I see, therefore it is

Naïve realism và người sử dụng logic

Naïve realism là gì?

Trong tâm lý học xã hội, naïve realism là một xu hướng tin rằng ta những gì ta thấy ở thế giới xung quanh là khách quan và không thiên kiến, và thấy những ai bất đồng với mình là chưa hiểu rõ vấn đề, thiếu logic hoặc có thiên kiến. Nó được xem là một trong bốn khám phá quan trọng nhất trong ngành.

Ba yếu tố để tạo nên một naïve realist:

  • Tin rằng họ thấy thế giới một cách khách quan và không thiên kiến
  • Kỳ vọng những người khác cũng sẽ đi đến một kết luận tương tự, miễn là họ cũng được cung cấp cùng một lượng thông tin và diễn giải nó theo cách hợp lý
  • Giả định rằng những những không có cùng cách suy nghĩ như vậy là do thiếu thông tin, thiếu logic, hoặc có thiên kiến

Naïve realism và người sử dụng logic

Với định nghĩa của naïve realism ở trên, hai yếu tố dưới cùng là kết quả tất yếu của việc sử dụng logic. Câu hỏi đặt ra là: liệu yếu tố đầu tiên cũng là vậy hay không?

Theo hiểu biết của tôi, logic chỉ nghiên cứu về mi quan h gia các mnh đ, không phải chân trị của giả thiết. Ví dụ, nếu ta có tam đoạn luận sau:

Mọi con người đều là xe máy
Socrates là một con người
Socrates là một cái xe máy

Vậy thì logic chỉ xác nhận là kết luận phù hợp với giả thiết, chứ không nói là kết luận là một điều có thật. Ngay cả khi tiền đề “mọi con người đều là xe máy” là một kết quả khoa học, thì người sử dụng logic cũng luôn cần phải giả định là có khả năng nó sai.

Tuy nhiên, nếu họ đã kiểm tra tới kiểm tra lui tiền đề đó và thấy tiền đề đó không sai, thì họ buộc phải tin là kết luận của họ là khách quan và không thiên kiến. Điều này càng đúng hơn nữa trong trường hợp người sử dụng logic biết được những thiên kiến và bóp méo rất con người của mình, và đã làm hết mọi thứ để kiểm tra liệu mình có đang sai không. Cái niềm tin rằng họ khách quan và niềm tin rằng họ có thể sai không loại trừ nhau. Nếu họ là người có niềm tin vào các quy luật của logic, họ cũng cần có niềm tin rằng họ đang khách quan.

Nói cách khác, có 3 mệnh đề tồn tại song song với hệ mệnh đề cụ thể mà một người sử dụng logic cần phải xử lý:

  • A: Họ tuân thủ các quy luật logic (luật đồng nhất, luật mâu thuẫn, v.v.)
  • B: Họ biết rằng họ có thể sai
  • C: Họ khách quan và không thiên kiến

Tôi nghĩ rằng chỉ cần dùng A là đủ để kết luận C (hoặc thậm chí có thể A ⇔ C). B là một lớp lọc có thêm để chắc chắn rằng (a) A thực sự tồn tại, (b) các tiền đề của vấn đề cụ thể là chính xác, và (c) không một tiền đề ngầm nào chưa được nêu ra. Nhưng B lại làm người sử dụng logic thiếu tự tin khi họ cần đến nó nhất. Mệnh đề B làm cho A đáng tin hơn và làm C không đáng tin, mặc dù cả A và C thực chất là một. Và nếu một người đã có thể kết luận là họ có C, vậy thì theo định nghĩa, họ là một naïve realist.

Đọc thêm: Does following logic necessarily require one to conclude that they are objective and have no bias?

Kinh nghiệm dịch: công cụ dịch

Software setup

Let’s say you have a 13” laptop screen. You will be quickly overload with the number of programs you need to open. The simplest way to manage screen estate is just buying a separate 19” screen. But if you can’t/don’t want to, the solution is to install a multi desktop program.

I use VirtualWin because it has these features:

  • Auto assigning programs to their appropriate desktop,
  • Lots of addons
  • A tray icon indicating which desktop I am

Here is how I set things up:

  • Desktop 1: source (PDF) and translation (Word) in half screen
  • Desktop 2: ‎References:
    • Browser: research, English word definition
    • Dictionaries:
    • Word:
    • PDF: 2 columns

Dùng windows + trái, phải để tách màn hình, giảm gián đoạn mạch suy nghĩ, giảm thao tác

Word vs CAT

At first, it seems that CAT is much better than Word for translation. I mean, if it’s not better, then why do people have to invent it? However, for non-technical translation, in which a term may have different translation options, each of them has different subtleties, then relying on term base or translation memory may not be appropriate. It is possible that for a same word within a same book you have to use different translations for it.
 

Disadvantages of Word over CAT:

  • No parallel scrolling between source and translation. This can be mitigated by writing a script
  • No track change, no record track change, no comment to read
  • No tags for printing

Disadvantages of CAT over Word:

  • Ultimately, you need to export the document to Word make use of comments and track changes
  • Term base and translation memory are not suitable when a single word needs to be re-translated every time
  • Segmentation breaks inter-paragraph flow (for texts whose meanings can change depending on its typography)

If you want to support open-source software, note that Writer has issues with footnotes in large documents though. I once lost a work because the format suddenly corrupted and couldn’t be opened.

But for technical works, I recommend using CAT over Word.

AutoHotKey

Dịch Việt Anh thì không ai bằng từ điển Việt Anh của Viện Ngôn ngữ học:

:*:vb::Run D:\Google Drive\Dictionaries\Tiếng Việt\Việt Anh.pdf

Dịch Anh Việt thì:

:*:vv::
InputBox, UserInput, WORD, Enter a WORD, , 200, 120
if not ErrorLevel
{
    ; remove first and last white spaces
    UserInput := trim(UserInput)
    ; replace all middle white spaces with +
    UserInput := StrReplace(UserInput, A_Space , "+", UserInput)
    Run, http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/ALL/%UserInput%.html
Run, https://www.macmillandictionary.com/dictionary/british/%UserInput%
Run, https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/%UserInput%
Run, https://www.ldoceonline.com/dictionary/%UserInput%
}
return

Google Hit Hider

Các từ điển dưới đây hoặc là dùng Google dịch, hoặc là copy của từ điển mở của Hồ Ngọc Đức. Tôi block hết cho nhẹ.

example.com
en.bab.la
vi.glosbe.com
glosbe.com
mymemory.translated.net
3.vndic.net
www.rung.vn
englishteststore.net
chiasekienthuc24h.com
tratu.soha.vn
dict.vietfun.com
www.indifferentlanguages.com
dict.laban.vn
vi.aliexpress.com
nghialagi.net

Kinh nghiệm dịch: google thuật ngữ tiếng Việt

Đặt mình vào tư thế của người thầy dạy sinh viên, của người có kiến thức nhưng chỉ tạm thời quên

Đừng mong tìm được thuật ngữ tiếng Việt nếu không có filetype:pdf !!!

Từ điển Cồ Việt

Vào Wikipedia tiếng Anh → qua Wiki tiếng Trung → phiên âm sang từ Hán Việt

Nhiều khi thấy Google Translate hay Bing Translate cũng nghĩ ra nhiều từ thú vị phết. Không hẳn là nó dịch đúng, nhưng vì nó ngu ngu nên khơi mở được nhiều cách tiếp cận mới.

Dự án dịch máy tranonet dành riêng cho tiếng Việt (theo quảng cáo là hơn cả Bing Translate, Google Translate trong việc dịch thuật ngữ chuyên ngành)

Lục database

Dataset Search

Trung tâm Thông tin Tư liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Bộ sưu tập tài liệu tham khảo ảo – Thư viện trung tâm ĐHQG TP.HCM

Google Scholar

-inurl:htm -inurl:html intitle:"index of" "Last modified" mp4 "peppa pig"
:related :info $50..$100

intext:keyword 
site:reddit.com/r/opendirectories/

List of academic databases and search engines – Wikipedia

http://www.powersearchingwithgoogle.com

http://www.googleguide.com/advanced_operators_reference.html

Snoopsnoo

Các từ khóa để thêm vào sau từ mình cần tìm

Từ khóa chung

chuyên ngành

chương trình đào tạo

Đại cương, khái luận

Luận văn, luận án

Kỹ thuật (làm) pdf

Hướng dẫn sử dụng (hướng dẫn sử dụng của Toshiba hay có song ngữ dịch chuẩn)

List/checklist/outline

Từ khóa y học

Các bệnh viện lớn, bộ y tế, WHO

Dung nạp

dieutri.vn

Từ khóa tâm lý

https://trangtamly.blog/ (song ngữ)

tâm lý trị liệu | tủ sách tâm lý trị liệu

Từ khóa vệ tinh – vũ trụ

Trung tâm vệ tinh quốc gia

Trung tâm vũ trụ Việt Nam

Viện công nghệ vũ trụ: http://www.sti.vast.ac.vn/

http://spaceprogram.vast.vn/ket-qua-san-pham/85-sach-giao-trinh.html

ISS virtual tour: http://esamultimedia.esa.int/multimedia/virtual-tour-iss/

AutoHotKey

:*:pdff::filetype:pdf `{backspace}
:*:indexx::intitle:"index.of" -inurl:(html|htm|php|asp|jsp) type:(pdf|epub|mob)`
164d7426ad6b973d47c4ea5eec0d7baf

Tại sao không nên dùng ngực thay cho vú?

Đ vui: Đâu là s khác nhau gia con ln vi con heo?

Ngực là gì? Vú là gì?

Chúng ta hãy ôn tập lại kiến thức sinh học một chút. Đây là sự khác biệt giữa ngực và vú:

  • Ngực: khoang trống trong cơ thể để chứa tim phổi, nằm giữa cổ và bụng
  • : cơ quan bài tiết sữa

Ta có thể xét rộng vấn đề ra hơn để thấy cơ quan bài tiết sữa phải gọi là “vú” mới chính xác. Ta không thể nói “động vật có ngực”, “mèo có 6 ngực”, “cả ngực lấp miệng em”, “trái ngực sữa”, mà chỉ có thể nói “động vật có vú”, “mèo có 6 vú”, “cả vú lấp miệng em”, “trái vú sữa”. Việc có sự tương đồng giữa “vú” và “bú” cho thấy người ta chỉ có thể bú vú chứ không thể bú ngực. (Tương tự, sự tương đồng giữa “bú” và “bu” (nghĩa là “mẹ” ở một số địa phương) cho thấy bu là để chỉ người có khả năng cho bú.) Nghĩa là vú với ngực là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Nước sông không phạm nước giếng.

Tại sao không nên dùng từ “ngực” thay cho “vú”?

Trên thực tế thì mọi người lại hay dùng nước sông thay cho nước giếng: từ “ngực” thường xuyên được dùng để chỉ vú. Ví dụ như cuốn Cơ th& đi sng tình dc ca ph n (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) biên soạn) sử dụng “ngực” và “vú” song song với nhau:

Machine generated alternative text:
Néu quan såt båu nguc cüa ban trong guong, hoäc düng 
tay dé kiém tra bö_nguc cüa minh, ban sé thäy - cüng nhu däu 
van tay- khöng hé co hai gi6ng het nhau, vå khöng co 
'cap döi hoån håo". Hinh dang vå kich co cüa båu nguc cüng 
khåc nhau O möi nguöi, co ban 16n, co ban_nggc nhö, 
co nguc rän chäc, co nguc mém nhéo, cö_nguc khöng duqc min 
mäng. Bao nhiéu Phu nü lå bäy nhiéu bO_nggc khåc nhau. Hai 
vti cåa ban co th6 khöng gi6ng nhau vé kich thuOc vä hinh 
däng. CO nguöi co chia thång vé phia truOc, co nguöi co 
nxim—ui det, co nguöi co nxim-YAit thut våo trong. Quång vi lå 
vüng säm xung quanh co thé 16n, hoäc nhå, co thé måu 
sam hoäc måu nhat, vå thuöng co nhüng n6t nhö san du6i da. 
Nhüng n6t san nay lå nhüng tuyén bä nhön, tiét ra chät nhön dé 
båO ve-num-y-li trong thöri gian cho con bü. Döi khi phia ngoåi cüa 
quang vü co mot våi svi löng. Mét s6 Phu nü co båu nguc 16n hon 
hän so vöi nggc cüa nhüng Phu nü khåc.

Một số người sẽ xem chuyện này giống như bắt bẻ tiểu tiết, vì dùng thế nào mà chả được, miễn hiểu đúng ý nhau. Ví dụ, việc gọi cái ổ đĩa ngoài để chứa dữ liệu là cái USB là một cách gọi sai, vì USB chỉ là cái cổng kết nối mà thôi. Nhưng vì cái ổ đĩa ngoài đó sử dụng cổng USB để kết nối, nên mọi người quen gọi nó là USB luôn. Nói cách khác, từ “USB” đã trở thành từ đng nghĩa khác âm với từ “ổ đĩa ngoài”, như kiểu “con lợn” là từ đồng nghĩa khác âm với “con heo” vậy. Và vì chuyện này không gây ra hệ lụy nào, nên đây chỉ là sự phát triển bình thường của ngôn ngữ.

Bản thân từ “USB” lúc này trở thành một t đa nghĩa.

Nhưng trong trường hợp “vú” và “ngực”, có những người thực sự sợ phải dùng từ “vú” đến độ nhất quyết gọi nó là “ngực”. Vào các bệnh viện lớn như 175, bạn sẽ thấy lâu lâu có một cô hỏi là muốn đi khám ngực, xong nhân viên hỏi lại là “cô muốn khám vú đúng không?”, thì cô sẽ trả lại là “ừ, là khám ngực đó”. Tức là cô muốn khám vú, nhưng nhất quyết gọi nó là ngực. Việc này gây ra phiền toái, vì đi khám ngực sẽ vào một khoa khác, và khám vú sẽ vào khoa khác. Việc gọi ngực là ngực và vú là vú quan trọng như vậy đó.

Điều này khiến cho việc gọi vú là ngực khác với chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB, vì không ai sợ cái ổ đĩa ngoài và né tránh gọi cái tên đúng của nó cả. Ai biết thì dùng cho đúng thôi.

Đồng ý rằng vú thì không phải như chân hay tay để mà nói chuyện bình thường. Những thứ liên quan tới bộ phận sinh dục hoặc tình dục luôn là những thứ nhạy cảm, và những gì nhạy cảm sẽ được thay thế bằng các uyển ngữ. Chuyện tạo uyển ngữ trong một chừng mực nào đó thể hiện khả năng xử lý ngôn ngữ và sự nhạy cảm với cảm xúc của người khác của bạn. Tuy nhiên về lâu dài sẽ vô tình làm sự xấu hổ về từ “vú” không thể hết được. Việc đối diện với nỗi sợ bắt đầu từ việc dám gọi tên nỗi sợ đó ra – nỗi sợ vú. Hay nói như Yoda trong Star Wars thì: “Named must your fear be before banish it you can”.

Đây cũng là một ví dụ cho một hiện tượng: có những vấn đề bạn cảm thấy không ổn, nhưng càng nghĩ về nó thì bạn càng thấy nó là điều bình thường. Một mặt, bạn thấy rằng việc gọi vú là ngực giống hoàn toàn như chuyện gọi cái ổ đĩa ngoài là USB. Mặt khác, bạn cũng thấy việc xem nó không khác gì gọi cái ổ đĩa ngoài là USB như đang dung dưỡng nỗi sợ vú. Bạn muốn lên tiếng phản đối nó, nhưng bạn tự nhận ra sự vô lý của mình. Nhưng điều đó vẫn không làm bạn thấy yên tâm hơn. Bạn muốn chỉ ra (pinpoint) chân tướng của vấn đề, nhưng tất cả những gì bạn có thể miêu tả được vẫn mãi không trọn vẹn. Sau một thời gian bạn bỗng nhận ra có một bức tường vô hình giữa bạn với giải pháp, mà mỗi lần bạn định phá nó đi thì nó lại lẩn đi đâu mất.

Một tham vọng của tôi là nêu lên được bản chất của bức tường này. Đây là các bài viết khác trong blog tìm cách miêu tả nó:

Một suy nghĩ về lập trình ngôn ngữ tư duy (NLP)

Trong một bài dịch về NLP có viết:

Họ (những người xây dựng NLP) tuyên bố là bằng cách thách thức các biến thể ngôn ngữ (linguistic distortions), chỉ định khái quát hóa và khôi phục thông tin đã bị xóa trong biểu hiện/lời nói của khách hàng/thân chủ, các khái niệm ngữ pháp chuyển đổi của cấu trúc bề mặt mang lại sự thể hiện đầy đủ hơn về cấu trúc sâu bên dưới và do đó có khả năng trị liệu lợi ích.

Cụ thể những người theo NLP đã làm điều này như thế nào? Có ai có thể đưa ra được ví dụ về các biến dạng ngôn ngữ này không? (Mình dịch là biến dạng cho đúng với từ distortion, không phải biến thể (variation)). Mình cho là điều này liên quan đến tâm lý học ngôn ngữ (hoặc ngôn ngữ học tâm lý), cụ thể ở đây là các ngành nhỏ: ngữ nghĩa học (semantics), cú pháp học (syntactics), và ngữ dụng học (pragmatics). Vậy có ai có những cập nhật mới về ngành học này chưa?

Mình hỏi câu này vì quả thật, để có thể thay đổi niềm tin của người khác (ở đây là thân chủ), thì cần tra vấn lại niềm tin đó (phương pháp của Beck/Socrates). Mình đoán là phương pháp trị liệu nào, cho dù không thuộc họ CBT, cũng liên quan tới chuyện này. Mà bản thân việc tra vấn đó đòi hỏi thân chủ phải nhớ lại được những gì họ đã từng quan niệm (khôi phục lại thông tin đã bị xóa), và việc làm đó sẽ tái định nghĩa lại những gì họ đã từng nghĩ (thay đổi cấu trúc ngữ pháp). Nghĩa là đúng với cái đoạn mình trích ra.

Ví dụ

Mình sẽ minh họa điều này qua bộ phim Ratatouille, cụ thể là ở cảnh Ego viết bài phê bình cuối cùng. Tóm tắt nội dung cho những ai chưa xem phim: Gusteau là một đầu bếp nổi tiếng với khẩu hiệu: “Ai cũng có thể nấu ăn”. Ego, một nhà phê bình thực phẩm, cực kỳ phản đối câu này, với lý do: ẩm thực là một bộ môn nghệ thuật đòi hỏi nhiều tài năng và thiên phú, và rõ ràng không phải ai cũng có tài.

Khi Ego bị chinh phục và viết bài phê bình, ông ấy viết thế này:

Tối qua, tôi đã có một trải nghiệm mới mẻ, một bữa ăn ngoài sức tưởng tượng đến từ một nguồn gốc kì quặc không thể nào ngờ được. Nói rằng cả bữa ăn và người làm ra nó đã thách thức những quan niệm trước đây của tôi về việc nấu ăn ngon là còn chưa đủ xứng tầm. Phải nói là cả hai đã làm tôi chấn động đến tận tâm can. Trong quá khứ, tôi không hề giấu diếm sự xem thường của tôi đối với khẩu hiệu nổi tiếng của Bếp Trưởng Gusteau: “Ai cũng có thể nấu ăn.” Nhưng tôi nhận ra rằng, chỉ lúc này đây tôi mới thực sự hiểu được ý của ông ấy. Không phải tất cả mọi người đều có thể trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng một nghệ sĩ lớn có thể đến từ bất cứ đâu. Thật khó để tưởng tượng nguồn gốc khiêm tốn của thiên tài đang nấu ăn tại nhà hàng của Gusteau, người mà, theo quan điểm của kẻ phê bình này, hoàn toàn xứng đáng là đầu bếp danh giá nhất nước Pháp. Tôi sẽ sớm trở lại nhà hàng của Gusteau, nóng lòng được ăn thêm.

Phân tích: Để Ego có thể nhận ra ý nghĩa thật sự của câu Ai cũng có thể nấu ăn, Ego đã phải tái định nghĩa lại toàn bộ những gì ông ấy đã quan niệm trước đây. Cái câu đó khi Ego lần đầu tiên nghe, nó đã không còn mang nghĩa gốc mà Gusteau nói, mà đã được khoác lên mình một cách hiểu hoàn toàn khác. Nói cách khác, nó đã bị biến nghĩa. Ego phải tự mình tìm cách đảo lại nghĩa của nó thì mới nhận ra được ý nghĩa gốc ban đầu.

Tại sao nó lại bị biến nghĩa? Vì bản thân Gusteau cũng không nói rõ ràng. Ý của ông ấy là Ai (dù xuất thân tầm thường đến mấy) cũng có thể nấu ăn, chứ không phải là Ai (dù khả năng nấu tệ đến mấy) cũng có thể nấu ăn. Nhưng do não chỉ có thể lưu được 3 đến 4 thông tin trong trí nhớ ngắn hạn, nên để phù hợp với việc lưu trữ và xử lý, cả cụm dài loằng ngoằng Ai dù xuất thân tầm thường đến mấy cũng có thể nấu ăn sẽ phải rút gọn thành Ai cũng có thể nấu ăn. Nhưng dưới lớp vỏ ngôn ngữ đó, khi được lôi ra xài lại, nó lại dễ bị hiểu thành Ai dù khả năng nấu tệ đến mấy cũng có thể nấu ăn. Cần phải hiển ngôn được cái ý ẩn đó thì người nghe mới không hiểu nhầm được. Nhưng điều đó là bất khả. Ngay từ đầu cái ý đó buộc phải bị loại khỏi câu để não có thể lưu trữ và xử lý nó.

Bạn nào muốn đọc cả bài có thể đọc ở đây: Ratatouille – những góc nhìn chưa từng có

Lip sync character mouth animation. Lips sound pronunciation cha

Chìa khóa học cách phát âm

Mọi người thường hay đồn rằng ta không thể học để có được giọng chuẩn nếu bạn bắt đầu học sau 7 tuổi, hoặc 12 tuổi, hoặc một độ tuổi nhất định nào đó. Nhưng điều này rõ ràng là không đúng. Các ca sĩ và diễn viên học cách phát âm giọng mới suốt đấy thôi, mà thường thì họ cũng không thông minh hơn ai cả (và khá chắc chắn là không phải tất cả bọn họ đều bắt đầu học trước 7 tuổi).

Vậy chuyện gì đang diễn ra ở đây? Tại sao ai cũng nói là bạn không thể học được cách phát âm tốt khi trưởng thành? Và nếu điều này không đúng, vậy thì cái gì mới đúng?

Trong bài này, chúng ta sẽ dạo một vòng quanh các nghiên cứu về sự nhận dạng giọng nói và phát âm, và chúng ta sẽ bàn về việc học phát âm một cách hiệu quả khi đã trưởng thành. Nhưng trước hết, hãy cho tôi được phép dài dòng một tí:

Sự quan trọng của phát âm

Đây là một chủ đề lớn, và với tư cách là một ca sỹ, đây là một chủ đề vô cùng gần gũi với tôi. Đối với tôi, giọng là một thứ đặc biệt quan trọng.

Với cá nhân tôi, nếu bạn không học cách nghe được âm thanh của một ngôn ngữ mới, bạn sẽ tốn nhiều thời gian để vật vã nhớ nó. Chúng ta dựa vào âm thanh để hình thành trí nhớ về từ, và nếu bạn thậm chí còn không phân biệt nổi các âm thanh mà bạn nghe, bạn đã gặp bất lợi ngay từ đầu. (Thử nhớ hai từ Hungary này xem: máy ảnh – fényképezőgépga xe lửa – vásutállomás. Hai từ này nghe thật kinh dị cho đến khi bạn có một chút cảm giác về tiếng Hung.)

Nhưng bên cạnh vấn đề trí nhớ ra, một giọng phát âm tốt còn làm tăng sự kết nối giữa bạn và người khác. Nó cho những người từ một nền văn hóa khác thấy là bạn không chỉ dành thời gian và công sức để học từ vựng và ngữ pháp của họ, mà còn dành thời gian để học cách họ di chuyển miệng, môi và lưỡi. Bạn biến đổi một thứ gì đó trên cơ thể bạn vì họ – bạn cho họ thấy rằng bạn quan tâm tới họ – và chính vì vậy họ sẽ mở lòng vì bạn.

Tôi đã thấy chuyện này nhiều lần khi tôi đi hát hoặc xem biểu diễn tại Châu Âu. Cứ như là một quy luật, bình thường thì khán giả cũng dễ thương, nhưng hễ mà bạn hát bằng tiếng mẹ đẻ của họ, họ lại chuẩn bị lên tinh thần. Họ chuẩn bị sẵn tư thế để mỉm cười lịch sự rồi khen “Quả là một giọng hát đáng yêu!” hay “Giai điệu thật là đẹp!” Nhưng đằng sau vẻ lịch sự ấy, họ đang sẵn sàng chờ chứng kiến cảnh bạn băm vằm ngôn ngữ và di sản của họ. Không có gì phải áp lực đâu nhé.

Ngay lúc đó, nếu bạn làm họ ngạc nhiên bằng một giọng đúng thật sự, họ sẽ mở lòng ra. Nụ cườ của họ không còn là lịch sự nữa, mà là thật. Bạn cho họ thấy là bạn quan tâm đến họ không chỉ bằng tinh thần, mà còn bằng thể xác, và sự quan tâm này thật khó mà cưỡng lại được.

Nhưng mà thôi, lãng mạn vậy đủ rồi. Giờ làm sao để bạn có thể thật sự làm một cái gì đó để phát âm đây?

Một nghiên cứu về luyện tai và phát âm

Khả năng phát âm chuẩn là một sự tổng hợp của hai kỹ năng chính: luyện tai và luyện miệng. Bạn học cách nghe một âm thanh mới, và bạn học cách tạo lại nó trên miệng. Trong hai kỹ năng, cái đầu tiên là cái khó làm nhất; nếu bạn nghe được một âm thanh, thì rồi bạn cũng sẽ học được cách tạo ra nó một cách chính xác. Nhưng trước khi đạt được điều đó, bạn sẽ phải vất vả (để nghe được). Cho nên bây giờ, chúng ta sẽ tập trung vào luyện nghe.

Khi đang nghiên cứu để viết quyển sách của tôi, tôi tình cờ bắt gặp các nghiên cứu tuyệt vời của James McClelland, Lori Holt, Julie Fiez và Bruce McClandiss, khi họ cố dạy người Nhật trưởng thành nghe ra được sự khác nhau giữa “Rock” và “Lock”. Sau khi đọc các bài báo của họ, tôi đã gọi điện phỏng vấn tiến sĩ McClelland và tiến sĩ Holt về nghiên cứu đó.

Điều đầu tiên họ khám phá ra được là công việc luyện nghe rất khó, đặc biệt khi ngoại ngữ mà bạn học chứa hai âm cực kỳ giống một âm trong tiếng mẹ đẻ của bạn. Đây chính là trường hợp của tiếng Nhật, khi âm “R”[ɺ] của họ nằm ngay chính giữa âm R [ɹ] và L [ɫ] trong tiếng Anh Mỹ trên phương diện âm học. Khi bạn kiểm tra những người Nhật trưởng thành sự khác nhau giữa Rock và Lock (bằng cách cho họ nghe thu âm của một trong hai từ này và hỏi họ đây là từ nào), kết quả không khác gì đánh hên xui (50%). Tới đây thì không được khả quan cho lắm.

Các nhà nghiên cứu mới thử hai phương pháp luyện tập. Đầu tiên, họ cứ cho người Nhật trưởng thành nghe Rock và Lock trong một thời gian, và xem xem liệu họ có khá hơn sau khi luyện tập không.

Không.

Tin này rất xấu. Nó gợi ý là việc tập luyện chẳng có tác dụng gì. Bạn cứ việc nghe Rock và Lock cả ngày (hoặc với người Anh sẽ là //[bul/pul/ppul] trong tiếng Hàn) và bạn sẽ chẳng tìm được sự khác nhau giữa chúng. Cái này chỉ tổ xác nhận cho cái lời đồn đã quá trễ để học cách phát âm. Khỉ thật.

Phương pháp thứ hai liên quan đến việc khuếch đại một cách nhân tạo sự khác nhau giữa L và R. Họ bắt đầu bằng những ví dụ cực kỳ dễ thấy (RRrrrrrrrock), và nếu người nghe có tiến bộ, họ sẽ nâng dần độ khó cho tới khi người nghe có thể nhận ra được những sự khác biệt tương đối nhỏ bé giữa hai bản thu (rock). Phương pháp này khá hơn chút đỉnh. Những người tham gia bắt đầu nghe được sự khác nhau giữa Rock và Lock, nhưng điều đó lại không giúp họ nghe được sự khác nhau của một cặp từ khác, như Road và Load. Lại là một ngõ cụt nữa.

Sau đó họ thử cho thêm sự phản hồi, và tất cả mọi thứ liền thay đổi.

Thí nghiệm có phản hồi với cặp từ

Họ lặp lại thí nghiệm cũ, chỉ trừ lần này, khi người tham gia đưa ra câu trả lời (“Cái này là Rock“), màn hình máy tính sẽ nói cho họ biết đúng hay sai (“ding – Chính xác!”). Chỉ trong ba lần, mỗi lần 20 phút sử dụng loại luyện tập này, người tham gia đã thật sự làm chủ được khả năng nghe R và L, trong mọi hoàn cảnh.

Không phải là ngẫu nhiên khi đây chính là cách học của ca sỹ và diễn viên. Tuy ta học từ giảng viên chứ không phải từ máy, nhưng nguyên lý cơ bản thì vẫn là một. Ta ngồi kế bên giáo viên luyện giọng và nhờ họ đọc một đoạn chữ. Sau đó ta sẽ đọc to đoạn chữ đó lên, và người giáo viên sẽ chỉ cho biết ta đọc đúng chỗ nào và sai chỗ nào. Họ cho chúng ta sự phản hồi. Họ sẽ nói những điều đại loại như “Không, cái anh nói là siehe, không phải sehe. Siehe…Sehe. Nghe ra không?” Và mỗi lần ta nói tốt hơn, họ vẫn tiếp tục đưa phản hồi (“Anh đang nói [một cái gì đó gần giống ‘sehe’], nhưng không phải sehe.”) Sau khi được hướng dẫn, chúng ta về nhà, nghe lại đoạn thu âm của những buổi tập này, và dùng những đoạn thu này để cho ta thêm nhiều phản hồi hơn.

Có một vài lưu ý cho vấn đề này. Người tham dự không hoàn toàn đạt tới trình độ hoàn toàn nghe được sự khác nhau giữa Rock và Lock. Độ chính xác của họ cao nhất chỉ khoảng 80%, so với ~100% như người bản xứ. Tìm hiểu sâu thêm sẽ cho ta biết tại sao.

Phụ âm có rất nhiều cấu tử khác nhau (gọi là formant). Về cơ bản, một phụ âm rất giống một hợp âm trên piano. Trên một cây piano, nếu bạn chơi một nhóm các nốt nhất định cùng với nhau, bạn sẽ nghe được hợp âm. Đối với phụ âm, nếu bạn tạo một nhóm các nốt (phức tạp hơn), bạn sẽ nghe được một phụ âm. Đây không phải là lối nói ẩn dụ; nếu bạn có một cây piano được máy tính hóa, bạn thậm chí còn có thể dùng nó để phát ra tiếng người.

Người Anh bản ngữ có thể phân biệt được sự khác nhau giữa R và L nhờ vào một điểm mấu có tên là formant thứ ba – về cơ bản nó là nốt thứ ba trong bất kỳ hợp âm R hoặc L. Người Nhật bản ngữ tốn nhiều thời gian cho mấu chốt này, và sau khi họ đã vượt qua bài kiểm tra, họ cũng không thật sự nghe được nó tốt hơn. Thay vào đó, họ học cách sử dụng một điểm mấu dễ hơn là formant thứ hai – nốt thứ hai trong hợp âm R/L. Cái này cũng có tác dụng, nhưng không đảm bảo 100%, vì thế giải thích được tại sao họ không thể có được kết quả như người bản ngữ.

Khi tôi nói chuyện với các nhà nghiên cứu qua điện thoại, họ hầu như đã dừng cuộc nghiên cứu này, kết luận là họ không biết làm cách nào để tăng độ chính xác lên trên 80%. Họ cũng khá thất vọng về kết quả này.

Tiềm năng cho tương lai

Nhưng hãy nhìn lại một chút về những gì chúng ta đạt được.

Trong vòng ba đợt, mỗi đợt 20 phút, họ đã hạ gục một trong những thách thức ngôn ngữ khó nhất – học cách nghe một âm mới – và tăng độ chính xác từ 50% (đoán mò) lên đến 80% (không tệ chút nào).

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có công cụ này ở mọi ngôn ngữ? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta có thể khởi đầu mọi thứ bằng việc nghe thử một vài bài kiểm tra có phản hồi và có một đôi tai có độ chính xác là 80%, trước cả khi chúng ta bắt đầu học phần còn lại của ngôn ngữ?

Chúng ta có những công cụ để luyện theo cách riêng của chúng ta. Tất cả những gì bạn cần là một hệ thống lặp lại sau từng khoảng (spaced repetition system) có hỗ trợ file âm thanh, như Anki, và một bộ tốt các thu âm mẫu của các từ dễ nhầm lẫn (một nhóm các từ như rock/lock, thigh/thy’s và niece/knee trong tiếng Anh, hoặc sous/su, bon/ban’s và huis/oui’s trong tiếng Pháp). Cái này tốn nhiều công để làm, nhưng nó chỉ cần được làm một lần, sau đó cả cộng đồng sẽ được hưởng lợi.

Nên là tôi sẽ làm điều đó.

Phát âm cực kỳ quan trọng, và giải pháp này thật giá trị để đợi cho một công ty lớn nào đó chịu làm. Trong vòng 9 tháng tới, tôi sẽ bắt đầu tạo các danh sách từ mẫu tốt, thu âm chúng và xây dựng các bộ từ (trong Anki). Tôi sẽ tuyển những người song ngữ, bởi vì nhờ có họ, ta sẽ có những bản thu để học sự khác nhau không chỉ ở hai từ trong ngôn ngữ đích, mà còn ở hai từ giữa ngôn ngữ đích và ngôn nữa mẹ đẻ của bạn (sous vs Sue). Tôi có được ý tưởng này nhờ tiến sĩ McClelland, và ông cho rằng nhờ cái này ta sẽ học còn tốt hơn nữa (eo, ta sẽ có thể có khả năng phá vỡ rào thế 80%). Và tôi sẽ làm một vài bản beta mở để chỉnh cho tới lúc học nó vừa có hiệu quả lại vừa vui.

Hi vọng là, với đúng công cụ, ta sẽ đưa lời đồn “đã quá trễ để học phát âm” vào dĩ vãng. Ta cũng sẽ có nhiều thảnh thơi hơn khi học ngôn ngữ, và ta cũng sẽ dễ dàng hơn để thuyết phục mọi người quên đi tiếng mẹ đẻ của chúng ta và nói bằng thứ tiếng của họ (tác giả có tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ).

Nguồn: The Key to Learning Pronunciation | Fluent Forever Blog

Lucky_Luke_va_Jolly_Jumper

Một số suy nghĩ từ dự án Chữ VN Song Song

Sau khi dự án Chữ VN Song Song được cấp đăng ký bản quyền, nó đã nhận được nhiều chỉ trích của cộng đồng. Bên cạnh những chỉ trích hoàn toàn mang tính lăng mạ ra, thì những phản biện nghiêm túc tôi cảm thấy vẫn chưa đủ hợp lý, còn có lỗ hổng hoặc không đúng trọng tâm. Do vậy tôi muốn nêu lên một số hiểu biết cũng như suy nghĩ của tôi về dự án này.

Nguyên tắc cốt lõi của tôi luôn là tìm ra những điều có ích giữa những thứ đáng bỏ đi. Chỉ ra cái sai thì ai chả làm được, nhưng biến cái sai thành cái tốt mới là thứ đáng nói. Đó cũng có thể xem là tinh thần steelman: tranh luận với đối thủ bằng cách làm cho lập luận của họ sắc bén nhất có thể, rồi mới hãy bẻ nó. (Steel man là chữ đối lập với straw man – lập luận bù nhìn rơm.) Tất nhiên, tôi hiểu quá trình chú ý, ghi nhớ và biến đổi nghĩa của ý niệm sẽ luôn cản trở ta làm việc đó, nên dù có cảm thấy những người phản biện họ đã không làm đúng với tinh thần cởi mở, thì tôi cũng hiểu điều đó nằm ngoài năng lực của con người. Tôi mà phê phán họ thì không khác gì tự bắn vào chân mình.

Người sắt

Ở đây tôi chỉ đang muốn đặt lại cho đúng những giá trị mà nhóm tác giả đang theo đuổi mà thôi. Xin lưu ý là tôi và họ hoàn toàn không liên quan gì tới nhau. Tôi không cố gắng bênh họ, và có thể chúng tôi cũng có những bất đồng với nhau. Tôi chỉ phản biện lại những phản biện mà thôi. Phủ định của phủ định thì không nhất thiết là khẳng định. Tôi không hài lòng khi mọi người tự phá bỏ các nguyên tắc tranh luận cơ bản, và tôi thấy những ý phản biện còn nhiều lỗ hổng. Và tất nhiên, có thể chính tôi cũng đang hiểu sai cả hai bên không kém.

Xin xem thêm bài Tranh luận hiền hòa để hiểu thêm về điều tôi muốn nói.

Vài thông tin và suy nghĩ xung quanh vụ tranh cãi này (suy nghĩ meta)

Tôi đồng ý với các tác giả phản biện là bộ chữ này không theo một phương pháp ký âm tốt. Ai đã từng xem qua lăng trụ thanh điệu này chắc sẽ đồng ý là dấu thanh là một yếu tố rất quan trọng trong chữ viết tiếng Việt, và là một thứ xứng đáng được giữ lấy trong chữ viết toàn dân.

lttdieu.gif

Xem thêm: Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt

Tôi đồng ý là bộ chữ này không thể thay thế được chữ quốc ngữ, và việc áp dụng nó theo hướng toàn dân là không hợp lý (hoặc tôi vẫn chưa rõ tính hợp lý của nó). Sẽ chỉ có một nhóm người cảm thấy nó cần thiết cho công việc của họ, còn lại đa số sẽ không cần.

Tuy nhiên, dự án Chữ Việt Nhanh thì vẫn sử dụng dấu thanh, và tôi cũng chưa thấy ai khảo sát xem nó có tuân thủ theo các nguyên tắc ký âm khác hay không.

Theo như tôi hiểu, dự án Chữ VN Song Song chỉ đơn giản là một phương pháp tốc ký, giống như cách những ai làm dịch cabin, thư ký tòa án hoặc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của người câm dùng. Nó cũng có thể hiểu như một bộ gõ tiếng Việt như VNI hay Telex. Tác giả khẳng định không hề có mục đích cải tiến chữ Quốc ngữ: “Gọi là Chữ Việt Nam song song vì chúng tôi không có tham vọng dùng nó thay thế chữ Quốc ngữ như một số thông tin thời gian gần đây. Bộ chữ của chúng tôi chỉ là một loại chữ viết tắt không dấu, dùng song song với chữ Quốc ngữ. Đó là cách viết tay hay viết trên điện thoại và không cần dùng bất cứ phần mềm nào”.

Giả sử cho rằng chúng tôi có mong ước thay thế chữ Quốc ngữ bằng Cvnss thì đó chỉ là mong ước hoang tưởng, trừ khi có đến khoảng 1 triệu người thích dùng Cvnss4.0.

Tác giả Trần Tư Bình. Nguồn →

Vì vậy, nếu ai cũng khẳng định rằng mong muốn thay thế chữ Quốc ngữ là hoang tưởng, thì có nghĩa là họ đang đồng ý với tác giả. Hai tác giả Lê Nam và Nguyễn Văn Hiệp trong bài Từ điển Béhaine – Taberd và các đề nghị cải cách chữ Quốc ngữ từ cuối thế kỉ 19 đến nay: những vấn đề ngôn ngữ học đã đưa ra những lập luận rất mạnh mẽ:

[…] hệ thống Quốc ngữ với từ điển Béhaine và Taberd đã trở nên ổn định qua thực tế sử dụng hơn hai thế kỷ, rất khó được sửa đổi một cách tương đối quy mô, chưa nói đến việc thay đổi triệt để. Nhiều ý đồ cải cách, cải tiến trong một thế kỷ qua rơi vào ngõ cụt, một phần chủ yếu do các bài học từ công cuộc chỉnh lý chữ viết, thống nhất chính tả thời Pigneau de Béhaine đã không được nhìn nhận đầy đủ.

Những người mong muốn cải cách một cách cơ bản hệ thống chữ Quốc ngữ có lẽ đã không hiểu được một điều căn bản là hệ thống này đã là sản phẩm của những nỗ lực kéo dài nhiều thế kỉ, sản phẩm của tri thức phương Tây về ngữ học đỉnh cao một thời, được sự hưởng ứng trước tiên của một bộ phận người theo đạo Công giáo và sau đó đã được đông đảo người Việt chấp nhận, sử dụng làm phương tiện giao tiếp chính, thay thế cho một hệ chữ viết đã mất vai trò lịch sử (chữ Hán) và một hệ chữ viết đã không thể trở thành văn tự hành chức có hiệu quả của dân tộc (chữ Nôm). Rất nhiều điều kiện đã hội tụ lại để cho một bộ chữ viết và chính tả Quốc ngữ tiếng Việt định hình hoàn chỉnh vào cuối thế kỉ 18, nửa đầu thế kỷ 19. Kể từ giai đoạn này trở đi, sẽ chỉ còn một số rất ít thay đổi, điều chỉnh mang tính chi tiết cục bộ, hệ thống này sẽ không còn chấp nhận bất cứ thay đổi lớn nào nữa.

Như vậy có phải những người phản biện đang… ngầm đồng ý với các tác giả?

Nhóm tác giả thừa sức biết bộ chữ mình làm không hề tuân theo những nguyên tắc ký âm cơ bản, nhưng họ có lý do quan trọng hơn để phá nát những nguyên tắc đó. Nếu ai vẫn muốn tiếp tục phủ định giá trị của dự án, họ cần đưa ra được những lập luận mạnh hơn.

Vấn đề là, các tác giả cần nhận ra rằng với những nhà chuyên môn việc bộ chữ có thể hiện được các nguyên tắc ký âm đó không là tối quan trọng. Các tác giả cần nhận ra rằng cho tới chừng nào bên phản biện chưa nghe được sự thừa nhận của các tác giả về tính phi ngôn ngữ học của bộ chữ, thì những gì họ nói sẽ không bao giờ lọt được vào tai. Họ đã thừa nhận việc này rồi, nhưng vẫn chưa đủ. Họ cần phải gào to hơn nữa mới mong bên phản biện nghe ra được điều mà với họ vô cùng hiển nhiên và không hiểu sao phải nói lại thêm chi cho mất công.

firefox_2020-04-11_12-08-11

Nói cách khác, đây là các khái niệm nảy ra trong đầu hai bên khái niệm “bộ chữ” được nói đến:

Venn

Ta thấy hai vòng tròn này không hề giao nhau, nên cũng chẳng bao giờ có chuyện bên này chấp nhận hay hiểu nổi bên kia cả. Mỗi bên có một cách hiểu riêng cho từ “bộ chữ”. Giống như trong truyện thầy bói xem voi, khi mỗi một ông thầy bói đều nảy ra một định nghĩa riêng khi ai đó nói về từ “con voi”. Nói cách khác, từ “bộ chữ” hay từ “con voi” ở đây là một từ đồng âm khác nghĩa.

Meme này có lẽ sẽ diễn tả đúng cảm giác của nhóm tác giả khi được phân tích rằng bộ chữ của họ không ký âm đúng:

không ký âm đúng

Một số bài viết khác trong blog liên quan tới hiện tượng này:

Tiền thân của dự án Chữ Việt Song Song là dự án Chữ Việt Nhanh. Dự án này đã được giới thiệu từ rất lâu qua tạp chí công nghệ eChip, một tờ báo công nghệ lớn vào thời kỳ internet mới được phổ cập ở Việt Nam. Tổng biên tập báo eChip, bác Nguyễn Hữu Thiện, cũng đồng thời là dịch giả bộ truyện Lucky Luke và nhiều bộ truyện tranh phương Tây khác. Rất có thể những bài viết do bác viết trên tờ eChip và các bộ truyện được bác dịch đã được sử dụng phương pháp gõ tiếng Việt này.

Lucky_Luke_va_Jolly_Jumper

Dưới đây là một số cái tên lớn:

Ngoài ra dự án cũng từng tổ chức các cuộc thi tìm hiểu tại nhà văn hóa Thanh Niên và trường KHXHNV TP.HCM:

Tức là nó đã được giới thiệu từ lâu rồi chứ không phải mới đây.

Xem thêm: Website dự án Chữ Việt Nhanh

Tôi không hài lòng khi thấy những người làm khoa học lâu năm lại dễ dãi buông ra những lời như “tào lao” hay “vớ vẩn”. Tất nhiên tôi hiểu không phải lúc nào trong rác cũng có vàng, và tôi cũng hiểu đã có quá nhiều những nhà nghiên cứu nghiệp dư với những ý tưởng mà dùng từ vớ vẩn là thích hợp nhất. Đã thế họ còn coi thường những người phản biện, cho rằng họ chẳng biết ất giáp gì. Tuy nhiên, việc họ chỉ nói suông mà không đưa ra được bằng chứng thuyết phục là việc của họ. Việc của mình vẫn là giữ đúng tinh thần hoài nghi của một người làm khoa học: tin rằng ngay cả những kết luận chắc chắn nhất của mình cũng có thể sai. Không thể vì họ sai mà cho phép mình vi phạm nguyên tắc đó được. Nếu họ vẫn không chịu nghe lời mình nói, thì im lặng là cách tốt nhất.

Hơn nữa, trong trường hợp này, tôi nghĩ các tác giả đã hành xử lịch thiệp và tôn trọng giới chuyên môn. Có thể họ không có đủ kiến thức ngôn ngữ học để làm thỏa mãn những đòi hỏi khắt khe nhưng cần thiết của giới chuyên môn, nhưng ít nhất qua những gì tôi thấy họ không hề có một biểu hiện nào của chứng vĩ cuồng. Tôi không hài lòng khi thấy những người làm khoa học lâu năm lại nói họ như vậy mà không hề đưa ra được một bằng chứng nào.

Xem thêm:

Tuy các tác giả khẳng định tới khẳng định lui là không có ý định thay thế chữ quốc ngữ và muốn lắng nghe giới chuyên gia, nhưng phải công nhận là ấn tượng mọi người thấy là trái ngược. Tôi giả định đây không phải là do các tác giả cố ý, mà chủ yếu là do họ không có nhiều kiến thức chuyên môn thì buộc phải nói như thế. Giống như bạn thấy một người mù nói là con voi như con đỉa là buồn cười, nhưng ở vị trí của họ, thì đó là cách miêu tả tốt nhất, và bạn phải đứng ở góc nhìn của họ để nói, chứ không phải để cười họ. Nếu bạn nói, “không, con voi không phải là con đỉa”, bạn phải miêu tả được tại sao khi tay ông ấy tiếp xúc với vòi của con voi, nó đem lại cảm giác sun sun như một con đỉa thực thụ vậy. Ở đây mọi người đều giải thích theo kiểu “nó không phải là con đỉa vì nó to hơn con đỉa”. Nhưng nói như vậy thì sẽ đặt câu hỏi là “ủa vậy thì con voi là một con đỉa khổng lồ? Cũng là con đỉa vậy?”. Tức là những lý do bạn đưa ra chỉ là phụ thôi, không đả động gì tới cái cảm giác sun sun nguyên thủy đó, và thậm chí là còn có thể uốn theo cái ý “là con đỉa” được. Rốt cuộc là ổng cũng không có lý do để thấy nó không phải là con đỉa, và bạn càng cố nói là nó không phải là con đỉa thì ông ấy càng hoang mang hơn, còn bạn thì càng cảm thấy ổng cố chấp hơn. Bạn chỉ có thể chấm dứt sự hoang mang này khi nào bạn thực sự nói về cái cảm giác sun sun mà thôi.

Ở đây cũng thế. Bạn có thể đưa ra đủ loại lý do rất chính đáng, nhưng sẽ không bao giờ thuyết phục được họ với cách thuyết phục như hiện nay. Không phải là họ tìm mọi cách để có sự chú ý, mà là họ không hiểu tại sao lại sai. Cái sun sun ở đây chính là cái ý “viết không dấu, viết ngắn nhất”, và bạn phải ghi tâm khắc cốt điều đó trong từng lập luận của mình thì mới có thể đưa ra được một câu trả lời thuyết phục.

Cũng không khó để chứng minh ý này. Cứ cho các bài phản biện vào máy thống kê, tôi khá chắc tần suất các từ như “ký âm”, “khó nhớ” chiếm chủ đạo, trong khi “không dấu”, “ngắn nhất” thì lại rất thấp. Chỉ khi nào có một bài phản biện có tỉ lệ ngược lại mới có thể làm thỏa mãn họ.

Hơn nữa, như trong bài Bản ngã là gì nếu không phải là sự chú ý?, tôi có nói:

Tôi nghĩ nói rằng một người có cái tôi giống như bắt họ phải nhận một tội lỗi không biết từ đâu chui ra, một tội lỗi họ đã rất cố gắng để không phạm phải, một tội lỗi ngay cả quan tòa cũng phạm phải mà còn kết án ai, và một tội lỗi lỡ phạm vào rồi thì cũng không ai biết cách nào để khắc phục hậu quả vậy.

Các chuyên gia ở đây chính là các quan tòa. Và những quan tòa này cũng phạm phải tội lỗi đó mà còn kết án ai.

Xem thêm:

Các tác giả thiếu những phép đo để kiểm nghiệm giả thuyết của mình. Có thể đúng là bộ gõ của họ là nhanh hơn, và những gì họ nói là ưu việt là thực chứng trong trải nghiệm sử dụng của họ, nhưng với một người chưa biết gì về nó thì chỉ là giả thuyết mà thôi, và chưa có một bằng chứng cụ thể nào ngoài việc nó có ngắn hơn cách gõ Telex một chút.

Để công trình này được xem như có tính khoa học, nó ít nhất phải đưa ra được những kết luận có tính kiểm sai (falsifiability). Nó có nghĩa rằng là bất kỳ một lập luận nào, dù nghe có hợp lí đến đâu, mà không thể bị phủ nhận được bằng thực tiễn thì đều vô nghĩa. Ví dụ, câu “mặt trời mọc ở hướng đông” là một câu có thể kiểm sai, vì chỉ cần một lần mặt trời mọc ở hướng tây thôi thì câu đó bị phủ nhận, và toàn bộ tri thức dựa trên câu nói đó sẽ bị sụp đổ không thương tiếc. Còn với câu như “tất cả mọi thứ đều do duyên hợp thành” thì không thể kiểm sai được, vì không có cách gì kiểm tra sự sai của nó. Những câu như vậy không phải là đối tượng để khoa học quan tâm.

Kiểm sai

Và để có thể xây dựng được những mệnh đề có tính kiểm sai, thì cần phải tuân theo một quy trình gọi là phương pháp khoa học. Những bước đó là: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán và kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”.

Cho tới thời điểm này (17/4/2020), tôi chỉ thấy một bảng khảo sát duy nhất của tác giả Phúc Lai trong bài viết: Người lang thang cuối cùng (Phúc Lai): “Chữ Việt Nam song song 4.0” – tán thành hay phản đối?. Ngoài ra tôi không có một thông tin nào khác để đảm bảo các kết luận của tác giả có tính khoa học.

Một số câu hỏi mà tôi nghĩ sẽ làm những lập luận của các tác giả trở nên thuyết phục hơn:

  • Có những ngành nghề nào có nhu cầu sử dụng tiếng Việt không dấu?
  • Mức độ hài lòng của những người mới tập bộ chữ này là thế nào?
  • Tốc độ gõ phím có đủ nhanh hơn để người dùng muốn dành thời gian để ưu tiên tâm trí cho việc học nó, khi mà họ còn bao nhiêu thứ quan trọng hơn phải làm?

Suy nghĩ của tôi trước những nhược điểm của nó

Tác giả Đặng Minh Tuấn có viết:

Quá rắc rối, rối rắm, quá nhiều quy tắc cho những điều bất quy tắc: CVNSS4.0 vì không có tính đơn trị nên rắc rối và nhập nhằng trong ký hiệu, lúc ký hiệu có ý nghĩa này, lúc khác lại ý nghĩa khác tùy vào các trường hợp, tùy vị trí trong từ, tùy theo đi với chữ nào, buộc người dùng phải nhớ nhiều quy tắc và phải phân tích trong đầu trong khi gõ. Trong khi kiểu gõ Telex hay VNI thì chỉ cần 8 quy tắc đơn giản (5 cho dấu thanh, 3 cho các dấu mũ, trăng và đ) thì CVNSS4.0 cần đến 52 quy tắc, trong đó có nhiều quy tắc khá khó nhớ, buộc người dùng phải xử lý một thuật toán if-then khá lớn, tóm lại CVNSS4.0 khó nhớ, buộc tốn nhiều tài nguyên của trí não khi phải phân tích các trường hợp if-then…

Trên quan điểm của tâm lý học nhận thức thì điều này là sai. Ví dụ như chữ “cats” trong tiếng Anh, thì ta không có hàm if-then trong não theo kiểu “cat” + số nhiều → “cats”, mà thực sự ta lưu “cats” như thể nó là một từ độc lập với “cat”. Các ngôn ngữ có kiểu biến hình morpheme khác, không chỉ ở số nhiều/số ít, mà còn có là giới tính, quá khứ/tương lai, chủ động/bị động, v.v…. tổ hợp ra có thể tới gần chục biến thể từ một gốc từ, thì ta cũng nhớ cho bằng hết, chứ không có xử lý if-then. Tương tự, tôi cũng rất hoài nghi lập luận này: “nếu không dùng các kỹ thuật thống kê và AI để dự đoán cả từ thì với một bộ luật gõ đơn giản người sử dụng có thể gõ với tốc độ rất nhanh (do não không phải xử lý thuật toán gõ tắt, if-then).”

Anh Tuấn là dân công nghệ, vậy tôi có thể đưa ra một câu hỏi minh họa: phần mềm Vim hẳn là rất ít quy tắc? Các lệnh Linux hẳn là đến với anh rất straightforward và anh không cần phải google lần nào? Theo tôi, loại chữ này với chữ quốc ngữ giống như giữa Vim và Word, giữa giao diện dòng lệnh và giao diện đồ họa. Quan trọng là người học có cảm thấy cần phải học hay không mà thôi.

vim_cheat_sheet_for_programmers_screen

Với những hiểu biết của tôi về tâm lý học nhận thức, tôi xin được mạnh dạn nói rằng: dù là 100 quy tắc thì nó cũng như 3 quy tắc thôi. Hơn nữa, các tác giả cũng khẳng định là chỉ mất 3 buổi là xong. Không nên chỉ vì đếm số quy tắc mà phủ nhận bằng chứng thực tiễn của những người đã từng học bộ chữ này.

Nhiều người phản biện cho rằng nếu muốn gõ nhanh thì vẫn có các công cụ hỗ trợ, như bảng gõ tắt (vd: đánh hai ký tự vn sẽ bung ra Việt Nam), hay sử dụng máy học để đoán chữ tiếp khi đang đánh. Tuy nhiên đâu có lý do gì để không sử dụng những công cụ đó cho bộ gõ/bộ chữ này?

Nhân tiện, nếu ai có nhu cầu gõ tắt nhiều thì có thể sử dụng một chương trình dành riêng cho gõ tắt, như PhraseExpress hoặc AutoHotKey. Tôi thì dùng AutoHotKey vì ngoài việc gõ tắt ra nó còn làm được nhiều thứ lớn lao hơn :)). Xem thêm: Các phần mềm hữu ích

Đã có vô số đề xuất cải cách chữ viết dựa trên những bất cập về mặt ngôn ngữ học có lẽ là hai năm rõ mười của chữ quốc ngữ, tuy nhiên chúng đều thất bại. Tôi nghĩ bài học đã quá rõ ràng: mọi cải tiến chữ viết mới buộc phải dung hợp được những yếu tố phi ngôn ngữ học vào trong nó. Những yếu tố đó phải được xuất hiện ngay từ những dòng đầu tiên của bản thảo cải tiến, là động lực dẫn dắt, là giá trị cốt lõi, là thông điệp chủ đạo, song song với các các nhu cầu ngôn ngữ học khác. Đó là hy vọng, là con đường cho những ai muốn triệt để thay đổi những bất cập của chữ quốc ngữ.

Vì dự án CVNSS này là một nỗ lực cải cách chữ viết không dựa trên một lập luận ngôn ngữ học nào, mà dựa trên những mong muốn rất phi ngôn ngữ học (viết không dấu và ngắn nhất bằng mọi giá), nên hóa ra nó lại có thể là một gợi ý quan trọng cho các dự án cải cách chữ viết sau này. Với tôi, nó gợi ý một số yếu tố phi ngôn ngữ học như sau:

Những lý do phi ngôn ngữ học được gợi ý từ dự án CVNSS

Nhiều người phản biện rằng với sự phát triển của tin học, ta đã có đủ khả năng để gõ tiếng Việt có dấu một cách tiện lợi, không cần phải có thêm cái nào khác. Vậy ta có thể hỏi ngược lại họ: họ đang dùng bộ gõ VNI hay Telex, và tại sao?

Chúng ta hãy xem qua sơ đồ bố trí các phím gõ dấu của VNI và Telex:

Ta có thể thấy, tất cả các phím gõ dấu của VNI đã bị đẩy lên hàng phím số. Còn các phím như w, f, j, z nằm rải rác trong khu phím cơ sở (nơi các ngón tay được để lên bàn phím một cách tự nhiên nhất) thì lại bị bỏ phí. Điều này gây ra sự lãng phí lớn về hiệu suất gõ phím. Cách gõ Telex giải quyết được vấn đề của VNI. Tương tự, cũng không có gì đảm bảo cách gõ Telex là cách gõ tối ưu nhất.

Xem thêm: Phân tích kỹ thuật các kiểu gõ tiếng Việt

Dự án Chữ Việt Nhanh ước tính giảm được 40% thời gian gõ. Với những người có các cơn đau liên quan đến máy tính (bệnh RSI) thì 40% là rt nhiu. Một giờ gõ phím liên tục sẽ chỉ còn 40 phút, 5 giờ gõ phím liên tục chỉ còn 3 giờ, v.v. Tất nhiên con số 40% này cần được xác minh thêm, và ngay cả như vậy, hiệu quả của nó với việc giảm thiểu các vấn đề về RSI cũng cần được khảo sát kỹ.

Hiện nay có một số đề xuất sử dụng cách viết dính liền giữa các tiếng trong một từ. Ví dụ như thay vì viết là “quả cầu”, thì viết là “quảcầu” (không có dấu cách). Chi tiết thế nào tôi không rõ. Nhưng cơ bản là trên phương diện ngôn ngữ học thì như vậy chuẩn xác hơn.

Trên máy tính thì ta có thể tắt chức năng kiểm tra chính tả để viết dính liền (và điều này rất bất tiện khi thỉnh thoảng cần viết vài từ tiếng Anh), nhưng trên điện thoại thì mặc định là được bật. Để viết được ta phải làm như sau:

  1. Viết chữ quả
  2. Bấm dấu cách
  3. Viết chữ cầu
  4. Quay về vị trí có dấu cách
  5. Xóa dấu cách
  6. Quay lại vị trí hiện tại

Sự bất tiện này không chỉ nằm ở việc mất công thao tác, mà còn ch nó phá mch tư duy. Có thể một cách gõ phím mới sẽ giúp giải quyết tình trạng này, góp phần lan rộng mục tiêu này.

Xem thêm: Tiếng nước tôi: Từ đơn-Từ kép

Không phải lúc nào ta cũng có thể dùng tiếng Việt có dấu. Trong một số trường hợp bắt buộc phải sử dụng tiếng Việt không dấu (như khi viết code máy tính, hoặc viết tên riêng cho người nước ngoài đọc), hoặc khi bộ gõ của bạn bị xung đột với phần mềm khác và dot nhien ban phai go khong dau, ban se thay ich loi cua cach dung nay. Luc nay nhung nham lan khong dang co cua tieng Viet khong dau se khong con nua (vi du: nguoi vo dam dang). Dung cach go nay thi di dau ban cung co the dung tieng Viet ma khong phai cai them bat ky chuong trinh nao.

94352282_1491552414382943_17105377271218176_n

Tên miền của website bạn đang đọc là Quảcầu.com. Không phải Quacau.com. Tôi muốn dùng tên miền có dấu, bởi vì chỉ có dấu mới thể hiện được hết thông điệp không thỏa hiệp với những thứ nửa vời. Tôi không muốn dùng tiếng Việt không dấu rồi bị đọc thành Quacầu.com, hay Quảcau.com. Nhưng nếu đăng ký tên miền tiếng Việt có dấu, thì khi chia sẻ trên Facebook thì nó sẽ bị hiển thị thành xn--qucu-hr5aza.com. Chán :-<

Kết

Tôi nghĩ đúng là những cải cách ngôn ngữ mới nên được giới thiệu thông qua một bộ gõ mới. Nó sẽ thuyết phục được những người muốn dùng nó, mà người chưa biết gì về nó vẫn không gặp khó khăn trong giao tiếp. Như vậy sẽ tránh gây sốc cho cộng đồng.

Các tác giả nên tránh nói về sự ưu việt của nó, mà tìm cách chứng minh rằng nó thật sự rất ưu thế so với cách gõ Telex, và thật sự là có một cộng đồng người đang khổ sở vì phải dùng tiếng Việt không dấu. Trước những bằng chứng không thể chối cãi, tự mọi người sẽ thấy nó ưu việt mà các tác giả không cần phải nói.

Các tác giả của các chữ viết cải tiến nếu muốn quảng bá thêm loại chữ viết này có thể xác định đây là một dự án thay đổi nhận thức xã hội. Có thể các bài giảng của Trung tâm cộng đồng LIN sẽ giúp xây dựng một kế hoạch chiến lược, kế hoạch hành động, và kế hoạch truyền thông hiệu quả, hướng đến những người xem việc sử dụng loại chữ này là cấp bách.

Thông tin người viết bài

Tôi tên thật là Nhật, tốt nghiệp ngành vật lý lý thuyết trường KHTN TPHCM (2010-2014). Từ lúc tốt nghiệp đến nay thì tôi tìm hiểu nhiều lĩnh vực để biết chính xác con đường nghiên cứu mình muốn đi. Nay thì mọi thứ đã rõ ràng, nhưng tôi lại muốn ứng dụng những gì mình tìm hiểu được để giải quyết các ngộ nhận và định kiến trong xã hội. Hiện tại thì tôi tự xem mình là nhà hoạt động xã hội thông qua dự án Quả Cầu, nhưng xong dự án này thì tôi sẽ đi tiếp con đường học thuật. Đề tài tôi muốn tìm hiểu là bn cht ca góc nhìn. Người ta thường nói “luôn giữ cho góc nhìn của mình luôn tươi mới”, “nhìn vấn đề bằng nhiều góc nhìn khác nhau”, “đặt mình vào góc nhìn của người khác”, nhưng góc nhìn bản chất là gì thì vẫn còn mơ hồ. Chính vì mơ hồ như vậy, nên mới có chuyện nói thì dễ làm mới khó. Nghiên cứu của tôi tìm cách trả lời những câu hỏi như:

  • Bản chất của góc nhìn là gì?
  • Như thế nào thì gọi là có góc nhìn mới?
  • Bản chất của việc đặt mình vào góc nhìn của người khác là gì?
  • Tại sao hai người luôn bị bất đồng dù cả hai đều có ý tốt cho nhau?
  • v.v.

Câu chốt của nó là:

Lật lại giả định ngầm = biến đổi nghĩa của từ = thay đổi góc nhìn

Một điều tình cờ là cách đây một tháng GS Hồ Hải Thụy (thầy của GS Nguyễn Văn Hiệp, viện trưởng Viện Ngôn ngữ học) có ghé thăm web của tôi và donate $50, với lời nhắn là “Tôi thấy ông làm được nhiều việc có ích thì ủng hộ để động viên”.

Một số link khác cho ai có quan tâm:

250px-Chandrakirti00

Trung Quán Minh Cú Luận, bản tiếng Pháp

Trong Phật giáo Đại Thừa có tông phái Trung Quán rất nổi tiếng, và Nguyệt Xứng (Chandrakirti) là một người có nhiều đóng góp lớn cho tông phái này, chỉ sau Long Thọ (Nagarjuna). Trong các bộ luận của ông thì có cuốn Trung Quán Minh Cú Luận (Prasannapada Madhyamakavrtti). Một người bạn sư của bác Nguyễn Hoài Vân muốn dịch bản kinh rất hiếm và quý này sang Việt ngữ, và muốn sử dụng bản tiếng Pháp để đối chiếu với các bản dịch trong tiếng Hán. Bác đã chụp lại bằng máy hình toàn bộ quyển sách trước khi gửi cho bạn. Xem thêm: Vài hàng về Trung Quán Minh Cú Luận – Prasannapada Madhyamakavrtti | Nguyễn Hoài Vân – Triết Học – Tâm Linh – Tôn Giáo

Do quyển sách được chụp bằng máy hình nên sẽ khó đọc trên máy. Mình đã xử lý nó như sau:

  • Tách trang
  • Canh trang sách lại cho thẳng
  • Tẩy trắng
  • Tạo bookmark (cái này làm cực nhất)
  • Tạo lớp text để tìm kiếm hoặc sao chép (OCR)

Tất cả các công cụ mình có ghi hướng dẫn ở đây: The ultimate guide to process scanned books

Các trang bị thiếu được phát hiện: 100-101

Mình chia thành hai bản: bản tẩy trắng để dễ đọc, và bản không tẩy để có những trang máy xử lý không tốt thì đọc cho rõ. Hy vọng đóng góp nhỏ này sẽ hữu ích cho mọi người.

Tải về: bản tẩy trắng, bản không tẩy.

Đọc trên Scribd: bản tẩy trắng, bản không tẩy.

clip_image003

Biết chửi thề trước khi biết nói

Nói tục là đặc tính của con người ở mọi nơi. Mọi ngôn ngữ, dù là phương ngữ hay thổ ngữ, là sinh ngữ hay tử ngữ, nói bởi hàng triệu người hay chỉ một bộ lạc nhỏ, đều có những từ “cấm”. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra các tác động của “ngôn ngữ cấm” lên não, từ đó thăm dò những mối quan hệ rối rắm khó hiểu giữa những vùng cao hơn của bộ não khi xử lí các vấn đề của trí tuệ, lí trí và kế hoạch, với những vùng thần kinh thấp hơn, “thú tính” hơn mang lại cho ta những cảm xúc.

Chửi thề trong phòng thí nghiệm

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sự nguyền rủa thường là một mớ hỗn tạp của sự sống sượng, tự phát với sự sắc sảo có chủ ý. Khi chửi một ai đó, thì người chửi hiếm khi tuôn ra những lời tục tĩu và lăng mạ một cách nhát gừng, mà sẽ đánh giá đối tượng bị chửi để điều chỉnh cơn thịnh nộ “không kiểm soát nổi” của mình.

Những nhà điều tra khác thì xem xét tâm lí chửi thề, các giác quan và phản xạ của chúng ta phản ứng lại như thế nào với âm thanh hoặc hình ảnh một từ tục tĩu. Họ cho rằng nghe một câu chửi có thể suy ra trình độ văn hoá của một người.

Người ta dùng những sợi cảm biến đặt trên da tay và ngón tay một nhóm người để nghiên cứu các mẫu hình truyền dẫn của da SCP (skin conductance patterns). Khi những người này được nghe một số từ thô tục được nói lên một cách rõ ràng dứt khoát, họ có biểu hiện như bị đánh thức. Mẫu hình SCP của họ nhọn lên, các lông trên tay dựng đứng, mạch đập nhanh và hơi thở gấp.

Theo Kate Burridge, một giáo sư ngôn ngữ học ở Đại học Monash, Melbourne, Australia, một phản ứng tương tự cũng xảy ra ở những người tự hào về trình độ văn hoá của mình khi họ nghe người khác nói sai ngữ pháp hoặc sử dụng những tiếng lóng mà họ coi là bất nhã, vô văn hoá.

Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, những lời tục tĩu có thế khiến người ta nổi da gà và bất động trong giây lát. Trong một cuộc thí nghiệm, những người tham gia được cho xem một chuỗi từ được viết bằng các màu khác nhau và được đề nghị phản ứng bằng cách gọi ra các màu của từ đó thay vì đọc chính các từ đó.

Ví dụ, nếu người tham gia nhìn thấy từ “ghế” màu vàng, họ phải nói “vàng”. Sau đó, người ta chèn thay thế các từ tục vào chuỗi từ. Lập biểu đồ về những câu trả lời tức thời và có chậm trễ, họ thấy rằng, mọi người cần nhiều thời gian hơn để đọc được các màu của từ tục hơn là khi họ đọc các từ bình thường.

Rõ ràng việc nhìn thấy bằng chữ những từ tục làm người tham gia xao nhãng nhiệm vụ mã hoá màu sắc. Nhưng việc đó cũng để lại dấu ấn. Trong những cuộc kiểm tra trí nhớ sau đó, những người tham gia không chỉ nhớ tốt hơn những từ khó chịu, mà họ còn nhớ tốt cả màu sắc của những từ đó.

Trong một nghiên cứu khác, người ta đề nghị những người tham gia nhanh chóng lướt qua một danh sách các từ trong đó bao gồm cả những từ tục tĩu, rồi sau đó cố nhớ lại càng nhiều từ càng tốt, kết quả là họ lại tỏ ra nhớ tốt hơn với những từ xấu, và nhớ rất kém các từ đứng trước hoặc đứng sau từ xấu đó.

Ích lợi của việc chửi thề

Tuy nhiều ngôn ngữ xấu có thể làm người nghe choáng váng, nó có thể giúp tẩy bỏ stress và giận dữ. Trong một số trường hợp, một sự tuôn trào tự nhiên của ngôn ngữ thô tục có thể không phải mang ý nghĩa chống đối thù địch hay bệnh xã hội.

Các nghiên cứu cho thấy, nếu bạn ở cùng một nhóm bạn thân, bạn càng thoải mái bao nhiêu thì bạn càng chửi thề bấy nhiêu. Bạn muốn nói bất cứ điều gì bạn muốn. Các bằng chứng cũng cho thấy rằng chửi thề có thể là một phương tiện hữu hiệu để xả đi sự bực tức và do đó ngăn chặn được bạo lực.

Với sự trợ giúp của một nhóm nhỏ sinh viên và những người tình nguyện, Timothy B. Jay, một nhà tâm lí ở Đại học Khoa học –Nhân văn Massachusets, và là tác giả của các cuốn sách Chửi thề ở Mĩ (Cursing in America) Tại sao chúng ta chửi thề (Why we curse), đã khám phá ra động lực chửi thề một cách rất chi tiết.

Các nhà điều tra đã phát hiện rằng đàn ông thường chửi thề nhiều hơn phụ nữ, trừ khi những phụ nữ đó ở trong một hội nữ sinh, và các hiệu trưởng đại học chửi thề nhiều hơn các thủ thư hoặc những thành viên của trung tâm chăm sóc ban ngày của đại học.

Bất kể người chửi là ai và điều chọc tức họ là gì, lí do căn bản của cơn giận dữ tuôn trào thường giống nhau. “Mọi người vẫn nói với tôi rằng chửi thề là một cơ chế đương đầu khó khăn đối với họ, một cách để giảm stress. Đó là một hình thức quản lí sự giận dữ thường bị đánh giá không đúng”, Jay nói.

Thực ra, việc chửi thề có thể là một cách để trút giận và tránh một cuộc ẩu đả bằng tay chân. Không gì đáng sợ hơn việc một người quá giận không thể thốt nên lời, lặng lẽ nhặt một khẩu súng hay con dao và…

Tấm gương của nỗi sợ hãi

Các kết quả nghiên cứu cũng tiết lộ: cái được xem như ngôn ngữ cấm trong một nền văn hoá nào đó thường là một cái gương cho thấy sự sợ hãi và đóng kín của nền văn hoá đó. Ở một số nền văn hoá, các từ chửi thề thường được rút ra chủ yếu từ các chức năng tình dục và các bộ phận trên cơ thể hoặc từ những vùng tôn giáo.

clip_image013
Chửi thề là bản năng bất biến của con người, chỉ có thể chế ngự được bằng văn hóa

Ở những xã hội nơi sự trinh tiết và danh dự của người phụ nữ là điều quan trọng, không ngạc nhiên khi nhiều từ chửi thề là biến thể trên chủ đề “đồ chó đẻ” hoặc nói một cách hình ảnh về cơ quan sinh dục của mẹ hoặc chị của người bị chửi.

Khái niệm sơ khởi của một từ chửi thề bắt nguồn từ việc các nền văn hoá cổ coi trọng lời chửi thế theo tên của một hoặc nhiều vị thần. Ở thành cổ Babylon, thề dưới tên một vị thần là cách để chắc chắn hoàn toàn không bị nói dối, và mọi người tin rằng nếu thề giả dối trước thần thánh sẽ bị trừng phạt. Lời răn của Kinh Thánh cũng được cảnh báo không được lợi dụng tên Chúa để thề thốt. Còn ngày nay, những nhân chứng khi đứng trước toà cũng phải thề trên cuốn Kinh Thánh rằng họ đang nói sự thật,

Tuy thế, cả điều răn Kinh Thánh lẫn người kiểm duyệt sốt sắng nhất đều không thể loại bỏ khỏi tâm trí con người những từ ngữ thô tục nói về thân thể. Người ta luôn cảm thấy khó chịu khi nghe hoặc đề cập đến chức năng của cơ thể. Và thế là mỗi ngôn ngữ lại phát minh ra những chuyển ngữ để nói về những chủ đề nhạy cảm đó. Khi một từ trở nên có liên hệ gần gũi với một chức năng thân thể nhất định, gợi nhớ đến cái không được gợi lên, nó sẽ bắt đầu xâm nhập vào vương quốc của điều cấm kị và phải được thay thế bởi một sự chuyển ngữ mới.

Tiềm thức thuở hồng hoang

Các nhà khoa học mới đây đã tìm cách vẽ bản đồ địa hình thần kinh của ngôn từ bằng cách nghiên cứu những bệnh nhân bị hội chứng Tourette (Tourette’s syndrome) – một dạng rối loạn về thần kinh chưa rõ căn nguyên có đặc điểm chủ yếu là bị rối loạn thần kinh vận động và mắc tật máy giật phát âm, ví dụ như nhăn mặt liên tục, đẩy kính quá cao trên sống mũi hoặc phát ra những tiếng gầm gừ.

Trong cuốn Tàng thư về tổng quan bệnh tâm thần (The Archives of General Psychiatry), tiến sĩ David A. Silbersweig, giám đốc khoa tâm thần học và hình ảnh thần kinh của trường cao đẳng y học Weill thuộc Đại học Cornell, đã mô tả việc ông và các đồng nghiệp đã sử dụng các phương pháp quét bằng tia X (Positron Emission Tomography (PET) scan) để đo luồng máu não và xác định những vùng nào não ở những bệnh nhân Tourette được kích động trong giai đoạn phát bệnh.

Họ phát hiện sự kích hoạt mạnh mẽ của hạch căn bản (basal ganglia), một nhóm bốn bó neuron nằm sâu trong não trước ở ngay chính giữa trán, nơi được biết là giúp phối hợp các vận động của cơ thể, cùng với sự kích hoạt của các vùng trọng yếu ở não trước phía sau trái chuyên tham gia vào việc lĩnh hội và tạo ra lời nói.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy sự thức giấc của những mạch thần kinh có tương tác với hệ thống các chi, vốn có cảm xúc con người, và, quan trọng hơn, với những vùng “thực hiện” của não, nơi các quyết định hành động hoặc ngừng hành động có thể được thực hiện. Một quá trình phức tạp diễn ra trong não khi một người bị thôi thúc nói ra những điều không nên nói. Người đó bị thôi thúc bởi một sự ao ước được nguyền rủa, được nói lên cái gì đó không được phép. Những mạch ngôn ngữ ở thứ tự cao được khơi ra, để xếp đặt nội dung của lời nguyền rủa. Trung tâm điều khiển xung não đấu tranh để ngắt mạch sự thông đồng giữa sự thúc giục hệ thống chi vận động với mưu đồ ở vỏ não, và nó có thể thành công một thời gian. Nhưng khi sự thôi thúc gia tăng, cho đến khi cuối cùng những lời nói cũng bùng ra, thì những vùng não cổ xưa và tinh tế cũng phải bó tay.

clip_image016

Niềm cảm hứng văn chương

Theo Guy Deutscher, một nhà ngôn ngữ học ở Đại học Leiden (Hà Lan), thì trong những văn bản viết cổ xưa nhất có từ 5.000 năm trước, cũng đã có những mô tả thô tục về cơ thể con người. Mà văn bản viết thì hẳn là một sự phản ánh tiếng nói – xuất hiện từ khi thanh quản con người phát triển, nếu không phải là sớm hơn. Còn với John McWhorter, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học ở Học viện Manhattan (Mĩ), trẻ em thường nhớ những ngôn từ bị cấm từ rất lâu trước khi hiểu được ý nghĩa của chúng, và các cây đại thụ trong văn học thì luôn xây dựng nghệ thuật của họ trên nghĩa gốc của những từ đó.

Kịch gia Anh thế kỉ 17, Ben Jonson, đã rải lên khắp những vở kịch của mình những câu chửi thề, còn Shakespeare khó mà có thể viết nổi một đoạn thơ mà không chèn thêm những câu báng bổ như “zounds” hay “sblood” – những từ viết tắt của “God’s wound” và “God’s blood” mà thời đó thường dùng như một cách chơi chữ đề cập đến tình dục. Một vở kịch Shakespeare có tên là Much Ado About Nothing (Chẳng có gì mà ầm ĩ) chính là cách chơi chữ của “Much Ado About an O Thing” trong đó “the O thing” được ám chỉ bộ phận sinh dục nữ.

clip_image002
Văn hòa William Shakespear sử dụng rất nhiều ngôn ngữ chửi thề đương thời trong các tác phẩm kịch của mình

Bài gốc: Almost Before We Spoke, We Swore – The New York Times
Lược dịch: Thục Phương, đăng trên Tạp chí Khám Phá số 15 ngày 17/10/2005

Tuzki ILU

Xưng hô trong tình yêu

Dự án nghiên cứu đầu tiên của mình là vào năm lớp 11, lúc đó nghỉ hè không biết làm gì + đang mê điếu đổ một bạn 😂 . Nhưng đó chỉ là chất xúc tác thôi, chứ câu hỏi nghiên cứu thì đã có từ khá lâu, chắc là từ cấp 2. Câu hỏi đó là:

Tại sao khi yêu, con trai cứ được gọi là “anh” chứ không phải là “em” , và con gái thì cứ được gọi là “em” chứ không phải là “chị”?

Với mình việc gọi con trai là “anh” con gái là “em” nó rất là kỳ cục ?. Thật sự không hiểu nổi tại sao lại có đứa muốn tụt xuống làm “em” để bị thằng “anh” sai vặt. Với mình, việc cho con gái lên làm “chị” cũng vui không kém.

Tóm tắt bài viết:

  • Cách xưng hô “anh – em” thể hiện chênh lệch tuổi tác ở đa số cặp đôi
  • Cách xưng hô “anh – em” thể hiện sự thống trị trong mối quan hệ, chứ không chỉ là giới tính
  • Cách xưng hô “anh – em” thể hiện đặc trưng sử dụng danh từ thân tộc để thể hiện sự thân mật trong tiếng Việt
  • Cách xưng hô sẽ thay đổi tùy vào hoàn cảnh và thái độ của người trong cuộc
  • Cách xưng hô không thay đổi ở các cặp đồng tính ← cái này thể hiện rõ ý thống trị

Framework được sử dụng là tâm lý học tiến hóa và ngôn ngữ học xã hội. Lúc đó thì chưa biết đến Foucault :)) Bạn nào đã quen việc nghiên cứu rồi thì đừng có chê ngây ngô nha 😀

Tài liệu tham khảo:

  • Jan Erik Kristiansen; Age differences at marriage: The times they are achanging?
  • Nguyễn Thị Ly Kha; “Từ xưng hô” thuộc hệ thống nào?
  • Tôi không kì thị người đồng tính – Vietnamese Gay and Lesbian Community; Bàn về “vai vế”, http://www.facebook.com/group.php?gid=48198014117&ref=search#/topic.php?uid=48198014117&topic=11247
  • Phan Hồng Liên; Thảo luận thêm về “nghi thức lời nói” trong văn hoá giao tiếp
  • Nguyễn Văn Khang; Xã hội học ngôn ngữ về giới: Sự kì thị và sự chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ
  • Hàn Giản Đường; Chữ Hán Trung Quốc