Emotion in aesthetics

Cảm xúc trong mỹ học

Đây là tóm tắt của mình sau khi đọc xong 3 chương đầu cuốn Cm xúc trong m hc. Sách xuất bản năm 1995, tác giả là Warren Shibles, giáo sư đại học Wisconsin-Whitewater. Cuốn sách dựa trên lý thuyết về nhận thức – cảm xúc của Beck và Ellis (một lý thuyết lớn trong tâm lý học), lý thuyết liên tưởng về nghĩa (association theory of meaning), và trích Wittgenstein khá nhiều. Tác giả có vẻ là dân triết học âm nhạc, vì âm nhạc được đem ra làm ví dụ khá nhiều. Giọng văn hơi thiếu tính trung lập, đưa ra nhiều mệnh đề khẳng định như thể là sự thật hiển nhiên, hầu như không dùng những cụm từ như “có thể”, “có vẻ”, “tôi nghĩ”. Mình nghĩ có thể là do tác giả cũng nghiên cứu về tu từ nên mới như vậy.

Nói chung mình nghĩ nếu ai quan tâm đến mỹ học cũng nên đọc qua vài trang.

Phần giới thiệu: Các khái niệm được dùng trong mỹ học có vô vàn cách hiểu khác nhau¹, và chính vì như vậy nên các triết gia chỉ đưa ra được những mệnh đề luẩn quẩn², hoặc ở tình trạng không hiểu ý của nhau, ông nói gà bà nói vịt. Mọi người đều nói về cảm xúc mà không hề đưa ra một định nghĩa nào (tại đang mải định nghĩa những khái niệm khác). Rốt cuộc, họ kết luận rằng mọi thứ chẳng đi được đến đâu, và từ bỏ hi vọng rằng có thể có một bước tiến nào đó trong ngành.

1. Mình gọi là những từ đồng âm khác nghĩa
2. Mình gọi là những từ đồng nghĩa khác âm

Chương 1: một thứ có thẩm mỹ là một thứ có giá trị. Mỹ học thực chất là đạo đức học. Các từ đồng nghĩa khác âm được thống kê lại.

Chương 2: cảm xúc (emotion) và cảm giác (feeling) là hai thứ khác nhau. Cảm xúc là những sự nhận thức sinh ra cảm giác. Cảm xúc thẩm mỹ (aesthetic emotions) chỉ có thể là các cảm xúc tích cực, không thể là cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc thẩm mỹ là một loại cảm xúc meta (cảm xúc về cảm xúc). Đối tượng thẩm mỹ chỉ là cách gọi khác của cảm xúc thẩm mỹ.

Chương 3: cảm xúc thẩm mỹ không phải là cảm xúc hằng ngày. Tuy nhiên nó sẽ có những đặc trưng của cảm xúc nó đang tái tạo (resemble) lại. Ví dụ như cảm xúc buồn-thẩm mỹ sẽ có những đặc tính của cảm xúc buồn-thông thường (sadness qualities, sad-making characteristics). Nhưng sự tái tạo này không phải là sự nhân hóa. Khi nói “một bản nhạc buồn” nghĩa là bản nhạc đó làm ta buồn, nhưng nói “một cái cây buồn” thì lại là vì ta nhân hóa nó, và gán cho nó những cảm xúc của ta, mặc dù cả hai câu đều có chung cú pháp.

St-Bernard
Nhìn mặt giống chó St. Bernard, ta thấy có nét buồn, mặc dù việc ta trông nó buồn không hề liên quan tới việc nó có thực sự buồn hay không.

Link trên Springer