banner

Phần 2: Thứ ông ấy làm lại là khoa học đúng nghĩa

Ở phần 1 là chuyện ông ấy nghĩ gì về khoa học. Vậy còn chính những gì ông ấy làm thì sao?

Cách thông thường để phát triển một phương pháp là đặt câu hỏi “Thử cái này xem sao?” hoặc “Thử cái kia xem sao? […] Cách nghĩ của tôi là “Không làm điều này thì sao nhỉ? Không làm điều kia thì sao nhỉ?” (18)

Vậy, bằng đúng phương pháp của ông ấy, ta có thể hỏi: không làm nông nghip t nhiên thì sao nh? Và ta cũng sẽ có được kết quả tương tự: chẳng việc gì phải làm nông nghiệp tự nhiên cả. Cả làng ông ấy không ai làm nông nghiệp tự nhiên, nhưng mọi người vẫn vui vẻ hòa thuận với nhau. Đất đai cằn cỗi ư? Chẳng phải cằn cỗi và màu mỡ là một sao? Tại sao lại phân biệt giữa cằn cỗi và màu mỡ? Tại sao lại phân biệt giữa tự nhiên và hóa chất? Cho rằng làm đất đai cằn cỗi là xấu, dùng thuốc hóa học là có hại, vậy có phải là tâm phân biệt, suy nghĩ nhị nguyên hay không? Tại sao không xem chúng là món quà mà tự nhiên ban tặng?

Tại sao ông ấy lại nhất quyết cho rằng hóa chất là độc hại? Ta hãy tiếp tục lần theo những suy nghĩ của ông ấy:

Người ta không thể biết đâu là nguyên nhân thật sự của căn bệnh trên cây thông, cũng như không thể biết hệ quả sau rốt của cách “chữa trị” mà hđưa ra. Nếu can thiệp bừa vào tình huống này thì người ta chỉ gieo mầm mống cho đại hoạ kế tiếp. Không, tôi không thể vui mừng khi biết rằng sự thiệt hại tức thời do loài mọt này gây ra đã được giảm thiểu nhờ vào việc phun hoá chất. Sử dụng hoá chất nông nghiệp là phương pháp dớ dẩn nhất đđối phó với những vấn đề như thế này, và nó chỉ dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai. (29)

Vậy với ông ấy, “hóa chất” nghĩa là “can thiệp bừa”, là “gieo mầm mống cho đại họa kế tiếp”, là “dẫn đến các vấn đề lớn hơn trong tương lai”. Nhưng nếu tôi nói rằng, loài tảo lam cũng tiết cyanotoxin một cách bừa bãi để hủy diệt hệ sinh thái địa phương thì sao? Vậy thật ra, loài người cũng chỉ đang học tập loài tảo lam vô tri vô giác đó thôi?

Ta cũng có thể hỏi tiếp: không nghĩ cách nghĩ ca ông y thì sao nh? Nếu ta cứ nghĩ như bình thường trước đây vẫn nghĩ thì sao? Lúc đó, ta sẽ nhận ra: thứ ông ấy đang phê phán là cứ làm việc theo quán tính mà không dừng lại để đánh giá, chứ không phải là bản thân chuyện đặt câu hỏi. Nếu trong câu hỏi của ta có tinh thần dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý, thì hỏi câu nào chẳng được?

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Lão Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, đặt nền móng cho triết học phương Tây. Và chính từ cái truyền thống triết học đó mà khoa học hình thành. Ông ấy nói là các nhà khoa học trước khi làm việc hãy trở thành triết gia (46), nhưng ông ấy quên rằng chính triết gia đã đẻ ra khoa học. Thật vậy, khoa học trước đây không được gọi là khoa học, mà được gọi là triết học tự nhiên. Chủ động thách thức những gì bản thân trước giờ vẫn nghĩ, chẳng phải là thấm đẫm trong cái nguyên tắc kiểm sai đó sao? Khoa hc không nói rng cái nào là đúng, cái nào là sai. Khoa hc ch cho phép ta không tin vào nhng gì nó nói. Vậy có phải, cái ông ấy làm cũng chính là tinh thần khoa học, mà ông ấy không nhận ra?

Sẽ thật là hồ đồ nếu vội kết luận như vậy, vì cho tới giờ vẫn chỉ là suy diễn. Ta hãy kiểm tra xem điều đó có đúng là như vậy không, bằng cách xem thế nào là làm theo phương pháp khoa học. Nó là một chuỗi tuần tự những bước sau: nêu giả thuyết, tiến hành thí nghiệm, phân tích kết quả. Sau khi giả thuyết đã được sàng lọc thì kết luận phải có tính tiên đoán kiểm sai. Ngoài ra, khi nghiên cứu còn phải tham khảo những nghiên cứu trước đó của những người đi trước. Nói như Newton là “đứng trên vai những người khổng lồ”. Tất cả những bước này chính là cái nguyên lý thực hành đã nói ở phần 1. Nếu bạn làm chúng, thì dù bạn có để ý là bạn có đang làm nó hay không, công việc của bạn cũng sẽ được xem là có tính khoa học.

Tôi thấy, những bước thực hành khoa học ông ấy đều làm đủ cả:

Ông ấy đề ra giả thuyết:

  • Tôi tin rằng cây trồng tự chúng mọc và không cần phải chăm sóc. (17)
  • Ý tưởng là không diệt cỏ ba lá mà chỉ làm chúng yếu đi để những cây mạ mọc vững trước đã. (35)
  • Những năm gần đây, tôi đang thử phát triển một giống lúa nếp cổ từ miền Nam. […] Tôi tin rằng với giống lúa này, một ngày nào đó tôi có thể gặt hái được sản lượng gần chạm tới ngưỡng tối đa về mặt lý thuyết có thể có, căn cứ trên năng lượng mặt trời đổ xuống cánh đồng. (36)

Ông ấy làm thí nghiệm nhiều lần để kiểm định giả thuyết. Sau khi thí nghiệm thì phân tích kết quả và loại bỏ giả thuyết sai:

  • Trong quá trình đi đến được câu trả lời, tôi đã cho 400 cây nữa đi tong. Cuối cùng thì tôi cảm thấy mình đã có thể nói một cách chắc chắn: “Đây chính là hình thái tự nhiên.” (18)
  • Trong hai mươi, ba mươi năm qua, phương pháp trồng lúa gạo và ngũ cốc mùa đông này đã được kiểm nghiệm trên diện rộng với nhiều kiểu thời tiết và điều kiện tự nhiên khác nhau. (22)
  • Tôi đã từng dùng cách thả hạt vào những lỗ nhỏ trên đất, hoặc vào những rãnh đất mà không phủ đất lên, nhưng tôi đều thất bại nhiều lần với cả hai phương pháp này. (33)
  • Những năm qua, tôi đã mắc nhiều sai sót trong quá trình thử nghiệm và đã gặp đủ loại thất bại. (34)

Ông ấy có sự kế thừa kiến thc/có trích dẫn nghiên cứu của người khác:

  • Gần đây, tôi có trao đổi về điều này với Giáo sư Iinuma ở Đại học Kyoto. Một nghìn năm trước, nông nghiệp được thực hành tại Nhật mà không có chuyện cày ruộng, và phải đến tận triều đại Tokugawa – khoảng 300-400 năm trước – thì việc cày xới sơ sơ một lớp mỏng trên bề mặt mới được đưa vào. (20)
  • Bệnh mọt ăn cây này, theo các nghiên cứu gần đây nhất không phải là lây nhiễm trực tiếp, mà xuất hiện theo sau hoạt động của loài giun tròn trung gian (28)

Giả thuyết sau khi được sàng lọc có tính tiên đoán và kim sai:

  • Ngay cả giống cỏ khó chịu như cỏ mần trầu, vấn đề khó khăn nhất gặp phải trong phương pháp không cày xới, cũng có thể kiểm soát được. (33)
  • Vào đầu tháng tám, khi những cây lúa trên ruộng của láng giềng đã cao ngang lưng, thì trên ruộng của tôi, chúng chỉ cao bằng một nửa. Tầm cuối tháng bảy, những người tới thăm ruộng luôn tỏ ra hoài nghi và hỏi: “Tiên sinh Fukuoka à, chỗ lúa này liệu có nên cơm cháo gì không?” “Chắc chứ,” tôi trả lời: “Không cần phải lo.” (35)
  • Một trong những giống cây thú vị nhất, dù chẳng phải cây bản địa, là cây keo Morishima. […] Nó giúp phòng tránh côn trùng phá hoại trong vườn, đóng vai trò chắn gió và loại vi khuẩn rhizobium sống trong rễ của nó làm màu mỡ thêm cho đất. (39)

Nểu giở mục lục cuốn sách ra, ta sẽ thấy ông ấy phân chia công việc làm nông rất ngăn nắp: cách cày xới đất, cách dùng phân bón, cách sử dụng rơm, cách trồng cây ăn quả, cách đối phó với sâu bệnh, cách ăn uống cân bằng, v.v. Hay trong một phần nhỏ như làm rơm, ông ấy lại tiếp tục chia ra thành: rải rơm còn nguyên chất, rơm làm màu mỡ đất, không cần chuẩn bị phân ủ, nảy mầm, v.v.  Bố cục cuốn sách rất rõ ràng, vậy không thể nói là ông ấy đang không chẻ nhỏ cái tổng thể thành những cái riêng lẻ được.

Tất cả những bước này đều vô cùng quan trọng để ông ấy đạt được mục đích của mình. Vậy có thể khẳng định, thứ gì ông ấy làm chính là khoa học đúng nghĩa.

banner

Phần 3: Khoa học có trong những triết lý của ông ấy

Ta hãy nói về sự tham lam. Cách đây vài tuần tôi có dịp đến Sun World Phú Quốc. Phải nói là chán. Hay nói như Thế Lữ thì là thế này:

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Nhưng trên đường đi đến đó tôi phải đi cáp treo qua biển. Và cảnh tượng phía dưới là tuyệt đẹp. Lúc đó là sau bão nên biển động, nước đánh mạnh vào các bãi đá ở dưới. Khi sóng rút, bọt trắng len lỏi giữa các rãnh đá, khá vuông vắn chứ không lộn xộn như bình thường. Tra ra thì đó có vẻ là cát kết xen lẫn cuội kết, hình thành từ kỷ Jura. Nghĩa là thứ đang ở trước mắt tôi đây đã có từ thời bọn khủng long còn sinh sống.

Tôi tự hỏi, không biết là có bao nhiêu con người chấp nhận bị nói là tham lam, để tôi có thể thấy được một cảnh đẹp đến thế. Những người ở cấp lãnh đạo thừa biết xây ra sẽ bị chỉ trích, nhưng họ vẫn mặc kệ dư luận để tiếp tục xây dựng. Họ cứ việc mình mình làm, không cần sự ủng hộ của người khác. Vậy chẳng phải là họ đang như con én đưa thoi mà không màng xem mùa xuân có đến hay không ư?

Họ tham lam, vậy đó là điều tốt. Ta nên ủng hộ sự tham lam của họ, tìm cách để giúp họ trở nên tham lam hơn. Hoặc hay hơn, là tham lam cùng với họ, trở thành một người tham lam hệt như họ. Nhưng có lẽ hay nhất, là từ đầu là một người tham lam. Tham lam tột cùng. Có thể làm được điều đó, thì ta mới thật sự không còn tham lam. Cứ tham lam đi, rồi những điều bất ngờ sẽ đến.

Đó là nói theo kiểu Lão, khi cứ khù khờ, không hay biết gì cả, sống cho riêng mình. Còn nói theo kiểu Phật, là từ bi hỷ xả. Một người cố gắng làm bánh mì ngon có thể làm bánh mì ngon biến mất. Nhưng nếu nhờ có nó mà con của họ hào hứng học tập, còn bản thân họ thấy cuộc sống có ý nghĩa, thì lúc đó bánh mì ngon có mất không? Khi cái mong muốn không phải là để thỏa mãn ham muốn bản thân, mà là để đạt được một góc nhìn cao hơn, rộng hơn, để đặt mình vào góc nhìn của người khác, thì ta đâu phải lo họ tham lam?

Điều gì khiến con én không dính chấp vào mùa xuân, nếu không phải là sự từ bi? Tôi nghĩ, nếu người dù phân biệt đến mấy có tâm từ bi, thì hành động của họ chẳng còn phân biệt gì nữa. Và ngược lại, nếu thấy một người khác đang phân biệt, thì hãy từ bi với họ mà phân biệt cùng họ. Dám biến mình thành người phân biệt là phép thử tốt nhất cho sự không phân biệt của chúng ta.

Sự từ bi sẽ phi-phân-biệt-hóa mọi suy nghĩ phân biệt. Nhờ có nó, ta có thể làm mà như không làm, ngồi im như tượng phỗng bằng cách chạy nhảy lung tung. Người vô dụng tham lam ở chỗ không phải vì họ không làm gì có ích, mà ở chỗ họ không giải thích cho người ngoài hiểu được chuyện mình đang làm. Người ngoài không hiểu thì không phải là lỗi của họ, nhưng bản thân người vô dụng lại để sự hiểu lầm tiếp tục xảy ra. Sự hiểu lầm đó làm gia tăng stress ở người ngoài, mà chỉ có sự giải thích của người vô dụng thì căng thẳng đó mới được giải tỏa.

Điều đó đòi hỏi người giác ngộ phải có khả năng tư duy trong sự trống rỗng. Tôi cho rằng các vị đã giác ngộ vẫn đang loay hoay không biết cách nào để chỉ ra được – một cách dễ hiểu và trực quan – cách để làm như thế.  Vì để giải thích cái ý trống rỗng còn chưa xong, thì thời gian đâu để giải thích cái ý thõng tay vào chợ? Tôi nghĩ rằng ông Fukuoka cũng đang loay hoay cho việc đó. Nếu không thì ông ấy đã chẳng hay nổi giận khi người khác không hiểu rồi. Vì người ta chỉ nổi giận khi họ thấy rối bời và bất lực.

Khoa học sẽ giúp ông ấy hết loay hoay. Hay nói đúng hơn, mọi suy nghĩ phân biệt sẽ giúp cho sự từ bi và trống rỗng đạt hiệu quả cao. Nếu có cả hai yếu tố này, thì một cuộc cách mạng rơm là hoàn toàn trong tầm tay.

banner

Kết luận

Cái từ “khoa học” đó đã bị biến nghĩa rồi. Thứ ông ấy nói không phải là khoa học đúng nghĩa. Nhưng thứ ông ấy làm, từ đầu chí cuối, lại là khoa học đúng nghĩa. Nghĩa là ông ấy nói một đằng làm một nẻo.

Ông ấy có thể đã giác ngộ, có thể là người vô vi. Ông ấy cũng là một chuyên gia nông nghiệp giỏi, có tầm nhìn xa. Nhưng khi nói về bản chất của khoa học, có lẽ ông ấy chưa hiểu đủ về nó. Mà nói về một thứ mà mình không hiểu gì, thì có lẽ đó không phải là tinh thần của thiền. Nhưng làm một thứ mà mình còn không nghĩ là mình đang làm nó, thì lại là tinh thần vô vi.

Đọc lại từ đầu

Đọc tiếp

Sẽ ổn thôi

Truyện cười vật lý

Một anh kỹ sư và một anh vật lý thuê chung một căn nhà. Một hôm, anh vật lý đi chơi, anh kỹ sư ở nhà ngủ. Nhà đột nhiên cháy to. Anh kỹ sư liền bật dậy, chộp ngay bình cứu hỏa, xịt cho đến khi lửa tắt. Sau đó anh yên tâm đi ngủ.

Ngày hôm sau, tới lượt anh kỹ sư đi chơi, anh vật lý ở nhà ngủ. Nhà lại cháy to tiếp. Anh vật lý chậm rãi đứng dậy, đến chỗ đám lửa ghi ghi chép chép tất cả các phương trình anh ta biết. Bài toán quá khó, anh vẫn chưa biết là mình có thể giải được nó chưa. Khi đang lơ đãng nhìn lên tường nhà, anh bỗng nhiên thấy cái bình cứu hỏa. Một tia chớp lóe sáng trong đầu anh, kết nối tất cả những gì anh biết về nó. Anh kết luận: tồn tại một nghiệm cho phương trình này. Lúc ấy, cuộc đời anh trở nên viên mãn, và anh yên tâm đi ngủ.

Album_of_18_Daoist_Paintings_-_13

Tại sao Đạo gia lại đề cao sự học?

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi.

Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”. Nhưng nếu ta tra vấn lại mối quan hệ ngữ nghĩa đó, thì nghĩa của “nóng” và “lạnh” sẽ thay đổi. Khi nghĩa này thay đổi, thì góc nhìn của ta cũng sẽ thay đổi theo. Tương tự với lập luận “ngựa trắng không phải là ngựa”. Khi Công Tôn Long tra vấn lại mối quan hệ giữa “ngựa” và “ngựa trắng”, lật lại cái ngầm định rằng ngựa trắng là ngựa, thì nghĩa của hai từ nay đã bị biến đổi. (Ta cũng có thể nói là nghĩa của từ “là” bị thay đổi cũng được.)

Điều này khác với trò chơi ngôn ngữ của Derrida. Ở đây vẫn là chuyện các từ có nghĩa, và góc nhìn của chủ thể được hình thành bởi nghĩa của từ (the perspective is created by word’s meaning).

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Trang Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, cơ sở của việc dạy học và trị liệu tâm lý hiện đại. Nên tôi nghĩ khi ta tra vấn những thứ ta ngầm định, nghĩa của từ bị biến đổi, và góc nhìn của bản thân cũng thay đổi theo (challenging assumption = meaning shifting = perspective changing).

Vì bản chất của ngôn ngữ là nghĩa luôn thay đổi, nếu nhận ra được điều đó thì ta có thể thoải mái dùng ngôn ngữ mà không sợ nó trói buộc mình nữa. Nói như nhà Phật thì là không còn chấp niệm nữa. Lúc đó thì những giận dữ, sợ hãi, kiêu ngạo do bị cố định vào một ý niệm không còn nữa, mà chắc chỉ ngồi nghệch mặt ra cười vì thấy một góc nhìn khác. Khi ta có thể tra vấn lại những thứ ta luôn tin là đúng, thì có khi thấy rằng nhiều khi cái mình cho là sai lại không sai nữa. Nếu sai lại hóa thành không sai, thì thật và ảo sẽ thành một. Nên tôi nghĩ khi Lão Tử nói “danh khả danh phi thường danh”, ông ấy đang nói rằng các từ luôn biến đổi nghĩa không ngừng.

Cũng vì luôn tạo ra được nét nghĩa mới của từ, mà ta sẽ luôn lách vào được những chỗ khó khăn để xử lý. Tôi nghĩ, nói ra bản chất của một thứ gì đó rất dễ, chứ không phải là bất khả đắc, bất khả tư nghị. Ví dụ, ta biết rằng vị chua của cam, quýt và chanh rất khác nhau, nhưng ta chỉ có thể diễn tả chung chung là chua, chứ không nói được gì hơn. Nhưng đó là do kiến thức ngầm rất khó để nói ra mà thôi. Nếu là một nhà nghiên cứu về tính acid của các cây họ cam, họ có thể nói ra được sự khác nhau đó mà vẫn súc tích dễ hiểu. Làm được những điều tưởng như bất khả một cách dễ dàng mới chính là tinh thần vô vi.

Để hiểu cụ thể hơn chuyện đó được xử lý thế nào, xin xem:
  1. Making concrete analogy and big picture
  2. Connections between cognitive linguistics, cognitive psychology, Buddhism and Daoism

Đạo gia với sự học

Năm mầu khiến người mù mắt.
Năm giọng khiến người điếc tai.
Năm mùi khiến người tê lưỡi.
Sải ngựa săn bắn,
Khiến lòng người hoá cuồng.

Đạo gia thường không đề cao kiến thức, vì cho rằng nó làm ta mù mắt, mù tai. Thật ra tôi nghĩ nó lại rất đề cao hiểu biết, chỉ là do vào ngày xưa thì không biết phải diễn tả nó ra sao mà thôi. Cái mù mắt, mù tai đơn giản là hiện tượng mồi (priming). Bạn có thể xem một thí nghiệm về nó ở đây.

Tuy vậy, vẫn có một điều gì đó bí ẩn mà ngay đến cả các học giả nghiên cứu Đạo gia cũng cảm thấy là họ sẽ không bao giờ làm vừa lòng được Trang Tử. Điều này được thể hiện rõ qua bài viết của Alan Jay Levinovitz, Trang Tử: Ngôi nhà cười của tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul):

Mỗi khi nói về Trang Tử, tôi đều cảm thấy không thoải mái, hệt như việc tôi thấy việc đoán ý của bạn mình rồi thay họ nói luôn không được hay cho lắm. Và không phải chỉ có mình tôi là thấy vậy. […] Thầy Trang […] có vẻ đã thiết kế công trình của mình sao cho mọi nỗ lực diễn giải nó đều bị kháng lại. […] Nhà Hán học và dịch giả Burton Watson đã tóm được cái cảm giác này như sau: “Mỗi khi tôi ngồi xuống và cố viết một cái gì đó thật nghiêm túc về Trang Tử, tôi thấy, ở đâu đó phía sau trong đầu mình, Trang Tử đang cười khùng khục với những nỗ lực khiên cưỡng và vô dụng như thế”

Thử hỏi, một người xem Trang Tử là bạn, mà nói cái gì cũng bị cười, thì còn làm gì được nữa?

Trước khi đi tiếp, ta hãy nhắc lại xem Đạo là gì. Theo như tác giả Edward Slingerland trong cuốn Vô vi như là một ẩn dụ tri nhận và lý tưởng tinh thần thời Chiến Quốc, thì với những nhà tư tưởng Trung Quốc thời đó:

Sự tích lũy kiến thức không được hiểu theo kiểu nắm bắt quy luật trừu tượng, mà bằng khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng (hòa hợp được với Đạo).

The culmination of knowledge is understood not in terms of a grasp of abstract principles but rather as an ability to move through the world and human society in a manner that is completely spontaneous and yet still fully in harmony with the normative order of the natural and human worlds—the Dao or “Way.”

Thế nào là “đi lại giữa thế giới”? Lấy ví dụ, bạn thấy nhà cháy to, và bạn cứ xông vào mà cứu người. Điều đó rất nguy hiểm, vì bạn không có đồ bảo hộ, cũng không được huấn luyện như lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nhờ trước đó bạn đã biết sơ về nguyên lý cứu người khi xảy ra hỏa hoạn (bò dưới sàn vì khi khói bay ở trên sẽ chừa không khí giàu oxy ở dưới, dùng khăn tẩm nước bịt mũi), mà đột nhiên nỗi sợ của bạn biến mất. Từ việc lửa, khói là một thứ nguy hiểm, chúng giờ chỉ là một trở ngại nhỏ đến mục tiêu của bạn, thậm chí là nơi bạn cảm thấy thân thuộc và an toàn, và bạn “move through the world”.

Phải ghi nhớ được những cái này thì mới đắc đạo được.

Tuy nhiên, để có thể đạt được sự tự phát mà vẫn hòa hợp được với mọi thứ đó, không thể không học hành nghiêm chỉnh. Đây đơn giản là cách bộ não hoạt động. Mà cách bộ não hoạt động cũng chính là một quy luật khách quan. Nếu ta đòi phải bỏ qua bước này, thì cái cảm giác hòa hợp với tự nhiên đó chỉ là cảm giác khoái chí vì mình hiểu được thứ mà người khác không hiểu. Nó sẽ bồi đắp cho sự tự tôn của mình, và điều này rất nguy hiểm, vì nó là thứ Đạo giáo cố gắng loại bỏ.

Nói gì thì nói, đã gọi là giả định ngầm thì không phải cứ muốn lật lại là sẽ lật được. Phải suy tư, phải học hành thì mới làm được. Và người học cũng không cảm thấy gò bó gì ở đó mà chỉ thấy vui khi mình có khả năng đi lại giữa thế giới một cách tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của nó. Nghĩa là họ đang vô vi.

Nên quay lại chuyện Trang Tử cười khùng khục, nếu Trang Tử cười những lúc người khác đang tập trung nghiêm túc, thì đơn gin là Trang T sai. Cố gắng làm vừa lòng Trang Tử chỉ càng làm cho Trang Tử thấy mình vẫn còn đang mắc kẹt. Cách tốt nhất là pht lờ và tiếp tc vic đang làm. Hoặc thậm chí là cưi ngưc li Trang T. Chỉ có như vậy mới làm Trang Tử cảm thấy hài lòng. Đó là câu trả lời mà Trang Tử mong ta nhận ra.

Nếu sau khi đọc xong bài này bạn thấy tôi chẳng hiểu gì về Đạo cả, thì bạn có thể đọc bài phản biện của chị Hà Thủy Nguyên Người biết Đạo thì không vui, rồi đọc bài trả lời của tôi ở đây.