Idea

Ý tưởng nền tảng dịch thuật ngữ

Lý do dự án

Dự án đóng góp dịch thuật từ cộng đồng phổ biến nhất hiện nay Wikitionary có những nhược điểm sau:

  • Không có đất để giải thích tại sao thuật ngữ lại hợp lý cho lĩnh vực này, lại không hợp lý cho lĩnh vực khác
  • Không giải thích được tại sao thuật ngữ cũ lại không nên sử dụng
  • Và quan trọng nhất: không chú trọng đến việc thảo luận, bình chọn và giới thiệu các phiên bản dịch khác nhau

Dự án sẽ giúp người dùng dễ dàng khảo sát sự hình thành, phát triển và chấp nhận của thuật ngữ. Nếu bạn đã biết về các trang như Reddit hoặc Stack Exchange thì cách hoạt động cũng tương tự. Điều này các diễn đàn, nhóm Facebook vừa khó làm được vừa tản mát.

Workflow người dùng

  1. Tìm các cách dịch có sẵn, từ từ điển thông thường và các từ điển chuyên ngành khác
  2. Hiểu được nội dung của nó, rồi tạo ra thuật ngữ mới
  3. Lý giải tại sao nó lại phù hợp trong lĩnh vực X. Đưa ra ví dụ
  4. Cộng đồng bình chọn các đề cử tốt nhất

VD: Heuristics có thể dịch là mẹo vặt, lối tắt, kinh nghiệm dân gian, nhưng trong ngành khoa học nhận thức thì nó nên được dịch là gì? Tại sao?

Những lĩnh vực chuyên ngành liên quan

  • Kỹ thuật thư viện
  • Lập trình: quản lý cơ sở dữ liệu, thiết kế web
  • Ngôn ngữ học: từ điển học
  • Khoa học nhận thức
  • Community building
  • UX

Lộ trình

  1. Tìm hiểu kỹ hơn về Wikitionary, ProZ, Area 51 Stack Exchange xem có nhất thiết phải xây dựng mới hay không.
  2. Lập team
  3. Quảng bá

Hiện tại mình không có thời gian để làm chuyện này. Ai thấy ý tưởng hay cứ lấy tự nhiên. Nếu bạn lập nhóm thì mình cũng sẽ tham gia đóng góp.

Dự án khác

Bộ sưu tập từ điển chuyên ngành

Dự án dịch máy tranonet dành riêng cho tiếng Việt (theo quảng cáo là hơn cả Bing Translate, Google Translate trong việc dịch thuật ngữ chuyên ngành)
Xây dựng thuật ngữ và dùng trong phần mềm hỗ trợ nhóm dịch – ROSETTA’s site for Translations
Việt Hoá Thuật Ngữ
thuatngu
Dự án từ điển mở tiếng Việt – Open Vietnamese Dictionaries Project – Điện tử Việt Nam
http://www.vietlex.com/help/about_corpus.htm
Translations/Vietnamese – Launchpad Help
About Translator Toolkit – Translator Toolkit Help
Cần một dự án dịch thuật cấp quốc gia về nhân học

Cá trích đỏ

Cá trích đỏ trong toán học

Trong tranh luận thường ngày thì cá trích đỏ là dạng ngụy biện (vô tình hay cố ý) được đưa ra nhằm mục đích đánh lạc hướng. Ví dụ cho dạng ngụy biện này như sau: “Chúng ta nên nâng cao các tiêu chuẩn học tập cho sinh viên. Sở dĩ tôi đề xuất việc này là vì chúng ta đang gặp khủng hoảng tài chính, và anh không muốn điều này ảnh hưởng đến tiền lương của nhân viên chúng ta phải không?”. Vế thứ hai của câu rõ ràng không hề liên quan đến chủ đề tranh luận, nhưng mọi người sẽ bị cuốn vào nó mà không còn đoái hoài vì chủ đề ban đầu nữa.¹

Nhưng trong toán, cá trích đỏ là những khái niệm mà có thể chẳng đỏ cũng chẳng phải là cá trích². Ví dụ:

  • Đa tạp có biên không phải là đa tạp
  • Hàm đa trị thì không phải là hàm (nhưng hàm là một trường hợp đặc biệt của hàm đa trị)
  • Hình học phi giao hoán phải hiểu đúng là “hình học không nhất thiết phải giao hoán”, hoặc “hình học có khả năng không giao hoán”

Điều này thậm chí còn có thể dẫn tới những trường hợp mọi người đều hiểu tất cả cá trích đều là đỏ, mặc dù thực chất không phải con nào cũng đỏ. Lúc này, để tránh nhầm lẫn, mọi người sẽ dùng khái niệm “cá trích không đỏ” chỉ để chỉ… cá trích nói chung. Mà vì cá trích nói chung cũng có thể đỏ, nên “cá trích không đỏ”… cũng có thể đỏ.

Tại sao chuyện này lại xảy ra? Tôi nghĩ đó là do quá trình chú ý và ghi nhớ của người sử dụng. Lấy ví dụ về hình học không giao hoán: các trạng từ “nhất thiết phải” hoặc “có khả năng” đã bị lược bỏ khi người nói đang mải để ý đến những ý quan trọng hơn và cũng biết là người nghe cũng hiểu được ý mình. Lâu dần khái niệm chính xác bị rút ngắn lại và trở nên ổn định trong ngành. Nhưng điều này làm cho nó không còn quá chính xác.

Điều này làm tôi nhớ đến lập luận bạch mã phi mã (ngựa trắng không phải ngựa) của Công Tôn Long. Cũng không biết Derrida sẽ nói gì về chuyện này nhỉ?

Tham khảo:

  1. Cá trích đỏ – Wikipedia tiếng Việt
  2. red herring principle in nLab

Xem thêm:

Những tìm sâu triết học

Một quan điểm về loại bỏ từ Hán Việt trong tiếng Việt

Đây là quan điểm của dịch giả Nguyễn Đình Thắng, trích ở cuốn Những tìm sâu triết học của Wittgenstein, NXB Domino.

Những tìm sâu triết học của Wittgenstein: trò chơi ngôn ngữ với bản dịch Việt? – Người Đô Thị

Tại sao những sự bất tiện nhỏ, chứ không phải bức tường lớn, lại là thứ định hướng hành vi trên mạng?

Đây là một bài viết có thể hữu ích cho những ai đang quản lý một cộng đồng online. Nó giải thích tại sao khi xuất hiện một người có hành vi không tốt cho cộng đồng thì admin không nên làm căng ngay lập tức.

Nội dung:

  • Sự khác biệt giữa bất tiện nhỏ và bức tường lớn
  • Sự bất tiện nhỏ làm người ngoài cuộc không cảm thấy đây là chuyện liên quan tới mình
  • Sự bất tiện nhỏ làm cho người có hành vi xấu tự muốn dừng hoặc bỏ đi một cách tự nguyện
  • Sự bất tiện nhỏ làm cho phản ứng của họ dễ trở nên quá lố
  • Sự bất tiện nhỏ sẽ giảm sốc cho cộng đồng cho những thay đổi lớn
  • Sự bất tiện nhỏ dễ giải thích và linh hoạt hơn khi áp dụng

👉 Why Behavior Online Is Shaped by Small Inconveniences, Not Big Walls?

Local school children join Greta Thunberg's initiative on climate strike during the COP24 UN Climate Change Conference 2018 in Katowice

Não của bạn đã ngăn bạn xem việc biến đổi khí hậu là nghiêm trọng như thế nào?

Bài này siêu dài, nhưng rất đáng đọc. Tóm tắt:

Bộ não người đã mất gần 200.000 năm để tập trung vào hiện tại. “Tìm thức ăn. Kiếm chỗ ở. Giao phối!” Chúng ta mới chỉ bắt đầu suy tư về thời gian, và về tương lai, trong khoảng vài trăm năm trở lại đây.

  • Th ơ và không thy đáng tin (vì sao tin tức hằng ngày về gấu bắc cực không tạo ra mong muốn hành động)
  • Thiếu kiến thc (tại sao mọi người không biết cách sống cho hợp với môi trường)
  • Nhn thc (tại sao lại có quá ít xe điện)
  • o tưng và trì hoãn (tại sao lại mất quá nhiều thời gian để các chính trị gia hành động)
  • Đng lc bên trong (tại sao bạn vẫn có thể tạo ra sự khác biệt)

👉 How your brain stops you from taking climate change seriously

I see, therefore it is

Naïve realism và người sử dụng logic

Naïve realism là gì?

Trong tâm lý học xã hội, naïve realism là một xu hướng tin rằng ta những gì ta thấy ở thế giới xung quanh là khách quan và không thiên kiến, và thấy những ai bất đồng với mình là chưa hiểu rõ vấn đề, thiếu logic hoặc có thiên kiến. Nó được xem là một trong bốn khám phá quan trọng nhất trong ngành.

Ba yếu tố để tạo nên một naïve realist:

  • Tin rằng họ thấy thế giới một cách khách quan và không thiên kiến
  • Kỳ vọng những người khác cũng sẽ đi đến một kết luận tương tự, miễn là họ cũng được cung cấp cùng một lượng thông tin và diễn giải nó theo cách hợp lý
  • Giả định rằng những những không có cùng cách suy nghĩ như vậy là do thiếu thông tin, thiếu logic, hoặc có thiên kiến

Naïve realism và người sử dụng logic

Với định nghĩa của naïve realism ở trên, hai yếu tố dưới cùng là kết quả tất yếu của việc sử dụng logic. Câu hỏi đặt ra là: liệu yếu tố đầu tiên cũng là vậy hay không?

Theo hiểu biết của tôi, logic chỉ nghiên cứu về mi quan h gia các mnh đ, không phải chân trị của giả thiết. Ví dụ, nếu ta có tam đoạn luận sau:

Mọi con người đều là xe máy
Socrates là một con người
Socrates là một cái xe máy

Vậy thì logic chỉ xác nhận là kết luận phù hợp với giả thiết, chứ không nói là kết luận là một điều có thật. Ngay cả khi tiền đề “mọi con người đều là xe máy” là một kết quả khoa học, thì người sử dụng logic cũng luôn cần phải giả định là có khả năng nó sai.

Tuy nhiên, nếu họ đã kiểm tra tới kiểm tra lui tiền đề đó và thấy tiền đề đó không sai, thì họ buộc phải tin là kết luận của họ là khách quan và không thiên kiến. Điều này càng đúng hơn nữa trong trường hợp người sử dụng logic biết được những thiên kiến và bóp méo rất con người của mình, và đã làm hết mọi thứ để kiểm tra liệu mình có đang sai không. Cái niềm tin rằng họ khách quan và niềm tin rằng họ có thể sai không loại trừ nhau. Nếu họ là người có niềm tin vào các quy luật của logic, họ cũng cần có niềm tin rằng họ đang khách quan.

Nói cách khác, có 3 mệnh đề tồn tại song song với hệ mệnh đề cụ thể mà một người sử dụng logic cần phải xử lý:

  • A: Họ tuân thủ các quy luật logic (luật đồng nhất, luật mâu thuẫn, v.v.)
  • B: Họ biết rằng họ có thể sai
  • C: Họ khách quan và không thiên kiến

Tôi nghĩ rằng chỉ cần dùng A là đủ để kết luận C (hoặc thậm chí có thể A ⇔ C). B là một lớp lọc có thêm để chắc chắn rằng (a) A thực sự tồn tại, (b) các tiền đề của vấn đề cụ thể là chính xác, và (c) không một tiền đề ngầm nào chưa được nêu ra. Nhưng B lại làm người sử dụng logic thiếu tự tin khi họ cần đến nó nhất. Mệnh đề B làm cho A đáng tin hơn và làm C không đáng tin, mặc dù cả A và C thực chất là một. Và nếu một người đã có thể kết luận là họ có C, vậy thì theo định nghĩa, họ là một naïve realist.

Đọc thêm: Does following logic necessarily require one to conclude that they are objective and have no bias?

the_general_problem

Kinh nghiệm dịch: công cụ dịch

Software setup

Let’s say you have a 13” laptop screen. You will be quickly overload with the number of programs you need to open. The simplest way to manage screen estate is just buying a separate 19” screen. But if you can’t/don’t want to, the solution is to install a multi desktop program.

I use VirtualWin because it has these features:

  • Auto assigning programs to their appropriate desktop,
  • Lots of addons
  • A tray icon indicating which desktop I am

Here is how I set things up:

  • Desktop 1: source (PDF) and translation (Word) in half screen
  • Desktop 2: ‎References:
    • Browser: research, English word definition
    • Dictionaries:
    • Word:
    • PDF: 2 columns

Dùng windows + trái, phải để tách màn hình, giảm gián đoạn mạch suy nghĩ, giảm thao tác

Word vs CAT

At first, it seems that CAT is much better than Word for translation. I mean, if it’s not better, then why do people have to invent it? However, for non-technical translation, in which a term may have different translation options, each of them has different subtleties, then relying on term base or translation memory may not be appropriate. It is possible that for a same word within a same book you have to use different translations for it.
 

Disadvantages of Word over CAT:

  • No parallel scrolling between source and translation. This can be mitigated by writing a script
  • No track change, no record track change, no comment to read
  • No tags for printing

Disadvantages of CAT over Word:

  • Ultimately, you need to export the document to Word make use of comments and track changes
  • Term base and translation memory are not suitable when a single word needs to be re-translated every time
  • Segmentation breaks inter-paragraph flow (for texts whose meanings can change depending on its typography)

If you want to support open-source software, note that Writer has issues with footnotes in large documents though. I once lost a work because the format suddenly corrupted and couldn’t be opened.

But for technical works, I recommend using CAT over Word.

AutoHotKey

Dịch Việt Anh thì không ai bằng từ điển Việt Anh của Viện Ngôn ngữ học:

:*:vb::Run D:\Google Drive\Dictionaries\Tiếng Việt\Việt Anh.pdf

Dịch Anh Việt thì:

:*:vv::
InputBox, UserInput, WORD, Enter a WORD, , 200, 120
if not ErrorLevel
{
    ; remove first and last white spaces
    UserInput := trim(UserInput)
    ; replace all middle white spaces with +
    UserInput := StrReplace(UserInput, A_Space , "+", UserInput)
    Run, http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/ALL/%UserInput%.html
Run, https://www.macmillandictionary.com/dictionary/british/%UserInput%
Run, https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/%UserInput%
Run, https://www.ldoceonline.com/dictionary/%UserInput%
}
return

Google Hit Hider

Các từ điển dưới đây hoặc là dùng Google dịch, hoặc là copy của từ điển mở của Hồ Ngọc Đức. Tôi block hết cho nhẹ.

example.com
en.bab.la
vi.glosbe.com
glosbe.com
mymemory.translated.net
3.vndic.net
www.rung.vn
englishteststore.net
chiasekienthuc24h.com
tratu.soha.vn
dict.vietfun.com
www.indifferentlanguages.com
dict.laban.vn
vi.aliexpress.com
nghialagi.net
Makes+_94d9eb6eea3608124a1e9fe6b0e64f0e

Kinh nghiệm dịch: google thuật ngữ tiếng Việt

Đặt mình vào tư thế của người thầy dạy sinh viên, của người có kiến thức nhưng chỉ tạm thời quên

Đừng mong tìm được thuật ngữ tiếng Việt nếu không có filetype:pdf !!!

Từ điển Cồ Việt

Vào Wikipedia tiếng Anh → qua Wiki tiếng Trung → phiên âm sang từ Hán Việt

Nhiều khi thấy Google Translate hay Bing Translate cũng nghĩ ra nhiều từ thú vị phết. Không hẳn là nó dịch đúng, nhưng vì nó ngu ngu nên khơi mở được nhiều cách tiếp cận mới.

Dự án dịch máy tranonet dành riêng cho tiếng Việt (theo quảng cáo là hơn cả Bing Translate, Google Translate trong việc dịch thuật ngữ chuyên ngành)

Lục database

Dataset Search

Trung tâm Thông tin Tư liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Bộ sưu tập tài liệu tham khảo ảo – Thư viện trung tâm ĐHQG TP.HCM

Google Scholar

-inurl:htm -inurl:html intitle:"index of" "Last modified" mp4 "peppa pig"
:related :info $50..$100

intext:keyword 
site:reddit.com/r/opendirectories/

List of academic databases and search engines – Wikipedia

http://www.powersearchingwithgoogle.com

http://www.googleguide.com/advanced_operators_reference.html

Snoopsnoo

Các từ khóa để thêm vào sau từ mình cần tìm

Từ khóa chung

chuyên ngành

chương trình đào tạo

Đại cương, khái luận

Luận văn, luận án

Kỹ thuật (làm) pdf

Hướng dẫn sử dụng (hướng dẫn sử dụng của Toshiba hay có song ngữ dịch chuẩn)

List/checklist/outline

Từ khóa y học

Các bệnh viện lớn, bộ y tế, WHO

Dung nạp

dieutri.vn

Từ khóa tâm lý

https://trangtamly.blog/ (song ngữ)

tâm lý trị liệu | tủ sách tâm lý trị liệu

Từ khóa vệ tinh – vũ trụ

Trung tâm vệ tinh quốc gia

Trung tâm vũ trụ Việt Nam

Viện công nghệ vũ trụ: http://www.sti.vast.ac.vn/

http://spaceprogram.vast.vn/ket-qua-san-pham/85-sach-giao-trinh.html

ISS virtual tour: http://esamultimedia.esa.int/multimedia/virtual-tour-iss/

AutoHotKey

:*:pdff::filetype:pdf `{backspace}
:*:indexx::intitle:"index.of" -inurl:(html|htm|php|asp|jsp) type:(pdf|epub|mob)`
164d7426ad6b973d47c4ea5eec0d7baf

Tại sao không nên dùng ngực thay cho vú?

Đ vui: Đâu là s khác nhau gia con ln vi con heo?

Ngực là gì? Vú là gì?

Chúng ta hãy ôn tập lại kiến thức sinh học một chút. Đây là sự khác biệt giữa ngực và vú:

  • Ngực: khoang trống trong cơ thể để chứa tim phổi, nằm giữa cổ và bụng
  • : cơ quan bài tiết sữa

Ta có thể xét rộng vấn đề ra hơn để thấy cơ quan bài tiết sữa phải gọi là “vú” mới chính xác. Ta không thể nói “động vật có ngực”, “mèo có 6 ngực”, “cả ngực lấp miệng em”, “trái ngực sữa”, mà chỉ có thể nói “động vật có vú”, “mèo có 6 vú”, “cả vú lấp miệng em”, “trái vú sữa”. Việc có sự tương đồng giữa “vú” và “bú” cho thấy người ta chỉ có thể bú vú chứ không thể bú ngực. (Tương tự, sự tương đồng giữa “bú” và “bu” (nghĩa là “mẹ” ở một số địa phương) cho thấy bu là để chỉ người có khả năng cho bú.) Nghĩa là vú với ngực là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Nước sông không phạm nước giếng.

Tại sao không nên dùng từ “ngực” thay cho “vú”?

Trên thực tế thì mọi người lại hay dùng nước sông thay cho nước giếng: từ “ngực” thường xuyên được dùng để chỉ vú. Ví dụ như cuốn Cơ th& đi sng tình dc ca ph n (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) biên soạn) sử dụng “ngực” và “vú” song song với nhau:

Machine generated alternative text:
Néu quan såt båu nguc cüa ban trong guong, hoäc düng 
tay dé kiém tra bö_nguc cüa minh, ban sé thäy - cüng nhu däu 
van tay- khöng hé co hai gi6ng het nhau, vå khöng co 
'cap döi hoån håo". Hinh dang vå kich co cüa båu nguc cüng 
khåc nhau O möi nguöi, co ban 16n, co ban_nggc nhö, 
co nguc rän chäc, co nguc mém nhéo, cö_nguc khöng duqc min 
mäng. Bao nhiéu Phu nü lå bäy nhiéu bO_nggc khåc nhau. Hai 
vti cåa ban co th6 khöng gi6ng nhau vé kich thuOc vä hinh 
däng. CO nguöi co chia thång vé phia truOc, co nguöi co 
nxim—ui det, co nguöi co nxim-YAit thut våo trong. Quång vi lå 
vüng säm xung quanh co thé 16n, hoäc nhå, co thé måu 
sam hoäc måu nhat, vå thuöng co nhüng n6t nhö san du6i da. 
Nhüng n6t san nay lå nhüng tuyén bä nhön, tiét ra chät nhön dé 
båO ve-num-y-li trong thöri gian cho con bü. Döi khi phia ngoåi cüa 
quang vü co mot våi svi löng. Mét s6 Phu nü co båu nguc 16n hon 
hän so vöi nggc cüa nhüng Phu nü khåc.

Một số người sẽ xem chuyện này giống như bắt bẻ tiểu tiết, vì dùng thế nào mà chả được, miễn hiểu đúng ý nhau. Ví dụ, việc gọi cái ổ đĩa ngoài để chứa dữ liệu là cái USB là một cách gọi sai, vì USB chỉ là cái cổng kết nối mà thôi. Nhưng vì cái ổ đĩa ngoài đó sử dụng cổng USB để kết nối, nên mọi người quen gọi nó là USB luôn. Nói cách khác, từ “USB” đã trở thành từ đng nghĩa khác âm với từ “ổ đĩa ngoài”, như kiểu “con lợn” là từ đồng nghĩa khác âm với “con heo” vậy. Và vì chuyện này không gây ra hệ lụy nào, nên đây chỉ là sự phát triển bình thường của ngôn ngữ.

Bản thân từ “USB” lúc này trở thành một t đa nghĩa.

Nhưng trong trường hợp “vú” và “ngực”, có những người thực sự sợ phải dùng từ “vú” đến độ nhất quyết gọi nó là “ngực”. Vào các bệnh viện lớn như 175, bạn sẽ thấy lâu lâu có một cô hỏi là muốn đi khám ngực, xong nhân viên hỏi lại là “cô muốn khám vú đúng không?”, thì cô sẽ trả lại là “ừ, là khám ngực đó”. Tức là cô muốn khám vú, nhưng nhất quyết gọi nó là ngực. Việc này gây ra phiền toái, vì đi khám ngực sẽ vào một khoa khác, và khám vú sẽ vào khoa khác. Việc gọi ngực là ngực và vú là vú quan trọng như vậy đó.

Điều này khiến cho việc gọi vú là ngực khác với chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB, vì không ai sợ cái ổ đĩa ngoài và né tránh gọi cái tên đúng của nó cả. Ai biết thì dùng cho đúng thôi.

Đồng ý rằng vú thì không phải như chân hay tay để mà nói chuyện bình thường. Những thứ liên quan tới bộ phận sinh dục hoặc tình dục luôn là những thứ nhạy cảm, và những gì nhạy cảm sẽ được thay thế bằng các uyển ngữ. Chuyện tạo uyển ngữ trong một chừng mực nào đó thể hiện khả năng xử lý ngôn ngữ và sự nhạy cảm với cảm xúc của người khác của bạn. Tuy nhiên về lâu dài sẽ vô tình làm sự xấu hổ về từ “vú” không thể hết được. Việc đối diện với nỗi sợ bắt đầu từ việc dám gọi tên nỗi sợ đó ra – nỗi sợ vú. Hay nói như Yoda trong Star Wars thì: “Named must your fear be before banish it you can”.

Có người sẽ đặt vấn đề: bộ phận trên cơ thể người phụ nữ nên để người phụ nữ có quyền phán quyết, ít nhất là ở việc được gọi nó như thế nào. Ở đây tôi cũng không ép buộc ai phải gọi như thế nào. Một lần nữa tôi hiểu rằng có những lý do rất chính đáng để không gọi vú là vú. Ở đây tôi chỉ đang đặt câu hỏi là: liệu việc gọi nó là “ngực” có thực sự nên hay không? Liệu ta có cần phải mãi ngại với nhau hay không? Tại sao không thể thẳng thắn gọi đúng tên của nó?

Đây cũng là một ví dụ cho một hiện tượng: có những vấn đề bạn cảm thấy không ổn, nhưng càng nghĩ về nó thì bạn càng thấy nó là điều bình thường. Một mặt, bạn thấy rằng việc gọi vú là ngực giống hoàn toàn như chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB. Mặt khác, bạn cũng thấy việc xem nó không khác gì gọi cái ổ đĩa ngoài là USB như đang dung dưỡng nỗi sợ vú. Bạn muốn lên tiếng phản đối nó, nhưng bạn tự nhận ra sự vô lý của mình. Nhưng điều đó vẫn không làm bạn thấy yên tâm hơn. Bạn muốn chỉ ra (pinpoint) chân tướng của vấn đề, nhưng tất cả những gì bạn có thể miêu tả được vẫn mãi không trọn vẹn. Sau một thời gian bạn bỗng nhận ra có một bức tường vô hình giữa bạn với giải pháp, mà mỗi lần bạn định phá nó đi thì nó lại lẩn đi đâu mất.

Một tham vọng của tôi là nêu lên được bản chất của bức tường này. Đây là các bài viết khác trong blog tìm cách miêu tả nó:

Một suy nghĩ về lập trình ngôn ngữ tư duy (NLP)

Trong một bài dịch về NLP có viết:

Họ (những người xây dựng NLP) tuyên bố là bằng cách thách thức các biến thể ngôn ngữ (linguistic distortions), chỉ định khái quát hóa và khôi phục thông tin đã bị xóa trong biểu hiện/lời nói của khách hàng/thân chủ, các khái niệm ngữ pháp chuyển đổi của cấu trúc bề mặt mang lại sự thể hiện đầy đủ hơn về cấu trúc sâu bên dưới và do đó có khả năng trị liệu lợi ích.

Cụ thể những người theo NLP đã làm điều này như thế nào? Có ai có thể đưa ra được ví dụ về các biến dạng ngôn ngữ này không? (Mình dịch là biến dạng cho đúng với từ distortion, không phải biến thể (variation)). Mình cho là điều này liên quan đến tâm lý học ngôn ngữ (hoặc ngôn ngữ học tâm lý), cụ thể ở đây là các ngành nhỏ: ngữ nghĩa học (semantics), cú pháp học (syntactics), và ngữ dụng học (pragmatics). Vậy có ai có những cập nhật mới về ngành học này chưa?

Mình hỏi câu này vì quả thật, để có thể thay đổi niềm tin của người khác (ở đây là thân chủ), thì cần tra vấn lại niềm tin đó (phương pháp của Beck/Socrates). Mình đoán là phương pháp trị liệu nào, cho dù không thuộc họ CBT, cũng liên quan tới chuyện này. Mà bản thân việc tra vấn đó đòi hỏi thân chủ phải nhớ lại được những gì họ đã từng quan niệm (khôi phục lại thông tin đã bị xóa), và việc làm đó sẽ tái định nghĩa lại những gì họ đã từng nghĩ (thay đổi cấu trúc ngữ pháp). Nghĩa là đúng với cái đoạn mình trích ra.

Ví dụ

Mình sẽ minh họa điều này qua bộ phim Ratatouille, cụ thể là ở cảnh Ego viết bài phê bình cuối cùng. Tóm tắt nội dung cho những ai chưa xem phim: Gusteau là một đầu bếp nổi tiếng với khẩu hiệu: “Ai cũng có thể nấu ăn”. Ego, một nhà phê bình thực phẩm, cực kỳ phản đối câu này, với lý do: ẩm thực là một bộ môn nghệ thuật đòi hỏi nhiều tài năng và thiên phú, và rõ ràng không phải ai cũng có tài.

Khi Ego bị chinh phục và viết bài phê bình, ông ấy viết thế này:

Tối qua, tôi đã có một trải nghiệm mới mẻ, một bữa ăn ngoài sức tưởng tượng đến từ một nguồn gốc kì quặc không thể nào ngờ được. Nói rằng cả bữa ăn và người làm ra nó đã thách thức những quan niệm trước đây của tôi về việc nấu ăn ngon là còn chưa đủ xứng tầm. Phải nói là cả hai đã làm tôi chấn động đến tận tâm can. Trong quá khứ, tôi không hề giấu diếm sự xem thường của tôi đối với khẩu hiệu nổi tiếng của Bếp Trưởng Gusteau: “Ai cũng có thể nấu ăn.” Nhưng tôi nhận ra rằng, chỉ lúc này đây tôi mới thực sự hiểu được ý của ông ấy. Không phải tất cả mọi người đều có thể trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng một nghệ sĩ lớn có thể đến từ bất cứ đâu. Thật khó để tưởng tượng nguồn gốc khiêm tốn của thiên tài đang nấu ăn tại nhà hàng của Gusteau, người mà, theo quan điểm của kẻ phê bình này, hoàn toàn xứng đáng là đầu bếp danh giá nhất nước Pháp. Tôi sẽ sớm trở lại nhà hàng của Gusteau, nóng lòng được ăn thêm.

Phân tích: Để Ego có thể nhận ra ý nghĩa thật sự của câu Ai cũng có thể nấu ăn, Ego đã phải tái định nghĩa lại toàn bộ những gì ông ấy đã quan niệm trước đây. Cái câu đó khi Ego lần đầu tiên nghe, nó đã không còn mang nghĩa gốc mà Gusteau nói, mà đã được khoác lên mình một cách hiểu hoàn toàn khác. Nói cách khác, nó đã bị biến nghĩa. Ego phải tự mình tìm cách đảo lại nghĩa của nó thì mới nhận ra được ý nghĩa gốc ban đầu.

Tại sao nó lại bị biến nghĩa? Vì bản thân Gusteau cũng không nói rõ ràng. Ý của ông ấy là Ai (dù xuất thân tầm thường đến mấy) cũng có thể nấu ăn, chứ không phải là Ai (dù khả năng nấu tệ đến mấy) cũng có thể nấu ăn. Nhưng do não chỉ có thể lưu được 3 đến 4 thông tin trong trí nhớ ngắn hạn, nên để phù hợp với việc lưu trữ và xử lý, cả cụm dài loằng ngoằng Ai dù xuất thân tầm thường đến mấy cũng có thể nấu ăn sẽ phải rút gọn thành Ai cũng có thể nấu ăn. Nhưng dưới lớp vỏ ngôn ngữ đó, khi được lôi ra xài lại, nó lại dễ bị hiểu thành Ai dù khả năng nấu tệ đến mấy cũng có thể nấu ăn. Cần phải hiển ngôn được cái ý ẩn đó thì người nghe mới không hiểu nhầm được. Nhưng điều đó là bất khả. Ngay từ đầu cái ý đó buộc phải bị loại khỏi câu để não có thể lưu trữ và xử lý nó.

Bạn nào muốn đọc cả bài có thể đọc ở đây: Ratatouille – những góc nhìn chưa từng có