâu, và từ bỏ hi vọng rằng có thể có một bước tiến nào đó trong ngành.

1. Mình gọi là những từ đồng âm khác nghĩa
2. Mình gọi là những từ đồng nghĩa khác âm

Chương 1: một thứ có thẩm mỹ là một thứ có giá trị. Mỹ học thực chất là đạo đức học. Các từ đồng nghĩa khác âm được thống kê lại.

Chương 2: cảm xúc (emotion) và cảm giác (feeling) là hai thứ khác nhau. Cảm xúc là những sự nhận thức sinh ra cảm giác. Cảm xúc thẩm mỹ (aesthetic emotions) chỉ có thể là các cảm xúc tích cực, không thể là cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc thẩm mỹ là một loại cảm xúc meta (cảm xúc về cảm xúc). Đối tượng thẩm mỹ chỉ là cách gọi khác của cảm xúc thẩm mỹ.

Chương 3: cảm xúc thẩm mỹ không phải là cảm xúc hằng ngày. Tuy nhiên nó sẽ có những đặc trưng của cảm xúc nó đang tái tạo (resemble) lại. Ví dụ như cảm xúc buồn-thẩm mỹ sẽ có những đặc tính của cảm xúc buồn-thông thường (sadness qualities, sad-making characteristics). Nhưng sự tái tạo này không phải là sự nhân hóa. Khi nói “một bản nhạc buồn” nghĩa là bản nhạc đó làm ta buồn, nhưng nói “một cái cây buồn” thì lại là vì ta nhân hóa nó, và gán cho nó những cảm xúc của ta, mặc dù cả hai câu đều có chung cú pháp.

St-Bernard
Nhìn mặt giống chó St. Bernard, ta thấy có nét buồn, mặc dù việc ta trông nó buồn không hề liên quan tới việc nó có thực sự buồn hay không.

Link trên Springer