I see, therefore it is

Naïve realism và người sử dụng logic

Naïve realism là gì?

Trong tâm lý học xã hội, naïve realism là một xu hướng tin rằng ta những gì ta thấy ở thế giới xung quanh là khách quan và không thiên kiến, và thấy những ai bất đồng với mình là chưa hiểu rõ vấn đề, thiếu logic hoặc có thiên kiến. Nó được xem là một trong bốn khám phá quan trọng nhất trong ngành.

Ba yếu tố để tạo nên một naïve realist:

  • Tin rằng họ thấy thế giới một cách khách quan và không thiên kiến
  • Kỳ vọng những người khác cũng sẽ đi đến một kết luận tương tự, miễn là họ cũng được cung cấp cùng một lượng thông tin và diễn giải nó theo cách hợp lý
  • Giả định rằng những những không có cùng cách suy nghĩ như vậy là do thiếu thông tin, thiếu logic, hoặc có thiên kiến

Naïve realism và người sử dụng logic

Với định nghĩa của naïve realism ở trên, hai yếu tố dưới cùng là kết quả tất yếu của việc sử dụng logic. Câu hỏi đặt ra là: liệu yếu tố đầu tiên cũng là vậy hay không?

Theo hiểu biết của tôi, logic chỉ nghiên cứu về mi quan h gia các mnh đ, không phải chân trị của giả thiết. Ví dụ, nếu ta có tam đoạn luận sau:

Mọi con người đều là xe máy
Socrates là một con người
Socrates là một cái xe máy

Vậy thì logic chỉ xác nhận là kết luận phù hợp với giả thiết, chứ không nói là kết luận là một điều có thật. Ngay cả khi tiền đề “mọi con người đều là xe máy” là một kết quả khoa học, thì người sử dụng logic cũng luôn cần phải giả định là có khả năng nó sai.

Tuy nhiên, nếu họ đã kiểm tra tới kiểm tra lui tiền đề đó và thấy tiền đề đó không sai, thì họ buộc phải tin là kết luận của họ là khách quan và không thiên kiến. Điều này càng đúng hơn nữa trong trường hợp người sử dụng logic biết được những thiên kiến và bóp méo rất con người của mình, và đã làm hết mọi thứ để kiểm tra liệu mình có đang sai không. Cái niềm tin rằng họ khách quan và niềm tin rằng họ có thể sai không loại trừ nhau. Nếu họ là người có niềm tin vào các quy luật của logic, họ cũng cần có niềm tin rằng họ đang khách quan.

Nói cách khác, có 3 mệnh đề tồn tại song song với hệ mệnh đề cụ thể mà một người sử dụng logic cần phải xử lý:

  • A: Họ tuân thủ các quy luật logic (luật đồng nhất, luật mâu thuẫn, v.v.)
  • B: Họ biết rằng họ có thể sai
  • C: Họ khách quan và không thiên kiến

Tôi nghĩ rằng chỉ cần dùng A là đủ để kết luận C (hoặc thậm chí có thể A ⇔ C). B là một lớp lọc có thêm để chắc chắn rằng (a) A thực sự tồn tại, (b) các tiền đề của vấn đề cụ thể là chính xác, và (c) không một tiền đề ngầm nào chưa được nêu ra. Nhưng B lại làm người sử dụng logic thiếu tự tin khi họ cần đến nó nhất. Mệnh đề B làm cho A đáng tin hơn và làm C không đáng tin, mặc dù cả A và C thực chất là một. Và nếu một người đã có thể kết luận là họ có C, vậy thì theo định nghĩa, họ là một naïve realist.

Đọc thêm: Does following logic necessarily require one to conclude that they are objective and have no bias?

maxresdefault

Duy vật lý dưới góc nhìn của vật lý và tâm lý học nhận thức

Trước hết, tôi muốn nói đây hoàn toàn là quan điểm của tôi, cùng với các kiến thức được góp nhặt mỗi nơi một chỗ. Tất cả những gì tôi có thể mạnh mồm nói là tôi biết một chút về vật lý và tâm lý học nhận thức. Các kiến thức về các lĩnh vực khác của tôi có thể xem là vô giá trị.

Thế giới tự nhiên trong con mắt vật lý

Trước hết, tôi muốn có một sự soi xét với các sách vật lý viết cho độc giả phổ thông. Tôi không phủ nhận kiến thức chúng trình bày là chính xác, và đã miêu tả được vẻ đẹp của vật lý. Nhưng chúng vô tình khiến cho những ai khi nói đến vật lý sẽ nhớ đến các khái niệm như “thuyết tương đối”, “lực hấp dẫn”, “không thời gian”, “hố đen”, “cơ học lượng tử”, “nguyên lý bất định”, “hiệu ứng cánh bướm”, v.v. Chúng vốn là các thành tựu của thế kỷ 20, nhưng khi quá tập trung vào những chủ đề này, thì những gì cốt lõi của vật lý đã bị bỏ quên. Bản thân tôi cũng nghĩ nhiều nhà vật lý cũng không để ý đến điều này. Theo tôi nghĩ, nếu phải miêu tả thế giới vật lý trong hai từ, thì đó sẽ là sự đối xứng dao động tuần hoàn. Nếu phải giải thích hai cái này trong một bài viết ngắn, thì mình xin đề xuất bài này.

Dưới nhãn quan vật lý, thế giới là sự kết hợp của các dao động tuần hoàn. Những thứ tạo nên dao động đó được gọi là dao động tử. Tôi hiện đang không biết làm sao để miêu tả dao động tử cho một người chưa từng học vật lý hiểu chỉ trong một vài đoạn ngắn, nhưng với những người làm về âm thanh, âm nhạc thì họ sẽ quen thuộc hơn.

Như bạn xem trong clip, cái ta gọi là “bài hát” thực chất là sự kết hợp giữ vô vàn các sóng thành phần, và mỗi sóng được gọi là một dao động tử. Cái bàn cái ghế ta ngồi cũng là một sự kết hợp như thế. Nói như Sidney Coleman, nhà vật lý lý thuyết được xem là “nhà vật lý của các nhà vật lý”, thì “Một nhà vật lý lý thuyết trẻ xây dựng sự nghiệp của mình bằng việc làm việc với dao động tử điều hòa ở các cấp độ càng ngày càng trừu tượng hơn.” (“The career of a young theoretical physicist consists of treating the harmonic oscillator in ever-increasing levels of abstraction.”).

Các kích thích sinh lý và tâm lý

Tạm gác lại chủ đề vật lý, ta hãy sang lĩnh vực tâm lý học nhận thức. Hành vi của sinh vật chịu tác động bởi các kích thích từ môi trường, và người ta chia kích thích ra thành hai loại:

  • Kích thích sinh lý (physiological stimulation): là các kích thích năng lượng ở thế giới bên ngoài truyền vào các thụ thể (giác quan) và truyền đến não qua dây thần kinh. Ví dụ như da bạn thấy được sự chênh lệch nhiệt độ giữa cơ thể và miếng thép, thì nó sẽ gửi một tín hiệu thần kinh lên não bảo rằng nó “nóng” hoặc “lạnh”. Không khó để thấy rằng kích thích sinh lý hoàn toàn có thể được giải thích bằng vật lý.
  • Kích thích tâm lý (psychological stimulation): là các quá trình nhận thức như tri nhận, lý luận, cảm xúc, trải nghiệm, ghi nhớ. Ví dụ, mặt người yêu bạn sẽ sinh ra các cảm xúc vui, buồn, giận, ghét ở bạn. Hình ảnh “1+1” sẽ kích thích bạn nghĩ về số “2”. Tôi nghĩ rất có thể cái gọi là “tinh thần” cũng là một cách gọi khác của các kích thích tâm lý.

Ta khảo sát kỹ hơn kích thích tâm lý là gì. Bài Bản ngã là gì nếu không phải là sự chú ý? đăng trên tạp chí Aeon sẽ hướng sự quan tâm của ta về… mối quan tâm:

Cái mà ta gọi là bản ngã, tôi xem nó là một tập hợp các mối quan tâm kết hợp với nhau, vốn không phải là một mối quan tâm đơn lẻ hoặc là tổng cơ học của từng mối quan tâm đơn lẻ. Nói cách khác, không phải việc bạn thích ăn mỳ udon, yêu thơ ca và hoa lily sẽ tạo nên bản ngã của bạn, mà nó là sự kết hợp giữa các mối quan tâm đó và các mối quan tâm khác nữa, tất cả sẽ cùng làm việc với nhau để định hướng hành vi của bạn.

Cụ thể hơn, một nhóm các mối quan tâm sẽ trở thành bản ngã ngay vào lúc nó thể hiện sự kiểm soát đối với các mối quan tâm khác. Nhu cầu kiểm soát đến từ việc các mối quan tâm cạnh tranh với nhau về nguồn tài nguyên chung. Giải pháp cho sự cạnh tranh này chính là sự chú ý. Thế nên theo tôi, vào thời điểm ta tiến hành quá trình chú ý, hoặc vào lúc quá trình chú ý ưu tiên mối quan tâm này hơn mối quan tâm khác, bản ngã trở nên hữu hình. Điều này sẽ chỉ xảy ra nếu ta có nhiều mối quan tâm khác nhau, và hai trong số chúng mâu thuẫn nhau. Vào ngay thời điểm sự chú ý bắt tay giải quyết mâu thuẫn này, bản ngã hình thành.

Vậy nếu ta có thể giải thích được “mối quan tâm” là gì trên phương diện vật lý, thì các khái niệm như “bản ngã”, “sự chú ý”, “tinh thần”, v.v. cũng sẽ được giải thích theo. Tôi nghĩ rằng con đường để kết nối “tinh thần” với “vật chất” có thể được hiểu rõ hơn nếu khái niệm “dao động tử điều hòa” được chú ý và phổ cập rộng rãi hơn.

Có vẻ như hiện nay ta chưa tìm được ranh giới rõ ràng giữa kích thích sinh lý và kích thích tâm lý. Ví dụ, khi một một con rắn từ trên trời rơi xuống đầu bạn và làm bạn giật bắn người, thì sự hoảng sợ đó là kết quả của kích thích sinh lý (photon đập vào mắt từ con rắn) hay kích thích tâm lý (con rắn)? Hoặc khi bộ phận sinh dục được tác động (ve vuốt, ấn, nắn, v.v.), thì sự cực khoái là kết quả của kích thích sinh lý hay kích thích tâm lý? Có vẻ như các kích thích tâm lý không thể nào có nếu không có các kích thích sinh lý, và cứ hễ có kích thích sinh lý thì nhất định sẽ có kích thích tâm lý. Vy thay vì c tìm đnh nghĩa đ phân bit chúng ra, liu ta có th đt ra mt gi thiết rng chúng là mt?

Duy vật lý dưới góc nhìn của vật lý và tâm lý học nhận thức

Ta hãy làm rõ câu hỏi vừa nêu hơn bằng việc khảo sát xem tới mức nào thì nói một quá trình của sự sống (tức “tinh thần”) là “chỉ có các kích thích sinh lý” bắt đầu trở nên không thoải mái. Đầu tiên là hình thái sống đơn giản nhất: các sinh vật đơn bào. Có lẽ ai cũng sẽ đồng ý rằng chúng thì không có “ý thức”, “tinh thần”, hay “kích thích tâm lý” nào cả. Bạn sẽ thoải mái khi nói là chúng chỉ là tổ hợp các kích thích sinh lý, vốn được tạo thành từ các dđt. Sự khác biệt giữa các sinh vật đơn bào này với các hệ vật lý khác là chúng có khả năng tự sao chép chính mình, chỉ vậy thôi.

Khi chúng phát triển phức tạp hơn, từ đơn bào thành đa bào, và từ đa bào thành một sinh vật đa cơ quan, với mỗi cơ quan có một chức năng của riêng nó (bắt mồi, tiêu hóa, di chuyển), thì ta vẫn hoàn toàn thoải mái khi nói các phản xạ của chúng là các kích thích sinh lý, vốn là cách để tổ hợp các dđt. Miễn là nó đừng có lên kế hoch bắt mồi (núp con mồi, lẩn trốn kẻ thù), thì ta hoàn toàn thoải mái.

Chỉ đến khi nó có khả năng lên kế hoạch bắt mồi thì ta mới cảm thấy có cái gì đó sai sai khi nói nó “chỉ toàn kích thích sinh lý”, vì việc lên kế hoạch đòi hỏi các quá trình nhận thức như ghi nhớ, chú ý, giải quyết vấn đề, v.v. Nhưng nếu nhìn vào thật kỹ cái kế hoạch bắt mồi của nó, thì mục đích của nó cũng vẫn chỉ là làm sao để các dđt trong sinh vật được cộng hưởng nhiều nhất. Vậy tôi nghĩ, cái gọi là “tinh thần” cũng chỉ là một cách sắp xếp của các dđt mà thôi, sao cho chúng có khả năng tự sao chép chính mình được nhiều nhất.

Cụ thể hơn (dù tôi không chắc mình có đúng không), tôi nghĩ rằng bản chất của mối quan tâm là xu hướng tăng số lượng cộng hưởng của các dao động tử trong cơ thể. Ví dụ như khi một loạt photon từ miếng gỗ đập vào thụ thể của một con amip, thì nó sẽ kích thích một lượng electron trong thụ thể của nó đó lên mức năng lượng cao hơn (cộng hưởng). Nhưng nếu cũng bằng đó số photon nhưng từ con mồi của nó, thì số electron được cộng hưởng sẽ nhiều gấp đôi. Như vậy, để có thể tăng năng lượng của con amip đó lên, hệ sẽ di chuyển về phía đó. Ta gọi vật có khả năng làm tăng sự cộng hưởng đó là mối quan tâm, và khả năng di chuyển đến mối quan tâm là sự nhận thức sơ khởi.

Khi gặp một miếng thịt thối, chúng ta cảm thấy kinh tởm. Khi gặp một con người phản bội, chúng ta cũng cảm thấy kinh tởm. Nếu hai sự kinh tởm này là giống nhau, thì về mặt bản thể món thịt thối và sự phản bội là một. Nhưng sự phản bội là một ý niệm, trong khi món thịt thối ta có thể phân tích hóa học của nó. Việc một ý tưởng có thể bị chi phối những tác động vật lý, từ việc hình thành nó, lưu trữ nó, thực thi nó, như trường hợp của tính do thn kinh (neuroplasticity). Tại sao một thuần vật lý lại có thể thay đổi niềm tin và thế giới quan của chúng ta? Có phải ý tưởng cũng có thể xem là đối tượng vật lý được?

Tôi cho rằng, để có thể nói được gì về dự án duy vật lý, thì không thể không tìm hiểu hai lĩnh vực này. Còn không thì sẽ mãi loanh quanh.

Tài liệu tham khảo:

Sẽ ổn thôi

Truyện cười vật lý

Một anh kỹ sư và một anh vật lý thuê chung một căn nhà. Một hôm, anh vật lý đi chơi, anh kỹ sư ở nhà ngủ. Nhà đột nhiên cháy to. Anh kỹ sư liền bật dậy, chộp ngay bình cứu hỏa, xịt cho đến khi lửa tắt. Sau đó anh yên tâm đi ngủ.

Ngày hôm sau, tới lượt anh kỹ sư đi chơi, anh vật lý ở nhà ngủ. Nhà lại cháy to tiếp. Anh vật lý chậm rãi đứng dậy, đến chỗ đám lửa ghi ghi chép chép tất cả các phương trình anh ta biết. Bài toán quá khó, anh vẫn chưa biết là mình có thể giải được nó chưa. Khi đang lơ đãng nhìn lên tường nhà, anh bỗng nhiên thấy cái bình cứu hỏa. Một tia chớp lóe sáng trong đầu anh, kết nối tất cả những gì anh biết về nó. Anh kết luận: tồn tại một nghiệm cho phương trình này. Lúc ấy, cuộc đời anh trở nên viên mãn, và anh yên tâm đi ngủ.