GB. An art student paints a picture for a school  exhibition. 1961.

Bản ngã là gì nếu không phải là sự chú ý?

Ở đây tôi xem hai khái niệm “cái tôi” với “bản ngã” là một. “Bản ngã” (self) thì chính xác hơn, nhưng mọi người hay dùng từ “cái tôi” (ego) hơn. Nhưng vậy cũng hay. Khi dùng từ “bản ngã” nghĩa là tôi đang bàn luận nhiều hơn về bản chất của ý thức (thiên về triết học). Còn khi dùng từ “cái tôi” nghĩa là tôi đang bàn nhiều hơn về cách hiểu thông thường của mọi người về mặt tâm lý (folk psychology).

Do chưa đọc nhiều về Freud, Jung hay Lacan, nên tôi không dám lạm bàn các khái niệm trong đó.

Trong nhiều cuộc tranh luận, đặc biệt là ở các cuộc tranh luận lý giải tại sao các cuộc tranh luận thường chẳng đi tới đâu, thường mọi người sẽ dùng đến khái niệm “cái tôi” như là nguyên nhân của vấn đề. Ví dụ, như với status sau đây của anh Đỗ Hữu Chí, một người có tiếng trong giới họa sỹ truyện tranh, thì giải pháp cho mọi u mê lầm lạc là:

Tôi không thấy sự hữu ích khi sử dụng khái niệm “cái tôi” khi phân tích các vấn đề như vậy.

1

(a) Tôi phản đối quan điểm rằng cái tôi là thứ ám ảnh nhất của một con người. Tôi cho rằng với những ai biết suy nghĩ cho người khác thì điều ngược lại mới đúng: chẳng ai muốn mình có cái tôi cả. Nếu một người nhìn thấy họ có cái tôi, thì họ sẽ là những người hăng hái nhất đi tiêu diệt nó, chứ không đợi có người khác nói giùm họ. Nếu họ thấy mình đang áp đặt người khác, tự họ sẽ rút lại lời nói và thấy xấu hổ. Nên nếu khi có một vấn đề xảy ra và ta nói rằng đó là do cái tôi của họ quá lớn, họ sẽ thấy bối rối. Cái tôi đã bị giết rồi, sao giờ nó lại ở đây?

(b) Status nói rằng một người nào đó (tạm gọi là A) đánh giá tên sát nhân là xấu chứng tỏ A còn nhiều cái tôi, nên mới không trút bỏ được gánh nặng đánh giá. Chứ nếu không thì đã nhận ra hắn cũng đâu khác gì một cơn bão giết chết nhiều người. Nhưng bản thân tác giả (tức anh Chí) cũng đòi loại bỏ cái tôi ra khỏi đời sống, giống như người A đòi loại bỏ tên sát nhân vậy. Còn nếu tác giả đã chấp nhận rằng cái tôi cũng như một cơn bão, một cơn mưa, thì chỉ cần nói theo kiểu: “cái tôi làm ta có gánh nặng. Nó cũng là chuyện bình thường. Nhưng nếu cần hết gánh nặng thì phải nhận ra cái tôi là không có thực, vậy thôi”

(c) Giả sử có một cặp vợ chồng cãi nhau vì “cái tôi” của họ. Vậy thì cách giải quyết trong từng vấn đề cụ thể (tiền bạc, nuôi con, gia đình họ hàng hai bên) thế nào? Nếu một giải pháp làm hài lòng mọi bên được tìm ra, thì nhìn vào giải pháp đó ta cũng không thấy sự cần thiết của khái niệm “cái tôi”. Còn nếu còn phải cần dùng đến khái niệm đó, nói rằng “cái tôi của anh lớn, cái tôi của cô lớn”, thì có nghĩa là họ vẫn đang bế tắc.

(d) Từ các ý phía trên, tôi nghĩ nói rằng một người có cái tôi giống như bắt họ phải nhận một tội lỗi không biết từ đâu chui ra, một tội lỗi họ đã rất cố gắng để không phạm phải, một tội lỗi ngay cả quan tòa cũng phạm phải mà còn kết án ai, và một tội lỗi lỡ phạm vào rồi thì cũng không ai biết cách nào để khắc phục hậu quả vậy.

2

(a) Rõ ràng, nếu nhận ra trên đời này không có cái tôi nào, nếu nhận ra sự vô ích của nó, thì khái niệm “cái tôi” đã được cáo chung trong trí nhớ anh ấy rồi, và các cuộc bàn luận về sự cáo chung của nó cũng sẽ biến mất.

(b) Và nếu “cái tôi” đã được hiểu rõ rồi, nghĩa là ta đã có được cơ sở lý thuyết của nó. Giả sử bản chất của “cái tôi” là X, vậy tại sao ta không dùng thẳng X cho những bàn luận của mình, mà phải lòng vòng qua khái niệm “cái tôi”?

3

(a) Vậy X là gì? Khi anh ấy nói rằng đã hiểu rõ nó, anh ấy hiểu như thế nào?

Hiểu rằng các cá thể xung quanh ta, và chính bản thân ta nữa, hành xử như cách mà chúng ta đang hành xử, một cách hoàn toàn tự động, như những cỗ máy được lập trình sẵn, trong một ảo giác rằng mình đang có tự do lựa chọn, là một trong những hiểu biết căn bản trên con đường tìm hiểu tâm trí. Hiểu biết này giúp ta gỡ bỏ khá nhiều gánh nặng.

Tôi xin mạn phép giới thiệu anh ấy bài viết này, không biết anh ấy có thấy tương đồng không: What is the self if not that which pays attention? | Aeon Essays

Cái mà ta gọi là bản ngã, tôi xem nó là một tập hợp các mối quan tâm kết hợp với nhau, vốn không phải là một mối quan tâm đơn lẻ hoặc là tổng cơ học của từng mối quan tâm đơn lẻ. Nói cách khác, không phải việc bạn thích ăn mỳ udon, yêu thơ ca và hoa lily sẽ tạo nên bản ngã của bạn, mà nó là sự kết hợp giữa các mối quan tâm đó và các mối quan tâm khác nữa, tất cả sẽ cùng làm việc với nhau để định hướng hành vi của bạn.

Cụ thể hơn, một nhóm các mối quan tâm sẽ trở thành bản ngã ngay vào lúc nó thể hiện sự kiểm soát đối với các mối quan tâm khác. Nhu cầu kiểm soát đến từ việc các mối quan tâm cạnh tranh với nhau về nguồn tài nguyên chung. Giải pháp cho sự cạnh tranh này chính là sự chú ý. Thế nên theo tôi, vào thời điểm ta tiến hành quá trình chú ý, hoặc vào lúc quá trình chú ý ưu tiên mối quan tâm này hơn mối quan tâm khác, bản ngã trở nên hữu hình. Điều này sẽ chỉ xảy ra nếu ta có nhiều mối quan tâm khác nhau, và hai trong số chúng mâu thuẫn nhau. Vào ngay thời điểm sự chú ý bắt tay giải quyết mâu thuẫn này, bản ngã hình thành.

(b) Nên thay vì dùng khái niệm “cái tôi”, tôi nghĩ dùng khái niệm “sự chú ý” sẽ hợp lý hơn. Với một cơ sở lý thuyết mới này, ta có thể xây dựng lại những khái niệm liên quan đến “cái tôi”, vốn đã là một cơ sở lý thuyết rất tốt được nhiều người sử dụng, nhưng vẫn chưa đủ hữu ích để hướng dẫn người bị “kết án” bởi một “tội lỗi” họ đã cố gắng hết sức để không phạm vào nó. Ví dụ, thay vì dùng khái niệm “sự tham lam”, tôi sẽ thay bằng:

Sự chăm chú giúp người khác, nhưng lòng tốt đó đã bị quên quá lâu hoặc bỏ qua để sự giúp đỡ đó hiệu quả hơn, khiến cho người được tiếp nhận không nhận ra được lòng tốt đó và chỉ thấy sự đòi hỏi

Lý do người cho không nhận ra là mình quên, và người nhận quên rằng mình cần phải nhận ra là vì cả hai đang bị quá tải. Lý do họ bị quá tải là vì họ còn đang bận chú ý đến một cái khác.

Đúng là miêu tả như thế này thì dài, nhưng nó không phải là một bản án từ trời rơi xuống đầu họ. Với những khái niệm khác (“nỗi giận dữ”, “lòng căm hận”, “sự ức chế”, “lòng ngưỡng mộ”, “sự kỳ vọng”, “niềm tuyệt vọng”) cũng tương tự.

4

(a) Nếu nhận ra bản chất của cái tôi chính là sự chú ý, thì ngay lập tức mong muốn của ta để loại bỏ nó sẽ không còn nữa. Ta sẽ thấy cái tôi là một điều tự nhiên đến, tự nhiên đi, vì bản thân sự chú ý là một điều luôn gắn liền với mọi hoạt động của đời sống. Còn nếu không, việc sử dụng khái niệm “cái tôi” sẽ đánh lạc hướng bạn khỏi việc nhớ lại lý do tại sao bạn làm điều gì đó lúc đầu.

(b) Chắc ai cũng từng trải qua cái cảm giác đột nhiên thấy mình có thể tha thứ cho những sai lầm, thiếu sót của người khác. Cái khoảnh khắc ngộ ra đó, tôi cho rằng đó là khi bạn đã hiểu được rằng họ chỉ đang không để ý đến việc thứ họ muốn là để sự giúp đỡ của họ hiệu quả mà thôi. Tức là bạn đang chú ý vào quá trình chú ý của họ.

(c) Tương tự, nếu ta chú ý vào chính sự chú ý của ta, thì tự động tinh thần của ta sẽ thả lỏng, như thể một chiếc xe đang phóng rất nhanh đột nhiên được thả tay ga vậy. Tôi nghĩ đó chính là quán niệm của nhà Phật.

(d) Nói tóm lại, tôi cho rằng nếu vấn đề cái tôi bản chất chính là sự chú ý, thì cách để giải quyết vấn đề đó là chú ý vào sự chú ý.

5

Một câu hỏi tự nhiên cho việc này là “thế mối quan tâm (interest) là gì?” Về điểm này thì tôi có bài Duy vật lý dưới góc nhìn của vật lý và tâm lý học nhận thức để giải thích. Tôi nghĩ nếu những vấn đề này được giải quyết, thì câu hỏi bản chất của ý thức sẽ có thể dễ giải quyết hơn.

6

Trong một diễn biến khác, những năm qua tôi cũng đã tìm tòi để đề xuất một cách tiếp cận mới, thông qua dự án nghiên cứu về bản chất của “góc nhìn”. Người ta thường nói “luôn giữ cho góc nhìn của mình luôn tươi mới”, “nhìn vấn đề bằng nhiều góc nhìn khác nhau”, “đặt mình vào góc nhìn của người khác”, nhưng góc nhìn bản chất là gì thì vẫn còn mơ hồ. Chính vì mơ hồ như vậy, nên mới có chuyện nói thì dễ làm mới khó. Nghiên cứu của tôi tìm cách trả lời những câu hỏi như:

  • Bản chất của góc nhìn là gì?
  • Như thế nào thì gọi là có góc nhìn mới?
  • Bản chất của việc đặt mình vào góc nhìn của người khác là gì?
  • Tại sao hai người luôn bị bất đồng dù cả hai đều có ý tốt cho nhau?
  • v.v.

Câu chốt của nó là:

LẬT LẠI GIẢ ĐỊNH NGẦM= BIẾN ĐỔI NGHĨA CỦA TỪ= THAY ĐỔI GÓC NHÌN

Ưu điểm lớn nhất của lý thuyết này là tính dễ tưởng tượng. Tôi ưu tiên việc đề xuất một hình ảnh trực quan hơn sự chặt chẽ, vì bạn biết đấy, một bức tranh hơn ngàn lời nói. Với những ai đang kẹt trong vấn đề, thì họ cần nhiều trí tưởng tượng hơn là logic. Còn sau khi đã thoát khỏi vấn đề rồi, thì quay trở lại logic cũng không muộn.

Cả cái blog Quả Cầu này thật ra chỉ là phần ứng dụng của lý thuyết này mà thôi, là đỉnh ở phía trên của một tảng băng chìm. Bạn có thể đọc nó ở đây: A theory of perspective. Tuy nhiên, nó sẽ cần được viết lại thêm một lần nữa, và tôi cũng không đảm bảo là nó thực sự là một mô hình hợp lý đâu.

7

Nhưng dù vậy, nhờ có lý thuyết này mà tôi thôi trăn trở về việc Là dơi thì như thế nào? Là dơi hay là người thì cũng như nhau thôi, cũng là tổ hợp của các mối quan tâm. Mà các mối quan tâm này thì đều có thể giải thích bằng duy vật lý, thậm chí là có thể tưởng tượng ra mà không cần phải là dơi. Nhưng tôi cũng tự nhận mảng triết học của tôi khá yếu, nên có khi tôi chỉ đang nói bừa mà thôi. Hehe.

maxresdefault

Duy vật lý dưới góc nhìn của vật lý và tâm lý học nhận thức

Trước hết, tôi muốn nói đây hoàn toàn là quan điểm của tôi, cùng với các kiến thức được góp nhặt mỗi nơi một chỗ. Tất cả những gì tôi có thể mạnh mồm nói là tôi biết một chút về vật lý và tâm lý học nhận thức. Các kiến thức về các lĩnh vực khác của tôi có thể xem là vô giá trị.

Thế giới tự nhiên trong con mắt vật lý

Trước hết, tôi muốn có một sự soi xét với các sách vật lý viết cho độc giả phổ thông. Tôi không phủ nhận kiến thức chúng trình bày là chính xác, và đã miêu tả được vẻ đẹp của vật lý. Nhưng chúng vô tình khiến cho những ai khi nói đến vật lý sẽ nhớ đến các khái niệm như “thuyết tương đối”, “lực hấp dẫn”, “không thời gian”, “hố đen”, “cơ học lượng tử”, “nguyên lý bất định”, “hiệu ứng cánh bướm”, v.v. Chúng vốn là các thành tựu của thế kỷ 20, nhưng khi quá tập trung vào những chủ đề này, thì những gì cốt lõi của vật lý đã bị bỏ quên. Bản thân tôi cũng nghĩ nhiều nhà vật lý cũng không để ý đến điều này. Theo tôi nghĩ, nếu phải miêu tả thế giới vật lý trong hai từ, thì đó sẽ là sự đối xứng dao động tuần hoàn. Nếu phải giải thích hai cái này trong một bài viết ngắn, thì mình xin đề xuất bài này.

Dưới nhãn quan vật lý, thế giới là sự kết hợp của các dao động tuần hoàn. Những thứ tạo nên dao động đó được gọi là dao động tử. Tôi hiện đang không biết làm sao để miêu tả dao động tử cho một người chưa từng học vật lý hiểu chỉ trong một vài đoạn ngắn, nhưng với những người làm về âm thanh, âm nhạc thì họ sẽ quen thuộc hơn.

Như bạn xem trong clip, cái ta gọi là “bài hát” thực chất là sự kết hợp giữ vô vàn các sóng thành phần, và mỗi sóng được gọi là một dao động tử. Cái bàn cái ghế ta ngồi cũng là một sự kết hợp như thế. Nói như Sidney Coleman, nhà vật lý lý thuyết được xem là “nhà vật lý của các nhà vật lý”, thì “Một nhà vật lý lý thuyết trẻ xây dựng sự nghiệp của mình bằng việc làm việc với dao động tử điều hòa ở các cấp độ càng ngày càng trừu tượng hơn.” (“The career of a young theoretical physicist consists of treating the harmonic oscillator in ever-increasing levels of abstraction.”).

Các kích thích sinh lý và tâm lý

Tạm gác lại chủ đề vật lý, ta hãy sang lĩnh vực tâm lý học nhận thức. Hành vi của sinh vật chịu tác động bởi các kích thích từ môi trường, và người ta chia kích thích ra thành hai loại:

  • Kích thích sinh lý (physiological stimulation): là các kích thích năng lượng ở thế giới bên ngoài truyền vào các thụ thể (giác quan) và truyền đến não qua dây thần kinh. Ví dụ như da bạn thấy được sự chênh lệch nhiệt độ giữa cơ thể và miếng thép, thì nó sẽ gửi một tín hiệu thần kinh lên não bảo rằng nó “nóng” hoặc “lạnh”. Không khó để thấy rằng kích thích sinh lý hoàn toàn có thể được giải thích bằng vật lý.
  • Kích thích tâm lý (psychological stimulation): là các quá trình nhận thức như tri nhận, lý luận, cảm xúc, trải nghiệm, ghi nhớ. Ví dụ, mặt người yêu bạn sẽ sinh ra các cảm xúc vui, buồn, giận, ghét ở bạn. Hình ảnh “1+1” sẽ kích thích bạn nghĩ về số “2”. Tôi nghĩ rất có thể cái gọi là “tinh thần” cũng là một cách gọi khác của các kích thích tâm lý.

Ta khảo sát kỹ hơn kích thích tâm lý là gì. Bài Bản ngã là gì nếu không phải là sự chú ý? đăng trên tạp chí Aeon sẽ hướng sự quan tâm của ta về… mối quan tâm:

Cái mà ta gọi là bản ngã, tôi xem nó là một tập hợp các mối quan tâm kết hợp với nhau, vốn không phải là một mối quan tâm đơn lẻ hoặc là tổng cơ học của từng mối quan tâm đơn lẻ. Nói cách khác, không phải việc bạn thích ăn mỳ udon, yêu thơ ca và hoa lily sẽ tạo nên bản ngã của bạn, mà nó là sự kết hợp giữa các mối quan tâm đó và các mối quan tâm khác nữa, tất cả sẽ cùng làm việc với nhau để định hướng hành vi của bạn.

Cụ thể hơn, một nhóm các mối quan tâm sẽ trở thành bản ngã ngay vào lúc nó thể hiện sự kiểm soát đối với các mối quan tâm khác. Nhu cầu kiểm soát đến từ việc các mối quan tâm cạnh tranh với nhau về nguồn tài nguyên chung. Giải pháp cho sự cạnh tranh này chính là sự chú ý. Thế nên theo tôi, vào thời điểm ta tiến hành quá trình chú ý, hoặc vào lúc quá trình chú ý ưu tiên mối quan tâm này hơn mối quan tâm khác, bản ngã trở nên hữu hình. Điều này sẽ chỉ xảy ra nếu ta có nhiều mối quan tâm khác nhau, và hai trong số chúng mâu thuẫn nhau. Vào ngay thời điểm sự chú ý bắt tay giải quyết mâu thuẫn này, bản ngã hình thành.

Vậy nếu ta có thể giải thích được “mối quan tâm” là gì trên phương diện vật lý, thì các khái niệm như “bản ngã”, “sự chú ý”, “tinh thần”, v.v. cũng sẽ được giải thích theo. Tôi nghĩ rằng con đường để kết nối “tinh thần” với “vật chất” có thể được hiểu rõ hơn nếu khái niệm “dao động tử điều hòa” được chú ý và phổ cập rộng rãi hơn.

Có vẻ như hiện nay ta chưa tìm được ranh giới rõ ràng giữa kích thích sinh lý và kích thích tâm lý. Ví dụ, khi một một con rắn từ trên trời rơi xuống đầu bạn và làm bạn giật bắn người, thì sự hoảng sợ đó là kết quả của kích thích sinh lý (photon đập vào mắt từ con rắn) hay kích thích tâm lý (con rắn)? Hoặc khi bộ phận sinh dục được tác động (ve vuốt, ấn, nắn, v.v.), thì sự cực khoái là kết quả của kích thích sinh lý hay kích thích tâm lý? Có vẻ như các kích thích tâm lý không thể nào có nếu không có các kích thích sinh lý, và cứ hễ có kích thích sinh lý thì nhất định sẽ có kích thích tâm lý. Vy thay vì c tìm đnh nghĩa đ phân bit chúng ra, liu ta có th đt ra mt gi thiết rng chúng là mt?

Duy vật lý dưới góc nhìn của vật lý và tâm lý học nhận thức

Ta hãy làm rõ câu hỏi vừa nêu hơn bằng việc khảo sát xem tới mức nào thì nói một quá trình của sự sống (tức “tinh thần”) là “chỉ có các kích thích sinh lý” bắt đầu trở nên không thoải mái. Đầu tiên là hình thái sống đơn giản nhất: các sinh vật đơn bào. Có lẽ ai cũng sẽ đồng ý rằng chúng thì không có “ý thức”, “tinh thần”, hay “kích thích tâm lý” nào cả. Bạn sẽ thoải mái khi nói là chúng chỉ là tổ hợp các kích thích sinh lý, vốn được tạo thành từ các dđt. Sự khác biệt giữa các sinh vật đơn bào này với các hệ vật lý khác là chúng có khả năng tự sao chép chính mình, chỉ vậy thôi.

Khi chúng phát triển phức tạp hơn, từ đơn bào thành đa bào, và từ đa bào thành một sinh vật đa cơ quan, với mỗi cơ quan có một chức năng của riêng nó (bắt mồi, tiêu hóa, di chuyển), thì ta vẫn hoàn toàn thoải mái khi nói các phản xạ của chúng là các kích thích sinh lý, vốn là cách để tổ hợp các dđt. Miễn là nó đừng có lên kế hoch bắt mồi (núp con mồi, lẩn trốn kẻ thù), thì ta hoàn toàn thoải mái.

Chỉ đến khi nó có khả năng lên kế hoạch bắt mồi thì ta mới cảm thấy có cái gì đó sai sai khi nói nó “chỉ toàn kích thích sinh lý”, vì việc lên kế hoạch đòi hỏi các quá trình nhận thức như ghi nhớ, chú ý, giải quyết vấn đề, v.v. Nhưng nếu nhìn vào thật kỹ cái kế hoạch bắt mồi của nó, thì mục đích của nó cũng vẫn chỉ là làm sao để các dđt trong sinh vật được cộng hưởng nhiều nhất. Vậy tôi nghĩ, cái gọi là “tinh thần” cũng chỉ là một cách sắp xếp của các dđt mà thôi, sao cho chúng có khả năng tự sao chép chính mình được nhiều nhất.

Cụ thể hơn (dù tôi không chắc mình có đúng không), tôi nghĩ rằng bản chất của mối quan tâm là xu hướng tăng số lượng cộng hưởng của các dao động tử trong cơ thể. Ví dụ như khi một loạt photon từ miếng gỗ đập vào thụ thể của một con amip, thì nó sẽ kích thích một lượng electron trong thụ thể của nó đó lên mức năng lượng cao hơn (cộng hưởng). Nhưng nếu cũng bằng đó số photon nhưng từ con mồi của nó, thì số electron được cộng hưởng sẽ nhiều gấp đôi. Như vậy, để có thể tăng năng lượng của con amip đó lên, hệ sẽ di chuyển về phía đó. Ta gọi vật có khả năng làm tăng sự cộng hưởng đó là mối quan tâm, và khả năng di chuyển đến mối quan tâm là sự nhận thức sơ khởi.

Khi gặp một miếng thịt thối, chúng ta cảm thấy kinh tởm. Khi gặp một con người phản bội, chúng ta cũng cảm thấy kinh tởm. Nếu hai sự kinh tởm này là giống nhau, thì về mặt bản thể món thịt thối và sự phản bội là một. Nhưng sự phản bội là một ý niệm, trong khi món thịt thối ta có thể phân tích hóa học của nó. Việc một ý tưởng có thể bị chi phối những tác động vật lý, từ việc hình thành nó, lưu trữ nó, thực thi nó, như trường hợp của tính do thn kinh (neuroplasticity). Tại sao một thuần vật lý lại có thể thay đổi niềm tin và thế giới quan của chúng ta? Có phải ý tưởng cũng có thể xem là đối tượng vật lý được?

Tôi cho rằng, để có thể nói được gì về dự án duy vật lý, thì không thể không tìm hiểu hai lĩnh vực này. Còn không thì sẽ mãi loanh quanh.

Tài liệu tham khảo:

Album_of_18_Daoist_Paintings_-_13

Tại sao “đúng sai miễn bàn” lại không phải là quan điểm của Đạo giáo?

Bài này đáng lý ra chỉ bàn về Đạo giáo, không phải Phật giáo. Nhưng tôi xin được vay mượn một vài thuật ngữ của bên Phật vào đây cho tiện diễn đạt.

Ta hãy bắt đầu bằng quan điểm “đúng với sai là một” trước. Theo quan sát và thống kê của tôi, thì tùy hoàn cảnh cụ thể mà nó có những cách hiểu sau:

  • Cái mình nghĩ là đúng cũng có thể là sai với người khác (nói theo tâm lý học hiện đại thì đây chính là naïve realism)
  • Cái mình nghĩ là đúng nếu tìm hiểu thêm sẽ thấy hóa ra là ngược lại (nói theo tâm lý học hiện đại thì đây là trị liệu nhận thức)
  • Bất kỳ quan điểm nào cũng phải dựa trên một hệ tiên đề nào đó. Mà vì các tiên đề có thể lựa chọn bất kỳ, nên phải nhận ra là đó chỉ là vấn đề hệ quy chiếu mà thôi

Nhưng tôi nghĩ nó tuyệt nhiên không phải là ý:

  • Đúng và sai có giá trị ngang nhau

Vì nếu bảo đúng với sai có giá trị ngang nhau, thì phải nói là làm đúng cũng như làm sai. Mà nếu nói làm đúng cũng như làm sai, thì cũng phải nói là làm việc thiện cũng ngang bằng với làm việc ác, có tâm tham sân si cũng ngang với có tâm từ bi hỷ xả. Mà vậy thì sao gọi là để Đạo dẫn dắt được?

Nhưng tiếc là có rất nhiều người lại vô tình dùng nó theo cái ý sai như vậy. Và khi hiểu sai như vậy, cộng thêm cái ý “đừng hý luận nữa, ngôn ngữ không thể lột tả được hết đâu”, họ sẽ nâng cái ý “đúng với sai là một” thành “đúng sai miễn bàn”. Mà khi quan niệm như vậy, họ sẽ dễ dàng gạt bác bỏ quan điểm của người khác và rơi vào thiên kiến xác nhận.

Tại sao lại không dễ nhận ra điều này?

Giả sử rằng ta đang có quan niệm A1: cái mình nghĩ là đúng cũng có thể là sai với người khác. Sau khi đi đến kết luận như vậy, ý đó sẽ được rút gọn lại thành B: đúng với sai là một, và sẽ giữ lại cấu trúc đó. Nhưng tại sao lại cần rút gọn như vậy? Vì trí nhớ ngắn hạn của chúng ta chỉ giữ được 3 đến 4 thông tin cùng lúc. Để có thể xử lý các thông tin tiếp mà ý gốc cùng tham gia, não sẽ cần bỏ bớt một vài thông tin trong câu cho trống chỗ. Vì thành tố đúngsai trong A1 có trọng lượng lớn hơn cái mình nghĩ, nên cái mình nghĩ sẽ được ngầm hiểu và lược bỏ, và đúngsai sẽ được giữ lại trên lớp vỏ ngôn ngữ cho lập luận kế tiếp. Nói cách khác, ý gốc đã được biến đổi thành đúng với sai là một để phù hợp với việc lưu trữ trong não.

Nhưng rắc rối là khi lôi đúng với sai là một ra để dùng lại, nó không còn đúng theo ý gốc, mà là biến thành A2: đúng với sai có giá trị ngang nhau. Trong khi A2 chỉ trùng với A1 ở B mà thôi, chứ nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Nói cách khác, A1 và A2 là hai ý đồng âm khác nghĩa.

Để tránh lẫn lộn, cần phải hiển ngôn được chính xác ý mình nói ra. Nếu không thì tuy ta đến với nó với cách hiểu đúng, nhưng thứ thấm vào trong người ta lại là cách hiểu sai.

Mà rắc rối hơn nữa, là Đạo gia lại cổ vũ sự vô ngôn. Nếu không có cách nào hiển ngôn được chính xác ý mình nói ra, thì cách hiểu sai lại càng được dịp phát tán.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta hiểu nó sai?

Lúc đó những lời ta nói chỉ là sáo rỗng, và những câu như “Đạo khả đạo phi thường đạo” chỉ là một sáo ngữ chặn họng (thought-terminating cliché) không hơn không kém. Còn không thì nó chỉ là cái cớ để nuông chiều bản thân. Nó chẳng khác gì cái status này cả: 

Cái tiền đề rằng Đạo là một thứ gì đó nằm ngoài khả năng nhận thức của con người hoàn toàn hợp lý, và tôi hoàn toàn tôn trọng quan điểm này. Nhưng tôi cho rằng cái khoảnh khắc ta quyết định không nói gì về Đạo nữa chính là cái khoảnh khắc ta chấp nhận trở thành nạn nhân của thiên kiến xác nhận. Nếu ta chỉ hoài nghi bản thân cách hời hợt, cho có lệ, và tin vào trực giác của mình một cách mù quáng, thì ta đã không còn để cho Đạo dẫn dắt nữa. Đặc biệt là khi nó rơi vào tay của những người có rối loạn tâm lý: sự cộng hưởng của hai cái này còn khủng khiếp đến bao nhiêu. 

Qua trải nghiệm cá nhân của tôi với những người học Phật hoặc Lão, hầu như tất cả đều chưa làm tới nơi tới chốn việc hoài nghi hiểu biết của mình. Và đó đều là những người hiểu biết rất rộng, nhiều năm thực hành, thậm chí có người còn có minh sư hướng dẫn.

sasuke-vs-naruto1

Rắc rối 1: Bị nói là không biết tôn trọng sự khó chịu của họ

Ai đọc Naruto rồi thì có thể lấy hình ảnh Naruto cố gắng thuyết phục Sasuke quay về làm ví dụ cũng được.

Vì cũng giống như bạn, họ cũng có một xác quyết là bạn là người sai, nên họ sẽ không nghĩ rằng mình mới là người cần thay đổi. Bạn đụng vào đó nghĩa là đụng vào bức tường họ dựng lên để bảo vệ mình. Vì sự từ bi làm cho những lời chỉ trích như nước đổ lá khoai, nên xác định thái độ từ bi cũng chính là xác định thái độ không quan tâm tới sự khó chịu của họ. Chắc chắn, nếu bạn chọn con đường này, bạn sẽ bị xem là người quấy rối.

Đã gọi là có định kiến, tức là họ đã xem thường bạn. Vì đi guốc trong bụng họ, nên những trốn tránh, chống đối, coi thường, định kiến, phớt lờ, hoặc thậm chí là chế giễu của họ chẳng đáng để bạn bận tâm. Thứ duy nhất bạn quan tâm là có giữ vững được sự tò mò của mình hay không. Chỉ cần bạn còn tập trung vào tìm kiếm cái sai của mình, thì những chế giễu của họ sẽ như nước đổ lá khoai, những xỉa xói của họ như gió thoảng qua tai, những tổn thương họ gây ra cho bạn đau như muỗi chích, và những khó chịu của họ như chưa từng hiện hữu.

Việc họ cảm thấy khó chịu với bạn là việc của họ, xuất phát từ định kiến của họ. Nếu vì định kiến mà không lắng nghe, thì không có lý do gì bạn phải chịu trách nhiệm về nó cả. Có thể bạn đang áp đặt họ thật, nhưng họ càng nói càng thiếu logic. Bạn tôn trọng sự khó chịu của họ, nhưng sự khó chịu đó không liên quan gì tới việc họ cần thấy được lỗ hổng của chính mình. Tuy trên bề mặt bạn là người phải tìm cách để giải thích với họ cho hiểu, nhưng thực chất họ mới là người phải giải thích rõ ràng.

Bạn sẽ không chỉ bảo vệ sự tò mò của mình, mà còn bảo vệ sự tò mò của họ nữa. Bạn sẽ làm tất cả để khơi gợi sự tò mò của họ, để họ thấy điều họ nghĩ là sai mười mươi hóa ra lại thú vị hơn họ tưởng. Họ càng chống đối, bạn càng hỏi thêm. Có liên tục tra vấn quan điểm của nhau thì mới có một cuộc trao đổi lành mạnh. Vì từ bi với họ, vì để bảo vệ sự tò mò của chính họ, bạn sẽ tập thói quen tra vấn họ tới cùng, dù điều đó làm họ khó chịu đến đâu. Bạn chấp nhận mọi thứ, vì đó là điều tốt nhất bạn có thể làm cho họ. Nếu ai muốn được người khác từ bi với mình, họ cần hiểu rằng sự từ bi sẽ gây ra sự khó chịu khủng khiếp. Cho rằng sự khó chịu của mình đáng giá hơn việc vượt qua nó là đang tự tước bỏ cơ hội nhận được sự từ bi từ người khác.

Im lặng là phản ứng tự nhiên của họ khi cho rằng có nói chuyện với bạn cũng vô ích. Nhưng khi bạn tò mò, bạn cũng sẽ lại cảm thấy hai người dường như chưa hề có mâu thuẫn gì. Bạn càng tò mò với cái sai của mình bao nhiêu, thì bạn cũng xem họ cũng có sự tò mò với chính cái sai của họ bấy nhiêu. Bạn làm điều này là vì đó là điều tốt nên có, và bạn từ chối tin rằng họ không có điều tốt đó. Nên trái ngược với tâm lý thông thường là nếu bị phản ứng lại thì sẽ ngại không muốn nói thêm vào nữa, thì ở đây sự tò mò của bạn sẽ đơn giản là làm mất nỗi sợ đó, làm bạn thấy giống như chưa hề có mâu thuẫn gì cả. Bạn chỉ có nhiệm vụ khơi gợi cho họ sự tò mò họ chưa bao giờ đánh mất/đã đánh mất từ lâu.

Ta hãy nói về chữ thứ tư trong cụm “từ bi hỷ xả”. Khi bạn xả, thì sự phân biệt giữa bạn với họ biến mất, và cả hai nhập vào làm một. Họ cảm thấy gì thì bạn cũng cảm thấy thế. Nên khi bị họ nói là bạn với họ là hai người khác nhau, rằng cuộc sống của bạn và cuộc sống của họ là khác nhau, bạn sẽ bối rối vô cùng.

Đặc biệt, nếu họ cũng là người theo Đạo (xem thêm bài Khi đạo sĩ gặp rối loạn tâm lý), thì sự bối rối đó lại tăng gấp bội. Một trong những yếu tố quan trọng để họ thấy được đại Đạo trong xã hội loài người là phải luôn giả sử rằng mọi người ai cũng có lòng tốt (assume good faith). Nhờ có sự tốt bụng đó mà người theo Đạo mới có thể biến hóa đến như vậy. Nên khi nhận ra họ nói nghe hoành tráng lắm mà làm cũng chẳng được, bạn sẽ bò lăn ra mà cười.

Nếu một ai đó chỉ nhìn thấy những gì bên ngoài, thì đây quả đúng là sự áp đặt quan điểm bản thân và thiếu tôn trọng người khác. Nhưng một lần nữa, tiền đề ở đây là bạn không dám nói những gì cần phải nói. Tất cả những thông tin quan trọng đã bị giấu đi vì bạn chưa cho phép mình tin vào nó. Nếu ban đầu bạn có nghi ngờ về bản thân, vậy thì đây là từ bi đúng nghĩa chứ không phải na ná từ bi.

Tham gia một cuộc tranh luận không chỉ là mỗi đi thuyết phục họ, mà còn là sẵn sàng để cho họ thuyết phục mình. Trong trường hợp này, bạn phải sẵn sàng cho việc để họ biến bạn từ một người nhất quyết rằng mình đang sai (trái ngược với họ) thành một người quả quyết rằng mình đang đúng (giống như họ) thì bạn mới có thể đưa ra thông tin mà bạn không dám nói.

Phần 0, Rắc rối 3, Giải pháp

Master cries

Rắc rối 2: Phải chịu những hậu quả của dính mắc mặc dù mình không có

Nói đi cũng phải nói lại. Mặc dù trên lý thuyết, từ bi không liên quan gì tới việc có quan hệ tình cảm với họ, nhưng trên thực tế, nếu bạn bỏ ra không ít thời gian và công sức để cho họ thấy là họ đang sai, thì không thể nói là không có. Phải có một lý do nào đó để bạn chọn ở lại với họ, ngay cả khi họ làm bạn tổn thương rất lớn.

Tại sao bạn lại có động lực lớn đến như vậy? Vì bạn biết họ mạnh mẽ. Bạn nhìn ra sự mạnh mẽ của họ, và mong họ được trở thành chính họ chứ không phải ai khác. Bạn không bỏ đi vì biết rằng họ không đáng để chịu dằn vặt đến hết đời, và nếu bạn không giúp thì họ sẽ không thể tự mình tìm được đường ra. Không thiếu những mầm cây tốt chết khô, và thêm một cây nữa thì cũng là chuyện bình thường, nhưng nếu có cơ hội thì bạn vẫn muốn vun trồng để thấy nó tốt tươi.

Bạn còn vướng mắc vào cái gì? Vào cái phiên bản tốt hơn trong tương lai của họ. Bạn biết đây không phải là mộng tưởng gì cả, vì đây chỉ đơn giản là vấn đề logic: một khi họ đã thấy được lỗ hổng trong thế giới quan của mình, thì họ sẽ tự xoay xở được mà không cần bạn giúp nữa. Mà đã gọi là logic, thì nó có giá trị phổ quát; bất kỳ ai, bất kỳ tính cách nào, bất kỳ sự đa dạng nào cũng sẽ chấp nhận nó như một nguyên lý bất biến.

Để có thể xây dựng một hệ thống thế giới quan mới cho họ, với những niềm tin mới, bạn cần có một cơ sở lý thuyết cho nó. Để làm được điều này, bạn cần tập trung suy nghĩ. Vấn đề là, não của bạn chỉ có thể xử lý được một việc một lúc; để bảo vệ quá trình chú ý và ghi nhớ thông tin của não, những khúc mắc của bạn cần được giải đáp khẩn trương để còn làm tiếp công việc tiếp theo. Mọi luật lệ, ràng buộc, thiếu linh hoạt là đều để bảo vệ quá trình tư duy của những người trong hệ thống đó. Tôi nghĩ mọi dính mắc, về bản chất, là để bảo vệ não.

Đây không chỉ là lý do làm họ cảm thấy bạn áp đặt họ, mà còn là lý do làm bạn còn cảm xúc với họ. Nếu bạn xây dựng một niềm tin mới cho họ, thì bạn còn cần nghĩ về những thông tin họ nói, và còn cần sự xác nhận của họ. Nhưng nếu bạn còn nhớ về những lời họ nói và còn chờ đợi họ, thì bạn sẽ còn dày vò bản thân. Bạn sẽ còn dằn vặt, day dứt, cay đắng, đau lòng, trầm tư, thất vọng, sợ hãi. Chúng không phải là dính mắc thật sự, vì chúng xuất phát từ lòng từ bi, nhưng những gì chúng biểu hiện ra thì đều là dính mắc. Nếu chúng trông không khác gì dính mắc, tôi sẽ gọi chúng là những giả dính mắc (pseudoattachment).

Cảnh trong phim Xuân hạ thu đông rồi lại xuân. Vị cao tăng khóc vì đồ đệ đã làm ông thất vọng.

Bằng việc ủy thác sự từ bi vào trong giả dính mắc, sự tò mò của bạn có rộng đường để phát triển. Nhưng bản thân sự tò mò có một bất lợi, là bạn sẽ tìm ra được cách thức để có lợi cho mình. Giả dụ bạn hay đi tàu thường xuyên. Vào một ngày rỗi rãi nào đó, bạn quyết định khám phá ga tàu như một thế giới bạn trước giờ chỉ đi lướt qua chứ chưa bao giờ nhìn cho kỹ. Vô tình bạn phát hiện được cửa sau của ga. Thế là từ lúc đó bạn cứ me cửa đó mà đi để khỏi phải mua vé. Tự nhiên trao cho loài người sự tò mò hơn hẳn các loài khác, và nhờ sự tò mò đó mà chúng ta có thể sử dụng năng lượng một cách tối ưu. Vì vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ tiết kiệm năng lượng, nên người tham lam cũng là người hòa hợp được với tự nhiên. Curiosity fuels greed.

Nếu cửa sau đó bị đóng lại, thì bạn sẽ tiếc. Không phải tiếc nuối vì từ nay lại phải mua vé, mà luyến tiếc vì mình không còn là một phần của nhà ga nữa. Là một người tò mò, bạn sẽ muốn hỏi tại sao cửa lại bị đóng. Nhưng vì đã nhận được lợi ích từ việc trốn vé, bạn sẽ thấy là câu hỏi của mình không còn vô tư nữa, mà sẽ luôn bị điều khiển bởi sự tiếc nuối kia. Khi nhận thức được là lẩn khuất trong sự vô tư giúp đỡ họ có sự ích kỷ cho bản thân, bạn sẽ lại càng lo lắng là mình sai.

Nói theo tâm lý học, thì cái giả dính mắc này chính là mối quan hệ song đôi. Bạn có thể là yên tâm mà làm, nhưng khi chúng nổi lên thì bạn nên tỉnh táo kéo mình về. Sự bao dung của bạn sẽ bị chúng che khuất, và bạn cần phải bóc tách các yếu tố này ra để sự bao dung của mình lộ diện thường trực. Ghi chú một cách cẩn thận là cách để những gì mình nói không bị bóp méo.

Tôi không nói là những việc này hoàn toàn không phải là dính mắc, vì rõ ràng bạn có dính mắc với phiên bản tốt hơn của họ kia mà. Nhưng tôi nghĩ loại dính mắc này “đẳng cấp” hơn các loại dính mắc mà mọi người hay nhắc đến, và có lẽ là loại dính mắc duy nhất Phật tổ cho phép xài. Rốt cuộc thì, cái giả dính mắc này xuất phát từ sự dính mắc của họ, nên chắc cần hai cái sai để thành một cái đúng. Ở đây tôi không bàn về sự giải thoát như truyền thống Phật giáo hay nói đến, mà chỉ khảo sát xem nên chọn loại dính mắc nào cho phù hợp. Bản thân tôi cũng cho rằng chưa ai tìm hiểu loại dính mắc này thật cặn kẽ.

Đó là chưa kể, sự giả dính mắc này còn xuất hiện là do sự biến nghĩa của ý niệm nữa. Sự biến nghĩa này liên quan chặt chẽ tới quá trình ghi nhớ của não. Ví dụ như hôm nay bạn nói:

Tôi dính mc vi cái phiên bn tt hơn ca bn

Thì hôm sau khi nhớ lại, câu đó bị biến thành:

Tôi dính mc vi bn

Và sang hôm sau nữa thì câu đó bị biến thành:

Tôi dính mc vi cái quá kh đã qua ca bn

Tam sao thất bản. Tất cả những gì bạn đã làm để có thể mạnh dạn kết luận điều mình làm là từ bi sẽ bị chính não bạn đổ sông đổ biển. Một vòng luẩn quẩn mới lại bắt đầu.

Nếu như phải gặp họ khi chưa sẵn sàng sử dụng quyền mình cho là đúng, bạn cần chuẩn bị kỹ. Và bạn sẽ phải tập luyện, tự kỷ ám nhiều lần, để khi tiếp xúc với họ thì mặt bạn lạnh như băng, và sự mong cầu sẽ không nổi lên làm nhiễu thông điệp của bạn. Bạn phải đảm bảo thật chắc chắn là hành động và sự quan tâm của bạn dứt khoát và khoan thai như một người hoàn toàn thờ ơ với họ thì họ mới tin. Có thể bạn sẽ áy náy vô cùng vì dám làm thế, nhưng thôi làm quách cho xong. Bạn áy náy vì nghĩ rằng mình đúng không có nghĩa là bạn sai.

Phần 0, Rắc rối 1, Giải pháp

Master cries

Rắc rối 3: Người ngoài không hiểu bạn

Để thuận tiện, ở phần này tôi sẽ đặt tên cho người được từ bi là Megan, và dùng từ “họ” cho người ở ngoài (các phần khác “họ” là để chỉ Megan).

Đây là bạn:

Đây là Megan:

Còn đây là họ:

Trong xkcd thì nhân vật này tên là Danish

Họ còn nhiều ngờ vực

Nếu như bạn ngờ vực bản thân một, thì họ sẽ ngờ vực bạn mười. Với những ai cảm thấy có động lực để trả lời bạn (bạn bè, người thân, nhà tham vấn), họ sẽ dựa vào rắc rối 2 mà cho rằng bạn còn tình cảm. Khi bạn xem sự đẩy ra của Megan là tất nhiên, thì họ sẽ càng không hiểu nổi. Họ sẽ cố lay chuyển bạn, mong bạn tỉnh ra. Họ sẽ thấy vô cùng mâu thuẫn, vì một mặt bạn rất cứng nhắc trong suy nghĩ, nhưng mặt khác lại vô cùng cởi mở và hiểu biết. Họ sẽ thấy bạn rất lạ, vì có vẻ bạn không hề tiếp thu suy nghĩ của họ, nhưng lại rất quan tâm tại sao họ lại không đồng ý. Họ sẽ thấy bạn vô cùng ích kỷ, nhưng lại thấy chưa ai vị tha và dũng cảm bằng bạn.

Bạn sẽ rất ngạc nhiên vì nếu họ không hiểu thì họ nên đặt câu hỏi, chứ không phải đưa ra kết luận vội vàng như vậy. Bạn muốn xổ toẹt ra điều đó, nhưng một lần nữa bạn sẽ không dám làm. Chừng nào bạn còn cẩn trọng với bản thân mình, thì bạn sẽ còn từ chối nói những gì cần nói. Vả lại, gắt lên để làm gì, khi ưu tiên của bạn là tìm ra điểm sai? Bạn biết chỉ cần bạn nói một câu thôi là họ bị khủng hoảng ngay, nhưng bạn không hào hứng với việc đó.

Bạn sẽ luôn nhường cho họ nói, tránh làm gián đoạn mạch suy nghĩ của họ. Bạn thật sự tò mò với lời nói của họ, mặc dù trong thâm tâm bạn chỉ bực bản thân thêm, vì để họ nói nghĩa là tốn thì giờ của cả hai. Họ không nhận ra một điều là trong khi họ cáo buộc bạn đang áp đặt lên Megan, thì chính họ lại là người áp đặt lên bạn. Khi họ còn chưa tin, thì về cơ bản họ đang cố giết bạn bằng lòng tốt của mình.

Tất nhiên là bạn vẫn sống nhăn. Không những sống nhăn mà còn chỉ cho họ chỗ để giết mình hiệu quả nhất. “Uýnh vào đầu nhiều máu lắm nè. Thọt ở dưới chắc là đau lắm.” Vì bạn đến gặp họ để kiểm tra xem mình có sai chỗ nào không, nên bạn sẽ tìm cách làm cho lập luận của h sắc bén hơn. Với sự thành thực của bạn, đa số mọi người sẽ dần dần bị thuyết phục. Nhưng với những ai có cùng thế giới quan của Megan, họ vẫn sẽ không thể tin, và tìm đủ mọi cách để phủ nhận. Mỗi lần cả hai sắp chạm đến gốc rễ của vấn đề thì họ sẽ tìm cách để nói là không được. Khi bạn chỉ ra những lập luận sai khiến họ không còn cách nào khác và buộc phải nhìn thẳng vào sự thật trước mắt, họ sẽ gào lên và nói bạn điên rồ và hoang đường.

Họ sẽ không nhìn vào bằng chứng, nhưng lại kết luận là bạn không có bằng chứng. Bạn có bịa cái gì đâu? Nếu không tin họ cứ việc tự mình kiểm tra. Sự mâu thuẫn của họ quả là rất hài hước, và những gì bạn nói sẽ bị họ bóp méo đến buồn cười. Dường như với họ, một sự tò mò thuần túy là bất khả. Nếu bạn chưa thể cho mình cái quyền là mình đúng, thì cuộc nói chuyện có thành công hay không sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào việc họ có tò mò với chuyện của bạn hay không. Mà điều này đơn giản là họ không có.

Họ sẽ nói là hãy để cô tự thấy có nhu cầu nghe bạn, còn không thì hãy để cô tự ngụp lặn cho đến khi nhận ra. Nhưng một lần nữa, bạn không mặc kệ cô vì cho rằng cô không đáng để cứ mãi dằn vặt mình. Có những hệ thống niềm tin sai lạc vượt ra khỏi khả năng xử lý thông tin của não, và nếu như cứ để kệ thì muôn đời cũng không thể thoát ra.

Lệch đường nhất là họ sẽ bảo Megan rất ổn. Tất nhiên, bên ngoài thì ai mà chẳng ổn, nhưng những cái ổn đó chỉ là cách để cô che đậy nỗi sợ của mình. Nếu không khó để thấy sự bất ổn của Megan mà vẫn nói là cô ổn, vậy thì họ đang tự lừa dối mình. Họ thật ra chỉ đang dung dưỡng cho bất ổn của cô, và sự từ bi của họ chưa đủ lớn.

Khi họ chỉ trích bạn, sẽ đôi lúc bạn mỉm cười với họ. Nụ cười này là sự trộn lẫn giữa lo lắng rằng mình đang sai, nhất trí với sự lo lắng của họ, thông cảm với việc họ không thể hiểu được tại sao, bao dung khi họ hoảng hốt, và buồn vì họ không biết đặt mình vào vị trí người khác. Sự xuất hiện của nó sẽ làm họ dừng lại và cân nhắc lời mình nói kỹ hơn. Khi nhìn vào nó, họ sẽ nhận ra là họ đang nghĩ oan cho bạn.

Nhưng nếu nói chuyện qua chat thì họ sẽ không thấy nó. Nó vốn được phát ra một cách tự nhiên, và cần được tiếp nhận một cách tự nhiên. Việc phải diễn tả nó là một điều khá ngớ ngẩn, mặc dù về nguyên tắc bạn có thể làm được, và cần phải làm cho bằng được. Tôi đã thử tìm trong danh sách các emoji mà không có cái nào phù hợp. :) hay ^^ hoàn toàn thất bại trong việc diễn đạt những sắc thái tinh tế của nó. :) chỉ đơn giản nói: “Thôi, mọi chuyện đã quá rõ rồi. Bạn sai, nhưng tôi vẫn muốn giữ sự thân thiện với bạn”. ^^ gần hơn, nhưng nó vẫn chỉ thể hiện là mình muốn mềm mỏng, nhu mỳ, chứ vẫn là không có ý định thay đổi suy nghĩ của bản thân. Trong khi nụ cười từ bi thì cao hơn: “Tuy đúng là tôi chưa thể đồng ý với bạn, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đúng. Tôi luôn mừng khi thấy cái sai của mình, và sẽ rất vui nếu được bạn giúp đỡ”.

Dường như là chỉ khi bạn nói về những tổn thương cô dành cho bạn họ mới nhận ra mình đã quá vội vàng. Nhưng vì với bạn những tổn thương đó là quá hiển nhiên, nên bạn đơn giản là chẳng thấy nó liên quan gì cả. Nhưng với họ, chỉ sau khi biết được bạn đã tiên đoán và chuẩn bị sẵn sàng trước cả khi nó đến ra sao thì mới có thể khiến họ nhận ra mình thực sự chẳng hiểu gì cả, và nên lắng nghe bạn bằng tất cả sự tò mò.

Họ đưa ra lời khuyên sai

Khi đi con đường này, bạn đã có bản đồ để đi rồi. Bạn biết mình đang đi đúng hướng, và bạn sẽ không bao giờ thấy bế tắc. Nhưng vì trên bề mặt bạn luôn từ chối tin vào cái bản đồ đó, nên bạn cần một người nói lại đúng những ý mình đã nghĩ ra. Vấn đề là, họ sẽ chỉ nhìn thấy rắc rối 1 và 2, và kết luận là bạn đang níu kéo họ.

Bạn sẽ thấy rất kỳ lạ khi họ nằng nặc khuyên bạn hãy thể hiện là bạn cần cô, tìm cách khơi gợi tình cảm của cô. Họ sẽ khuyến khích bạn nói nhớ cô, cho cô thấy sự đau khổ của bạn, và nếu bạn không làm thì họ sẽ nói là bạn bướng, là thiếu chân thành. Thật ra đó là vì họ vẫn chỉ thấy là bạn có tình cảm với cô mà thôi, chứ ngay từ đầu bạn đã thấy cố làm cô thấy thương là vớ vẩn rồi. Làm như thế chỉ làm cho hai rắc rối kia thêm rắc rối.

Đáng tiếc cho bạn, là mặc dù biết họ còn mù đường hơn cả bạn, thì với tinh thần không định kiến bạn cũng sẽ lắng nghe họ như thể mình mới là đứa mù đường. Nếu những hiểu biết rời rạc của bạn không đủ vững chắc để chống lại sự biến đổi nghĩa trong quá trình trả lời các chất vấn của họ, thì bạn sẽ luôn thử những hướng đi mà bản đồ trong lòng bạn nói là vô dụng. Dù biết là sẽ thất bại, nhưng cho đến khi nào bạn gom đủ sự dũng cảm để nói rằng lời họ nói không đáng để nghe nữa, thì lời khuyên của họ sẽ cứ nhảy tới nhảy lui trong đầu bạn. Bạn sẽ tặc lưỡi là “chậc, dù sao thì mình cũng là người áp đặt Megan. Thôi thì một điều nhịn chín điều lành, nếu điều này giúp được cô thì cứ xuống nước cho nhanh”. Nên cuối cùng, rắc rối 1 và 2 lại càng thêm rắc rối.

Người có thể giúp không thấy tại sao họ cần giúp

Tại sao bạn lại muốn nhờ tới người thứ ba? Vì họ không xem thường bạn như Megan. Việc nhờ tới sự hỗ trợ của người ngoài để buộc người có định kiến phải nhìn nhận lại suy nghĩ của mình không phải là điều gì xa lạ. Đây là một điều cơ bản trong trong tâm lý học xã hội; ai đã xem phim 12 người đàn ông giận dữ sẽ thấy rõ.

Song song với chuyện xây dựng một cơ sở lý thuyết cho một niềm tin mới cho Megan, thì mục tiêu của bạn còn là làm sao để cô lắng nghe. Vì bạn còn chưa thể nói rằng mình đúng, nên khi bạn nhờ họ bạn cũng không thể nói là cô sai. Mà nếu chưa thể nói ai đúng ai sai, thì một cách tự nhiên thông điệp bạn đưa ra sẽ là nhờ họ giúp mình xác định xem ai đúng ai sai, và nếu họ thấy bạn đúng thì nói cho cô nghe điều đó.

Để thông tin của bạn là khách quan, bạn cần phải trình bày hệ thống quan điểm của Megan ra trước, rồi đưa ra lý do tại sao sai. Nhưng nếu như tư duy của Megan đòi hỏi một nền tảng kiến thức để hiểu, thì sẽ rất vất vả để họ theo kịp. Đằng này, nếu như đến chính Megan còn không thể nhận ra lỗ hổng của mình, thì hẳn là có một điểm lắt léo nào đó vượt qua khỏi tư duy thông thường (nếu không thì Megan cũng đã nhận ra từ lâu). Chính vì thế, mà họ sẽ càng không hiểu nổi. Nhưng có hiểu được nó hay không là mấu chốt để thấy rằng Megan cần trợ giúp.

Vì bạn biết vấn đề này xoắn não hơn bất cứ chủ đề lắt léo nào bạn từng giải thích, nên bạn sẽ tìm cách truyền đạt vấn đề đơn giản và hấp dẫn. Nhưng dù có làm nó hấp dẫn hay đơn giản bao nhiêu, thì với sự lắt léo đó nếu không nghiền ngẫm sẽ không thể hiểu được. Để họ cảm thấy thôi thúc muốn giúp bạn, họ phải rất tin tưởng là thời gian họ bỏ ra là xứng đáng, và sau khi bỏ thời gian ra thì họ thấy niềm tin đó được đền đáp. Đằng này, khi trong đầu bạn còn nhiều rối ren, thì sẽ khó để cho họ thấy nó ích lợi gì cho họ, chứ đừng nói làm họ thấy tâm đắc sâu sắc.

Nếu đã xác định là họ không có thời gian, và chuyện giúp bạn không có quá nhiều lợi ích cho họ, thì cách tốt nhất là to s thân thinkhơi gi lòng trc n của họ. Làm vậy để có sự chú ý ban đầu thì không sao, nhưng dưới sự tác động sai từ những người khác và của rắc rối 2, thì thông điệp chính của bạn sẽ càng bị lùi sâu để nhường chỗ cho việc tạo sự thân thiện và lòng sự trắc ẩn đó. Việc đó sẽ tạo ra n tưng là bạn cũng mong muốn Megan cũng có sự thân thiện và lòng trắc ẩn với bạn, chứ không phải vì bạn có một điều gì đó Megan cần phải có. Ấn tượng đó là không oan, vì ưu tiên của bạn bây giờ là tìm cách để Megan lắng nghe bạn, và bạn sẽ làm điều đó một cách nhiệt thành và chăm chú.

Và kể cả khi họ có những điều không đồng ý với cô, thì họ cũng ngại va chạm. Nếu họ là người không dám đối diện với chính cảm xúc của mình để bảo rằng mình sai, thì họ lại càng không dám đối diện với cảm xúc của cô và bảo rằng cô sai. Kể cả khi họ muốn đối diện với cô, thì họ cũng không biết phải bắt đầu từ đâu để cô cảm thấy dễ nghe chứ không phải cưỡng ép. Lúc này, chuyện đúng hay sai không quan trọng nữa, mà là không có cách tiếp cận nào phù hợp. Muốn tìm được cách tiếp cận phù hợp thì phải đào sâu suy nghĩ. Một lần nữa, sự bận rộn với cuộc sống riêng lại lấn át.

Nói tóm li, đ h có th thy mình cn b tt c mi th đ giúp bn, thì h cn phi b tt c mi th đ tìm hiu. Bn to đng lc đ h tìm hiu bng cái khơi gi lòng trc n, nhưng vic đó li cho thy ý đnh ca bn là đ cô có cm xúc vi bn, ch không phi bn có cái gì đó mà cô cn phi có. Mun cô phi có cm xúc li vi bn là điu khó đt đưc. K c khi h nhn ra h cn tác đng cô, thì h li ngi tác đng vì s tn thương mi quan h vn có gia h và cô.

Nên ở góc nhìn của bạn, bạn sẽ thấy rất kỳ lạ là tại sao họ không lo lắng gì cho cô cả. Họ có sự tin tưởng của cô, nhưng họ lại nói là họ không giúp được bạn. Bạn đâu có cần họ giúp? Người cần giúp là Megan mà? Bạn đồng ý là mình sẽ phải giải thích rõ ràng dễ hiểu, nhưng họ lại chẳng quan tâm gì. Nếu họ nhận giúp, thì họ sẽ nhận một cách miễn cưỡng, rồi sau đó mọi thứ lại rơi vào im lặng. Tất nhiên ai cũng có biết bao chuyện phải lo, nhưng một cuộc nói chuyện thẳn thắng với người bạn thân thiết với mình chỉ mất một buổi cà phê. Thái độ im lặng của họ như thể họ không hề cắn rứt lương tâm khi thờ ơ với của bạn mình. Thậm chí bạn lại thấy họ tiếp tục trò chuyện với Megan như chưa có gì xảy ra.

Nhưng về phía họ, thì lời bạn nói giống như đây là mâu thuẫn cá nhân giữa bạn và Megan, và họ không thấy mình có thể làm được gì trong đây. Họ kỳ vọng mình sẽ giúp ích được gì cho Megan, nhưng họ chỉ thấy bạn toàn nói về chuyện hai người. Nếu đó là chuyện của bạn, thì thôi bạn tự lo đi. Nếu đó là do bạn còn chưa bước ra khỏi quá khứ cũ, thì ai chịu trách nhiệm cho bạn được?

Nếu họ có tò mò hoặc động lòng trắc ẩn, thì họ cũng chỉ quan tâm được một vài phút trước khi bỏ cuộc vì không hiểu nổi vấn đề. Chuyện của bạn vượt quá khả năng hiểu biết của họ. Vài lời chân thành cảm động không đủ sức để bảo vệ não họ. Sự yêu quý họ dành cho bạn không đủ để mong muốn của bạn khả thi hơn. Khi bạn nhìn họ như một QUAN TÒA CÔNG TÂM, thì họ lại tự xem mình như một NHÀ ĐẦU TƯ BẬN RỘN.

Tất cả những chuyện này, một lần nữa, không phải bạn không biết. Nhưng bạn không thể dừng được, vì nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là bạn không được phép tin vào suy nghĩ của mình. Chính nguyên tắc này chi phối toàn bộ mọi hành động và lời nói của bạn, làm cho bạn phải nghe lời nó. Nó đưa bạn đến chuyện cần nghe lời cô nói trong khi bạn không cần nghe, và đưa đến chuyện bạn cần khơi gợi lòng trắc ẩn của họ khi bạn không cần khơi gợi gì cả. Bạn biết mình có một thứ họ sẽ rất quan tâm, nhưng bạn không tài nào đưa thứ đó ra được. Bạn sẽ chịu mọi hiểu lầm, nhưng đó không phải là vì họ có định kiến, mà là vì bạn cương quyết không để mình định kiến. Nếu như bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì nguyên tắc này là ông bà của bạn.

Vì có tâm xả, nên bạn sẽ nghĩ họ có những điều tốt đẹp nhất rồi. Bạn sẽ nghĩ họ sẽ không bỏ cuộc trước mọi khó khăn. Bạn sẽ nghĩ sự tò mò của họ mạnh mẽ hơn nỗi sợ. Nếu sự từ bi của họ là đủ lớn, họ sẽ không thấy va chạm là đáng ngại gì cả. Nếu sự lo lắng cho Megan là đủ mạnh, họ sẽ thấy những khó chịu của cô là một thứ không có thật. Một người bạn thật sự sẽ có những lúc cần can đảm để nói cho bạn mình biết những gì họ cần biết. Họ sẽ không tiếc một tình bạn nếu điều đó tốt cho cô.

Cho tới khi họ thấy giá trị của việc giúp cô là to lớn hơn mọi trở ngại, thì sẽ khó để họ xắn tay vào làm. Cho tới chừng nào bạn xác quyết rằng lời Megan nói không đáng để lắng nghe, thì những thông điệp bạn đưa ra vẫn là muốn cô quan tâm hơn đến bạn. Tất nhiên, nếu Megan chịu lắng nghe bạn thì sẽ rất tốt, vì nó đỡ làm phiền tất cả mọi người. Nhưng cũng vì như thế, họ sẽ thấy không giúp được gì cho bạn cả. Họ sẽ thấy nó không khả thi.

Phần 0, Rắc rối 1, Rắc rối 2

Master cries

Rắc rối của từ bi

Không thiếu những câu chuyện lay động về việc cảm hóa sự giận dữ, hận thù bằng sự từ bi. Nhưng tất cả các câu chuyện đó đều chứa một ngầm định quan trọng: người từ bi đã đi guốc trong bụng người được từ bi rồi. Và đây chính là điều khiến cho chúng chỉ là những câu chuyện nghe thì hay nhưng gần như không thể nào xảy ra trong thực tế, chỉ vì một câu hỏi đơn giản: họ là ai mà dám cho rằng mình đúng?

Bài viết nói về những đào sâu suy tư và những biến đổi tâm lý của một người từ bi, cũng như những yêu cầu khắc nghiệt và mâu thuẫn nhau để họ có thể mạnh dạn nói rằng điều họ làm xuất phát từ lòng từ bi. Đặc biệt trong trường hợp ngặt nghèo nhất: người từ bi chưa hiểu được tại sao người kia lại làm như vậy (tức chưa có một cơ sở lý thuyết cho trực giác của mình), và người được từ bi có định kiến sẵn với họ. Đáng tiếc, đây có lẽ mới là trường hợp phổ biến trong xã hội nhất, và dường như chưa có ai đề cập đến chúng.

Nếu bạn thấy bài này dài hay phức tạp quá có thể xem bản rút gọn này. Nó sẽ có những “thông tin độc quyền” mà bài này không có. (Thật ra là có, chỉ là hai bài được viết với hai tư thế khác nhau. Như vậy thì sẽ có nhiều góc nhìn cho cùng một vấn đề.)


I. Từ bi là gì?


Trong triết học Phật giáo, nếu tình cảm bạn của bạn có được những yếu tố sau, thì tình cảm đó chính là tình yêu đích thực:

  • Từ (metta, loving-kindness/benevolence): lòng mong muốn đem lại hạnh phúc cho người khác
  • Bi (karuna, compassion): sự cảm thông, lòng trắc ẩn, mong muốn trút bỏ đau khổ cho họ
  • Hỷ (mudita, empathetic joy): vui với niềm vui của người khác; hoàn toàn không cảm thấy ghen tị với hạnh phúc, thành công của họ
  • Xả (upekkha, equaminity): không còn vướng bận tham sân si, hiểu được tính vô thường của mọi sự, và nhận ra ai cũng đồng đẳng với mình, tuy hai mà một

Bốn yếu tố này gọi là t vô lưng (brahmavihara, four immeasurables). Bạn có thể nghe bài nói chuyện này để hiểu thêm:

Có vẻ như khái niệm “từ bi” không được dùng một cách thống nhất. Có khi nó là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”, có khi chỉ để chỉ tâm từ (loving-kindness), có khi chỉ để chỉ tâm bi (compassion), có khi để chỉ cả từ lẫn bi (tức là… từ bi). Nhưng vì dù sao chúng cũng hay đi chung với nhau nên chắc cũng không quan trọng lắm. Ở đây tôi chọn cách hiểu là cách nói gọn của cả cụm “từ bi hỉ xả”.

Vậy từ bi là gì? Ví dụ khi ai đó bị thương và bạn đến chăm sóc, hoặc khi họ đang đau khổ và bạn cho họ một bờ vai để khóc, thì bạn đều muốn họ hạnh phúc mà không mong nhận được gì lại, và những hành động đó đều là từ bi. Nhưng thường thì cũng không ai gọi như vậy là từ bi cả; trong tiềm thức của chúng ta từ bi phải là một cái gì đó đặc biệt hoặc cao cả hơn giúp đỡ vô vụ lợi. Quan tâm đến những người gặp bất hạnh là từ bi, nhưng khoan dung và chấp nhận những tổn thương mà họ gây ra cho mình mới là đi trọn cái nghĩa của nó. Người nào vẫn có thể nghĩ những điều tốt đẹp cho những ai đâm sau lưng mình, người đó là người từ bi.


II. Những vấn đề người từ bi gặp phải


Khi người được từ bi không coi bạn ra gì. Khi cho rằng bạn hiểu họ là một điều nguy hiểm

Rắc rối của từ bi ở ngay chỗ khiến nó trở nên khác biệt với sự trợ giúp thông thường: bạn không là gì trong mắt người bạn định giúp cả. Mặc dù từ bi, đi đến tận cùng, cũng chỉ đơn giản là giúp họ một cách vô vụ lợi, nhưng trên thực tế, nếu như sự giúp đỡ lúc nào cũng suôn sẻ, thì người ta chỉ cần dùng chữ “giúp đỡ” là đủ, không cần thêm “giúp đỡ vô vụ lợi”, lại càng chẳng cần phải tạo ra thêm khái niệm “từ bi” làm gì.

Từ bi, nghĩa là tìm cách làm cho họ bớt khổ, chỉ ra cho họ con đường họ nên đi. Nhưng để nói rằng họ đang lầm đường, thì bạn hẳn phải liều mạng kinh khủng. Bạn là ai mà dám cho rằng chỉ có mình mới đúng còn người khác thì sai? Nhưng hạnh phúc của người khác không phải là quá khó để thấy. Ta có thể tạo ra các ý nghĩa, hoặc thậm chí ngụy tạo ra các ý nghĩa để biện minh cho lối sống của mình, nhưng hạnh phúc thì không thể ngụy tạo. Một người có thực sự hạnh phúc hay không, tất cả những người xung quanh đều biết. Cái cảm giác hạnh phúc của họ là giả tạo là một cảm giác đáng tin, bắt nguồn từ việc họ không nhận ra những gì họ quan niệm là sai lầm. Nên, câu chuyện của từ bi cũng là câu chuyện làm đảo lộn toàn bộ quan niệm sống của họ.

Nhưng một lần nữa, bạn là ai mà dám cho rằng mình mới đúng còn họ thì sai? Vì biết làm đảo lộn thế giới quan của người khác là nguy hiểm, nên thứ đầu tiên bạn biết mình cần làm là lật lại quan niệm của chính mình trước. Bạn phải cởi mở, và có thể chấp nhận cái sai của mình một cách thoải mái nếu như nó hợp lý. Dám nói rằng người khác sai đồng nghĩa với việc dám nói rằng bản thân mình sai. Và không những dám đối diện với cái sai của mình, mà bạn còn chủ động tìm kiếm nó dù mọi thứ đều đang rất ổn. Nên, câu chuyện từ bi cũng là câu chuyện dám đối diện với cái sai của mình.

Dù trong thâm tâm ai cũng muốn đối diện với cái sai của mình, nhưng trên thực tế lại rất khó để làm. Có những vấn đề để hiểu thật cặn kẽ rất tốn thời gian và năng lượng, nên ta sẽ chỉ muốn tin vào cái trước giờ vẫn tin cho lành. Chính vì như thế, mà nhiều người cứ hơi phải suy nghĩ một chút là đã gắt lên, và nhiều người khác dù đã cố gắng để hỏi thêm một vài câu nhưng rốt cuộc vẫn thất bại trong việc không áp đặt ý kiến chủ quan. Bạn không hài lòng khi bị đối xử như vậy, và bạn trông đợi bản thân làm tốt hơn thế. Để không giết chết người khác bằng lòng tốt, thì phải đối diện với cái sai của mình cho bằng được. Thậm chí, bạn còn phải chủ động tìm kiếm cái sai đó ngay khi mọi thứ đều đang rất ổn nữa.

Đó là chưa kể, nói rằng bạn hiểu rõ người ta nghĩa là nói rằng bạn có thể điều khiển họ theo ý mình. Đi guốc trong bụng họ nghĩa là bạn có thể phản bội họ bất cứ lúc nào. Điều này sẽ làm bạn sợ bản thân mình khủng khiếp.

Sai một li đi một dặm. Vì từ bi và thứ na ná từ bi chỉ cách nhau bằng một lằn ranh mơ hồ, nên bạn sẽ cương quyết giữ vững sự tò mò của mình. Vì biết rằng hoài nghi cảm xúc của bản thân là con đường duy nhất để giúp họ một cách không định kiến, nên bạn sẽ tự nhủ sẽ luôn đặt câu hỏi bất kể bên trong đang phản đối dữ dội thế nào. Sống chết gì cũng phải làm được điều đó. Và bạn sẽ làm một cách nghiêm túc, chứ không phải một hai lần cho có lệ. Nó cần trở thành một thói quen để khi gặp chuyện thì có thể làm mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Sự tò mò của bạn có được áp dụng một cách triệt để hay không sẽ quyết định sự thành công của sự từ bi của bạn. Từ bi lúc này cũng là niềm vui khám phá.

Khi sự tò mò được cương quyết bảo vệ. Khi việc từ chối nói cái đúng trở thành quán tính

Kết quả của việc bảo vệ sự tò mò của mình bằng bất kỳ giá nào là một cách vô thức sẽ bạn sẽ không bao giờ nói hoặc làm cái mình nghĩ là đúng hoặc cần thiết. Bạn sẽ làm những thứ ngốc nghếch để xác định điều bạn biết thừa là đúng. Chừng nào bạn còn chưa thấy mình bị khủng hoảng niềm tin, bạn còn chưa hài lòng. Và quả thật, vì mỗi lần làm như vậy bạn lại nhìn ra một góc nhìn mới, và thấy những thứ mình nghĩ là hai năm rõ mười hóa ra không phải, nên bạn càng có lý do để làm điều đó. Điều này chưa từng có ngoại lệ, trăm lần như một.

Nhờ có những góc nhìn mới mà bạn mới thấy những lỗ hổng trong niềm tin của họ. Nhưng lời giải của bạn cho những lỗ hổng đó chỉ có họ mới có thể xác nhận là đúng hay sai. Nhưng dù nó đúng hay sai, thì bạn cũng cần phải nói ra thì họ mới có thể xác định được. Chỉ giữ nó ở trong lòng thì sự đúng sai của nó mãi mãi là bí ẩn. Nếu bạn xấu hổ vì nói ra điều mình nghĩ là đúng, thì thông tin quan trng đ gii quyết mâu thun sẽ không thể nói ra. Lập luận chặt chẽ thì hay đấy, nhưng nó chỉ làm bản thân thêm tin vào cái mình cho là đúng, chứ không giúp ích gì cho việc nuôi dưỡng trí tò mò với cái sai. Ngay cả khi bạn biết chắc là bạn có thể lật ngược vấn đề, bạn cũng sẽ từ chối đưa thông tin ra, vì bạn vẫn còn đang bận tìm xem mình đang sai ở đâu. Họ có thể thôi coi thường bạn, nhưng rất có thể bạn đang lừa gạt cả hai. Họ có thể tâm phục khẩu phục bạn, nhưng bạn lại không tâm phục khẩu phục chính bản thân mình.

Từ chối tin vào cảm xúc của mình cũng có nghĩa là từ chối tin rằng những cái họ nói là sai, là xấu. Bạn sẽ tìm cho kỳ được điều đúng, điều tốt trong những điều họ nói. Họ có nói sai thì bạn vẫn thấy cái đúng trong đó. Họ có hại bạn thì bạn vẫn thấy điều tốt đẹp trong đó. Một mặt, nhìn ra được những cái tốt, cái đúng ẩn đằng sau sẽ làm bạn trở thành người cởi mở và miễn nhiễm với mọi cực đoan, nhưng mặt khác, nó cũng là một dạng gaslighting bản thân, và về lâu dài điều này sẽ khiến cho bạn có dạng tính cách đồng phụ thuộc. Và như vậy, cả sự ức chế trong bạn và định kiến của họ không cách nào giải tỏa nổi.

Thế nên, mặc dù từ bi là câu chuyện không cho phép mình tin vào bất cứ suy nghĩ nào của bản thân, thì nó cũng là câu chuyện có dám làm điều ngược lại hay không. Nếu họ cũng như bạn, cũng từ chối cung cấp thông tin quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, thì bạn phải tìm cách thỏa mãn những chất vấn của bản thân để đi đến kết luận mà không có sự trả lời của họ. Cho tới khi nào bạn chưa thể khẳng định rằng mình đang đúng, thì bạn chỉ có thể đứng từ xa mà từ bi chứ cũng chẳng làm được gì thiết thực cả.

Nghĩa là, khi một người từ bi, họ được trao cho một quyền đặc biệt mà một không người lý trí nào dám nghĩ đến: quyền cho rằng mình đúng. Nhưng có dám sử dụng quyền đó hay không là cách duy nhất để hoàn thành công việc. Người từ bi có quyền được sử dụng quyền đó, và phải sử dụng quyền đó. Đó chính là bi kịch của người từ bi.


III. Khi bạn chưa thể cho phép mình sử dụng quyền đó


Đây là các rắc rối có thể có khi bạn chưa cho phép mình sử dụng quyền đó:

  • Rắc rối 1: bị nói là không biết tôn trọng sự khó chịu của họ
  • Rắc rối 2: phải chịu những hậu quả của dính mắc mặc dù mình không có
  • Rắc rối 3: người ngoài không hiểu bạn

Mời các bạn đọc tiếp.