92698280_10158177674707505_4107478551756800000_n

Chị Nguyễn Đan Khanh gửi: hãy giữ niềm tin sống như một người trẻ mới bước vào đời

Những câu nói mà tôi hay nghe nhất từ ngày tôi lớn: “Đời không như phim”, “Trên đời không ai thiệt tình nữa hết”, “Có tiền có quyền/ Có tiền có tuốt/ Người ta chỉ xem trọng người có tiền”, “Người ba xạo thì sống sung sướng, người thật thà cả đời lận đận”, và vân vân. Thông thường tôi không góp chuyện trong những đề tài như vậy. Tôi không có ý tranh luận cơ sở tâm lý của các hiện tượng xã hội. Tôi cũng hiểu, chỉ lời nói của một mình tôi không bì lại điều đã trở thành quan điểm của một phạm vi không nhỏ người trong xã hội, trừ khi tôi nổi tiếng (tiếc là tôi không phải!). Và trong quan điểm của tôi, những điều như thế nên làm nhiều hơn nên nói.

Tôi thấy trong lĩnh vực sáng tạo có một câu rất hay: giữ óc sáng tạo như những đứa trẻ lên ba. Quan điểm xã hội của tôi cũng gần giống thế: giữ niềm tin sống như một người trẻ mới bước vào đời, giữ liều lĩnh sống như kẻ đã đi đến đường cùng.

Tôi tin vào những gì xem thấy từ phim ảnh cũng hiện hữu ngoài đời sống thực. Trừ thể loại viễn tưởng, thông thường ta không thấy phim giống với đời, bởi vì trên phim, mỗi một điều được phơi bày ra với khán giả chỉn chu, tường tận. Góc nhìn phim ảnh là tổng hợp nhiều góc nhìn trong thực tế đời sống, mục đích truyền tải thông điệp nhất định của nhà làm phim. Cuộc sống mà ta trông thấy bằng đôi mắt của ta, đa phần thiếu bao quát, bởi mỗi một người, lẽ thường nhìn và kết luận sự việc từ những phương diện cá nhân. Đời nhiều góc khuất. Có bao nhiêu người sẽ theo sâu sát cho đến tận cùng tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh của một ai đó khác không phải bản thân? Nhưng thường ta không nhận mình như thế. Ta gán sự thất vọng cho xã hội nhiều hơn.

Khi tôi kể câu chuyện về Hoàng với nhiều chi tiết ẩn chứa bên trong, (cùng với những N., những T., những cô hàng xóm, những bậc phụ mẫu như cha mẹ của em,…) có người thốt lên thật không tin nổi, có người lại thấy tôi như vừa kể ra cuộc đời của họ. Tôi thường trả lời, những điều như thế không hề hiếm hoi, chỉ là nhiều khi ta không tin vào khả năng hiện hữu thường tình của chúng.

Đối với lòng chân thành, tình thương yêu, tôi cũng nhìn tương tự.

Gần đây tôi quen vài người bạn mới. Các em có nhiệt tình sống, nhiệt tình yêu thương tôi rất khâm phục. Có em trăn trở cả điều lớn lao như là, làm sao thay đổi cái nhìn bi quan của xã hội về tình thương yêu thuần tuý giữa con người với nhau. Nghe vào đúng thật có chút vĩ mô, nhưng tôi tin vào những thế hệ trẻ mang theo trong mình hạt giống yêu thương.

Quả Cầu, bài này của em chị thích lắm nè. 😊

👉 Khi sự giúp đỡ lại trông như cưỡng ép

Những câu nói mà tôi hay nghe nhất từ ngày tôi lớn: "Đời không như phim", "Trên đời không ai thiệt tình nữa hết", "Có…

Dikirim oleh Nguyễn Đan Khanh pada Rabu, 15 April 2020
13 Remy prepares to die

Làm sao để không cảm thấy ngại khi hành động?

Như đã nói, bạn làm việc này là vì sự an lạc, hoặc hạnh phúc, hoặc chất lượng sống của họ; nếu họ chịu cân nhắc tới những điều này thì bạn cũng chẳng cần phải làm làm gì. Nhưng kể cả khi bạn biết sự phản ứng đó của họ là không tốt cho chính họ, thì bạn sẽ luôn có phản xạ rụt lại. Sau bao nhiêu triệu năm đấu tranh sinh tồn và tiến hóa, chúng ta sẽ luôn đặt dĩ hòa vi quý lên trên sự thật. Luôn luôn. Bạn biết là họ cần được giúp, nhưng nỗi sợ sẽ luôn thì thầm vào tai bạn những hoài nghi mà bạn đã đủ cơ sở để bảo rằng chúng sai: vô duyên, tọc mạch, hay thiếu tôn trọng họ. Bạn biết rằng đây chỉ là một nỗi sợ phi lý, nhưng bạn vẫn chưa biết phải làm gì để cắt đứt nó.

Lúc này, thứ bạn cần nhất lúc này là trí tưởng tượng. Bằng việc tìm một nơi thật yên ắng và để cho đầu óc trôi theo những trăn trở của mình, những nỗi sợ đang choán ngợp tâm trí bạn sẽ dần dịu đi. Lúc đó, bạn sẽ tìm lại lại được lý do bạn làm tất cả những việc này ngay từ đầu, và tiếng cầu cứu từ con người lý trí của họ sẽ lại được nghe ra. Một khi đã nghe được tiếng nói đó, bạn không thể nhắm mắt làm ngơ được nữa. Con người lý trí của bạn sẽ đưa ra một mệnh lệnh đạo đức, và với mệnh lệnh đó, mọi áy náy của bạn sẽ tự trôi khỏi tâm trí. Mệnh lệnh đạo đức ấy sẽ như một con dao, cắt đôi nỗi sợ của bạn, như một bác sĩ phẫu thuật rạch da bạn ra, cắt khối ung thư đang giày vò bạn bao năm nay, và khâu vết mổ lại. Tôi gọi con dao đó là Con mắt lạnh như băng.

Chỉ sau khi có thể nhìn vào những thứ từng làm bạn sợ mà mặt không biến sắc, bạn mới sẵn sàng để đi tìm con đường dẫn dắt họ. Trong bài viết Làm sao để khiến người khác thử những điều mới, Kletische có viết:

Cách khiến người khác có thể thử những điều mới, vì thế, là việc mở ra những cánh cửa mà họ đã mất chìa khóa từ lâu. Là một kẻ đứng ngoài tâm trí họ, bạn có khả năng để đưa cho họ một chiếc chìa khóa. Khả năng khiến người khác khám phá thứ mới của bạn phụ thuộc vào việc những từ ngữ và hành động của bạn có được sắp xếp theo một trật tự hoàn hảo hay không.

Bằng cách tìm hiểu thật rõ việc mình sẽ cần làm (điều đã được nói ở phần 2), lúc đó thứ chi phối bạn không phải là những nỗi sợ phi lý đó nữa, mà là cái trật tự hoàn hảo này. Những người không hiểu chuyện thì sẽ luôn nói rằng đó là do bạn có “cái tôi” quá lớn, nhưng thật ra đây chỉ là một quy luật tự nhiên được biểu hiện qua một chuỗi phát ngôn và hành động hoàn hảo. Khi bạn đã biết được cách để dắt họ đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác, thì sự tự tin và dứt khoát sẽ tìm đến. Tất cả những gì bạn đang làm bây giờ chỉ là làm theo cái quy luật tự nhiên đó. Hay nói cách khác, bạn không phải làm gì cả mà chỉ để cái quy luật đó dẫn dắt bạn.

Tuy lý thuyết là vậy, nhưng để có được chuỗi phát ngôn và hành động hoàn hảo thì trí nh của bạn cũng phải hoàn hảo không kém. Nhưng trí nhớ của chúng ta rất tồi (xem lại phần 2), nên sự hoàn hảo đó sẽ nhanh chóng bị mất. Cách tốt nhất để làm được điều đó là có được sự tín nhiệm của họ, để khi sự hiểu sai lẫn nhau xảy ra, thì họ sẽ còn muốn giả định rằng mình cũng đang có thể hiểu sai.

Khi một người đang còn giữ lấy niềm tin của mình, thì khi nào niềm tin đó sẽ bị thay đổi? Có rất nhiều yếu tố tạo ra vào sự thay đổi niềm tin, bao gồm: độ tín nhiệm của người nói, áp lực từ những người xung quanh, những hệ quả có thể có từ việc thay đổi niềm tin, hoặc khả năng của họ trong việc thay đổi nó, v.v. Những ai muốn thay đổi niềm tin, dù đó là niềm tin của người khác hay niềm tin của chính bản thân mình, đều cần phải biết những cản trở này. Bất kể điều bạn đang làm được gọi là thuyết phục, đàm phán, hay hòa giải, hay phương thức giao tiếp của bạn thiên về việc sử dụng logic hay nắm bắt cảm xúc của cả hai bên (giao tiếp thấu cảm), thì mục tiêu cuối cùng cũng cần đặt được những thứ đó.

Nhưng đôi lúc, có những xung đột về mặt tư tưởng mà không một sự xoa dịu về cảm xúc nào có thể giải quyết rốt ráo, và có những chất vấn rất hợp lý mà có thể mất tới vài ngày, vài tháng hay thậm chí vài năm mới trả lời được. Nếu trong trường hợp bạn không có sự tín nhiệm từ trước (hoặc họ cũng tìm cách loại trừ (nullify) sự tín nhiệm của bạn), và cuộc sống vẫn tiếp tục có những hình mẫu để tiếp tục củng cố niềm tin của họ (hoặc ít nhất không cho họ thấy mâu thuẫn nào với thực tế cả), thì có lẽ chỉ còn cách khiến những người được họ tín nhiệm cảm thấy cần phải cất lên tiếng nói. Nhưng thường những người họ hay giao du cũng là những người không thấy những niềm tin họ có, hoặc không cảm thấy việc có những niềm tin đó ảnh hưởng gì tới mối quan hệ. Nên để cho họ thấy là niềm tin của họ là sai, bạn cũng cần phải cho những người cũng có cùng niềm tin đó nhận ra là nó cũng sai theo. Nói cách khác, từ việc chỉ thay đổi niềm tin của một người, bạn cũng cần thay đổi niềm tin của một nhóm người. Và đó chính là công việc HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI.

Hiện nay đã có rất nhiều dự án thay đổi định kiến và niềm tin khác nhau, như về người nhiễm HIV, phụ nữ, người đồng tính, v.v. Nếu trường hợp của bạn là ở những vấn đề này, thì bạn có thể liên lạc với các dự án đó để học hỏi. Nhưng nếu trong trường hợp không có ai đi trước bạn (đồng nghĩa với việc bạn phải xây dựng một cơ sở lý thuyết mới), thì khó mà tránh được việc trở nên lạc lõng giữa chính những người muốn ủng hộ mình. Vì niềm tin được sinh ra từ ngôn ngữ, nên vấn đề càng trừu tượng thì sự biến đổi nghĩa của từ (vốn đến từ quá trình ghi nhớ và chú ý của cả hai bên) càng mạnh. Nói chung cũng không thể trách được trí nhớ của họ tồi, vì bản thân ta cũng chẳng khá hơn đâu.

Vậy ta cần phải làm gì? Các công cụ lên kế hoạch cho các dự án phi lợi nhuận (như được trình bày trong các bài giảng của Trung tâm cộng đồng LIN) sẽ giúp bạn hiện thực hóa tầm nhìn của bạn. Những công cụ đó, đặc biệt là kế hoạch chiến lược, kế hoạch truyền thông, kế hoạch tuyển tình nguyện viên, sẽ giúp bạn định hướng được chiến dịch của mình, truyền cảm hứng và năng lượng cho những ai cũng lờ mờ nhìn nhận ra vấn đề nhưng còn lúng túng, và đưa ra được những phương pháp đo lường hiệu quả công việc của bạn. Nó cũng sẽ giúp bạn đưa ra các câu hỏi để tránh việc bạn bè họ họ có ấn tượng sai về những việc bạn làm.

Tôi lặp lại: hãy ghi chú. Đừng để mình trở thành nạn nhân của sự biến đổi nghĩa của từ.

surgical-doctor-with-knife

Quyền thay đổi niềm tin của người khác

Vì mục tiêu ở đây là hướng tới sự an lạc, hoặc hạnh phúc, hoặc chất lượng sống của họ, nên cũng không có lý do gì để nói rằng ta đang thiếu tôn trọng họ. Ai nói như vậy là mâu thuẫn. Cũng là vì mục tiêu không phải là để họ phải làm theo quan điểm của ta, mà là để họ không chối bỏ sự mâu thuẫn trong niềm tin của họ nữa, nên cũng không có lý do gì để nói rằng ta đang áp đặt họ, hay vi phạm tự do tư tưởng (freedom of thought) của họ. Ai nói như vậy là mâu thuẫn.

Phần này tới đây là hết. Bạn có thể đọc phần tiếp theo, hoặc kéo xuống để đọc thêm phân tích.

Phần 0, Phần 1, Phần 2

Đây là những suy nghĩ của tôi sau khi đọc xong các chương 1, 2, 3, 5, và một nửa các chương 4, 6, 8 của cuốn sách Phải Trái Đúng Sai của Michael Sandel. Tôi sẽ chia phần này thành hai nhỏ: trước khi đọc Kant (các chương 1, 2, 3) và sau khi đọc Kant.

Phải trái đúng sai

Trước khi đọc Kant

Nhận xét chung:

  1. Các bên tham gia tranh chấp đều quan tâm đến công bằng, sự xứng đáng, quyền và quyền lợi của bản thân chứ ko phải là sự an lạc (well-being) của người kia. Hoàn toàn không có các chủ đề như hăm dọa, lừa dối, tự tử, tự làm tổn thương bản thân, tuyệt vọng, bất lực
  2. Không có câu chuyện nào nói gì về việc người được hưởng lợi sẵn sàng từ bỏ mọi quyền và lợi ích của mình để gánh vác thiệt hại cho người kia

Sau khi đọc Kant

Kant rất chú trọng việc hành động của mình là tự chủ hay ngoại trị. Câu hỏi đặt ra ở đây là sự áp đặt này là tự chủ hay ngoại trị? Một người được xem là tự chủ/có đạo đức khi họ làm theo quy tắc bản thân. Với quy tắc “giúp người mắc kẹt hoàn toàn thoát khỏi nó”, thì sự áp đặt là lựa chọn, là nghĩa vụ anh ta tự giao cho mình. Nó cũng thỏa mãn hai phép thử của Kant: phổ quát hóa và tôn trọng mục đích tự thân của người bị tác động (là sinh vật có lý trí). Nếu người khác chống lại quy tắc này, thì họ đang chống lại sự tự do của anh. Nếu anh nghe lời họ, thì điều anh làm không có giá trị đạo đức.

Xét trường hợp con hươu bảo rằng: “tôi thà chết còn hơn được anh cứu” (hoặc “tôi không chấp nhận bất cứ sự áp đặt nào, kể cả khi điều đó thực sự tốt cho tôi”). Vậy ta có thể đặt câu hỏi: tại sao nó lại làm vậy? Vì nó sợ, hay vì nó có một quy tắc đạo đức?

Nếu là do nó sợ
→ nó đang bị một ngoại lực điều khiển
→ sự chống đối của nó không phải là đạo đức, không phải là tự do nó có được
→ càng khẳng định sự áp đặt này không phương hại đến sự tự do của nó

Còn nếu đó là mệnh lệnh đạo đức, thì việc làm đó phải thỏa mãn hai phép thử Kant đưa ra. Tôi thấy quy tắc này không thể phổ quát được, cũng không hề tôn trọng mục đích tự thân của anh. Và kể cả khi thỏa mãn hai phép thử đó, thì điều đó cũng không có nghĩa là anh phải dừng lại, vì điều anh làm cũng đạo đức không kém. Lưu ý là Kant cũng cực lực phản đối sự nhầm lẫn giữ việc đồng ý không trói buộc và tinh thần tôn trọng sự tự chủ và nhân phẩm con người.

Nhân tiện, tôi thấy cách Kant nói rằng sự tự chủ vượt ra khỏi vô cùng giống việc cho rằng bản chất của bản ngã là sự điều chỉnh chú ý.

Lưu ý quan trọng: tôi không phải là người học luật. Tin lời người trên mạng nói là toang đấy.

Thật ra chẳng ai muốn lôi pháp luật ra để nói chuyện cả, nhưng cũng sẽ có trường hợp mọi người lôi chuyện luật pháp ra nói chuyện, vì đúng là trông có vẻ như ta đang vi phạm vào quyền tự do ý chí của họ. Mà quyền đó là quyn căn bn, là nhân quyn. Kể cả khi nó đi ngược lại các chuẩn mực khác như đạo đức xã hội, gia đình, tôn giáo (nếu có), thì bạn cũng không có quyền cưỡng ép họ.

Tuy nhiên, thế nào là cưỡng ép? Điều 127 bộ luật dân sự 2015 có định nghĩa:

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Như vậy, bạn chỉ đang cưỡng ép họ khi điều bạn làm đang đe dọa tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của họ hoặc của người thân thích của họ. Nhưng vì không khó để thấy là bạn đang tôn trọng tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của họ hoặc của người thân thích của họ, nên bạn không cưỡng ép họ gì cả.

Ta hãy lấy một ví dụ khác. Một người bị ung thư và bác sĩ nói là phải phẫu thuật. Nhưng để được phẫu thuật thì bác sĩ phải được sự đồng ý của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không muốn chữa trị thì bác sĩ không được phép chữa trị, mặc dù rõ ràng về mặt chuyên môn rõ ràng là từ chối điều trị là có hại cho sức khỏe. Nếu mà bác sĩ cố tình điều trị cho bệnh nhân này thì đó là hành vi cưỡng ép.

Tuy nhiên bác sĩ đó vn có quyn thuyết phc h. Nếu bác sĩ nhận thấy lý do để bệnh nhân từ chối chữa trị dựa trên một niềm tin tôn giáo/triết lý sống nào đó, mà triết lý đó thực ra nói là nên chữa, nhưng do bệnh nhân hiểu sai mà nói rằng triết lý đó bảo không nên chữa, thì chẳng có lý do gì bác sĩ phải đồng ý với cái hiểu sai đó cả. Nếu bác sĩ cảm thấy mình cần bỏ hết công việc để chỉ cho họ thấy mâu thuẫn của mình, thì bác sĩ vẫn có quyền đó.

Nói cách khác, nếu như có đủ bằng chứng cho thấy người đó đang nói “hãy cứu chữa cho tôi”, mặc dù bên ngoài họ luôn nói “đừng có đụng vào tôi”, thì không việc gì bác sĩ phải dừng lại cả.

Vậy, theo tôi hiểu, vấn đề này liên quan đến những quyền sau đây:

  • Quyn t do ý chí. Quyền này là nhân quyền, là quyền căn bản, sinh ra là có. Chỉ có pháp luật mới được phép hạn chế quyền này của bạn
  • Quyn cản trở mong muốn của ngưi khác. Bình thường không ai có quyền này, chỉ trừ khi người đó (1) được người đại diện pháp luật chỉ định, hoặc (2) đang ở trong mối quan hệ cha mẹ – con cái với người khác. Lý do để pháp luật cho cha mẹ cái quyền can thiệp vào ý định của con cái vì bản chất mối quan hệ này là mối quan hệ cung cấp – phụ thuộc, và người phụ thuộc thì có không có khả năng chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Pháp luật sẽ cấp sẵn quyền này cho cha mẹ
  • Quyn thuyết phc ngưi khác thay đi ý chí. Quyền này trông như là quyền can thiệp vào người khác nhưng thật ra lại là quyền tự do ý chí
  • Quyn không thay đổi quan điểm. Quyền này cũng là quyền tự do ý chí. Nó bao gồm quyền không muốn nghe thuyết phục thêm và quyền không trả lời câu hỏi

Ta có bảng sau:

Ngưi đưc giúpNgưi giúp
A: không muốn được giúp (quyền)A*: tiếp tục giúp
B: không muốn thay đổi quan điểm (quyền)B*: tiếp tục thuyết phục (quyền)

Điều khiến cho bảng này khó nhận ra là vì:

  • A và B trông giống nhau, và A* và B* trông giống nhau (nhập nhằng theo hàng dọc)
  • Dù A phủ định A*, nhưng B không hề phủ định B*, dù trông nó rất giống vậy (nhập nhằng theo hàng ngang)

Nhưng nói chung, dù sự thuyết phục của bạn có làm họ khó chịu đến mấy, thì thuyết phục người khác cũng là quyền con người của bạn. Họ mà nói là bạn không có quyền thuyết phục họ, là họ đang xâm phạm nó. Họ đơn giản là không có quyền đó.

Rắc rối một chỗ, là đôi lúc, cách thuyết phục tốt nhất là không nói gì nữa và bắt tay vào làm. Ví dụ như với những người đang có sự bất lực học được, thì phải đem họ vào môi trường mới hai ba lần họ mới dần có ý niệm là mình có thể không bất lực. Nghĩa là muốn làm B* thì phải làm A*. Nhưng không thể chỉ vì cố chấp bám vào A* mà phủ nhận B* được. Khi kết quả đã tới thì tự nó sẽ giải quyết mọi việc. Luật pháp nào nói rằng cứ hễ có A* thì đều là bạn sai, không cần biết bạn có B* hay không, thì luật pháp đó đang dung dưỡng sự mắc kẹt của họ. Loại luật pháp như vậy tôi nghĩ vừa thiếu sự công bằng vừa thiếu sự nhân đạo. Còn nếu bạn tin là loại luật pháp bạn đang theo dựa trên sự công bằng và nhân đạo, thì cây ngay không sợ chết đứng.

Đó là chưa kể, với những người có rối loạn tâm lý, thì họ thật sự chỉ là những đứa trẻ trong thân xác người lớn. Luật pháp nào mà bảo họ có khả năng làm chủ hành vi của họ là luật pháp sai.

Ngay cả khi nó vi phạm quyền căn bản của người bị áp đặt, thì tôi nghĩ họ cũng sẵn sàng từ bỏ quyền đó để những người hỗ trợ họ mạnh dạn hơn trong việc áp đặt. Với họ, nói về mấy thứ như quyền căn bản là vớ vẩn. Thứ họ cần là sự ổn định tâm lý. Rõ ràng, trong trường hợp trợ tử, họ sẵn sàng từ bỏ quyền được sống để được giúp giải thoát. Xét trên quan điểm cả hai đều hướng tới sự an lạc (well-being) của người có vấn đề, thì có vẻ áp dụng thuyết vị lợi là hợp lý nhất. Mà thuyết này ngay từ đầu cũng xem quyền căn bản là vô nghĩa.

Ta còn có thể mở rộng ra thêm: liệu sự hiểu sai của họ có phủ nhận quyền tự quyết của họ không? Liệu sự ra quyết định theo cảm xúc bất kể đúng sai có được gọi là tỉnh táo nữa không? Trao quyền tự do lựa chọn cho người luôn cho mình đúng mà không có sự phản tư thì có hợp lý? Liệu việc họ mắc kẹt có tạo nên mối quan hệ cung cấp – phụ thuộc cho những người có khả năng giúp không? Tôi mong những người am hiểu luật có thể giúp tôi hiểu thêm vấn đề.

Phần 0, Phần 1, Phần 2

Plato's Cave

Làm sao để biết chắc chắn mình đúng? Nhỡ đâu chính mình mới có bóp méo?

Trước tiên, tôi nghĩ là khả năng ghi nhận cảm xúc (emotion perception) của ta là khá chính xác. Tôi nghĩ là các dấu hiệu ở phần trước đủ khả năng xuyên qua (hoặc phá tan) bất kỳ sự bóp méo nào của bản thân. Cảm thức về sự lành mạnh tôi nghĩ là có thật, và nó ăn rất sâu (hard-wired) vào trung tâm thần kinh của chúng ta. Không có nó chúng ta không thể tiến hóa được như ngày hôm nay. (Và nếu không tiến hóa được thì chúng ta cũng đã chẳng có niềm tin gì để mà bây giờ ngồi bàn với nhau liệu niềm tin đó có bị bóp méo hay không.) Cái cảm thức đó tách bạch với khả năng suy luận logic vốn rất mong manh. Và ta có thể nhìn thấy điều đó một cách chân thực, bất kể trạng thái tâm lý của mình thế nào.

Tuy nhiên, cứ giả sử là tôi đang sai, và những bóp méo của ta là đủ dày để cảm thức đó không xuyên thấu hay phá tan được, hoặc là ở những môi trường mà cảm thức đó không được kích hoạt (như trên mạng chẳng hạn), và ta phải tự chiến đấu với bóp méo của mình. Vậy thì những bóp méo ta có thể có là gì?

Đầu tiên, ta cần phải thừa nhận một thực tế là ai ai cũng có thái độ ngầm (implicit attitude). Ai trong chúng ta cũng có những quan điểm vô lý, chỉ là chúng ta không dám nói ra mà thôi. Lấy ví dụ về vấn đề kỳ thị màu da chẳng hạn. Có thể bạn hiểu là da đen hay da trắng thì cũng là con người và nên được bình đẳng, thì sâu trong vô thức bạn vẫn có thể thích một màu da nào đó hơn. Nếu ai còn nghi ngờ điều đó, cứ việc mời họ làm một bài kiểm tra trên trang The Implicit Association Test (IAT) của đại học Harvard là được:

IAT
Bài test chỉ dành cho người can đảm 😁. Ngoài kiểm tra xem bạn có thái độ ngầm về màu da ra thì còn có những bài kiểm tra xem bạn có thái độ ngầm về giới tính, cân nặng, khuyết tật, độ tuổi, v.v. hay không.

Chỉ cần đọc tên các bài kiểm tra thôi là tôi đã thấy vô vàn thái độ ngầm của mình rồi, chứ chưa cần làm nữa. Tự tôi biết là các quan niệm như vậy là không hợp lý, nhưng tôi không thể nào ngăn cản sự tồn tại của nó được. Nếu chúng không liên quan đến vấn đề đang được xét thì sẽ không thành vấn đề, nhưng nếu có thì sao? Như vậy, mặc dù tôi cố gắng gạt bỏ chúng đến mấy, tôi cũng không được phép tin rằng mình hoàn toàn vô tư, trong sáng trong việc đánh giá vấn đề.

Mà chẳng cần tới thái độ ngầm. Mỗi chúng ta đều có một hệ giá trị mà ta lựa chọn và k vng (expectation). Thái độ của ta lúc này không còn ngầm nữa, mà là sáng rõ như ban ngày. Nếu có gì đó có vẻ như đi ngược lại với các kỳ vọng đó, vốn là những lựa chọn đáng được tôn trọng để đạt được những điều có giá trị, ta sẽ khó lòng mà chấp nhận được. Có thể ta cũng hiểu rằng mỗi người có một lựa chọn khác nhau, nhưng nếu ta vẫn còn một mối trăn trở cần phải nhìn thấy nó hoàn thành, thì đầu óc của ta vẫn chưa thể thảnh thơi để đáp ứng được những kỳ vọng khác của người khác. Lúc đó, mọi thứ trên đời dường như chỉ có hai loại: hoặc là giúp ta đặt được kỳ vọng đó, hoặc là không giúp hoặc cản trở ta đạt được kỳ vọng đó. Thứ mà mọi người hay gọi là nhị nguyên, bản chất chính là cái này.

Mà kể cả khi chúng ta không có thái độ ngầm hay kỳ vọng nào cả, và thành thực muốn sử dụng hết khả năng của mình để người kia được an lạc, thì ta vẫn vô tình đánh giá sai. Ngay cả các chuyên gia, vốn đã được đào tạo bài bản và không có kỳ vọng gì ở khách hàng của họ cả (trừ việc được trả công đầy đủ), thì họ vẫn luôn thường xuyên đưa ra đánh giá thiếu chính xác. Trong bài báo Clinical Versus Actuarial Judgment đăng trên tạp chí Science, nhóm tác giả Dawes, Faust và Meehl (1989) có khảo sát các lý do tại sao đến cả chuyên gia mà vẫn có thể đưa đến các kết luận sai lầm. Kể ra thì rất nhiều, nhưng tóm lại trong một câu thì có lẽ là thế này: h quên cân nhc nhng kh năng khác nhau ca tình hung.

Không phải là họ không muốn nhớ, mà vấn đề là trí nhớ là một cái gì đó rất mong manh. Một lý do rất lớn trong việc làm mất sự chính xác của thông tin ta nhận được là vì chúng ta không thể lưu quá nhiều dữ kiện trong bộ nhớ. Kể cả ngay sau khi bạn đọc xong bài và tâm đắc với từng ý một trong đây, thì chỉ sau nửa tiếng thôi rất nhiều ý quan trọng của nó bạn cũng sẽ quên. Khi cần dùng tới những thứ bạn đã đinh ninh là mình nhớ kỹ và nhớ đúng, bạn sẽ lại lúng túng.

Forgetting curve
Đây là biểu đồ đường cong trí nhớ. Bạn thấy là chỉ sau 1 tiếng thôi là ta đã quên hết một nửa rồi, trong khi ai cũng cảm thấy những gì mình nhớ thật sống động và chân thực hết.

Đứng trước thực tế này, làm sao ta có thể nhớ cân nhắc những khả năng khác đây?

Chỉ ba từ thôi: hãy ghi chú.

Bằng việc ghi chú, ta sẽ buộc phải từ từ, không nóng vội, và như vậy tránh được những kết luận vội vàng. Các quan điểm của bạn sẽ có thêm nhiều cơ hội để được nhìn nhận lại, và những lỗ hổng trong mạch lập luận sẽ được hiển lộ ra. Nếu quá trình chú ý và trí nhớ sẽ làm bạn khó khăn trong việc tra vấn quan điểm bản thân, thì việc ghi chú sẽ giải quyết được những vấn đề đó.

Ngoài ra, cũng nhờ có ghi chú mà bạn sẽ nhận ra rằng: mình không phải là người đầu tiên trên thế giới có những quan điểm như vậy. Bạn sẽ nhận ra là đã có rất nhiều người khác từng suy nghĩ như bạn, và cũng rất nhiều người khác cũng đã nhìn ra được sự không hợp lý trong những kỳ vọng và thái độ của họ. Chỉ cần chịu khó học hỏi từ những người đi trước, ta sẽ vỡ lở ra rất nhiều hiểu lầm. Và khi những hiểu lầm đã được xóa bỏ, thì sự thông cảm và bao dung sẽ đến với ta. Mặc dù có thể bạn vẫn không đồng ý với quan điểm của “phe kia”, nhưng ít nhất cũng đã khám phá ra được những điều mà trước giờ bạn không ngờ tới. Muốn tránh được cảnh người mù dẫn đường người mù, bạn cần phải bỏ công ra tìm hiểu.

Cá nhân tôi thấy người thầy tốt nhất vẫn là sách. Mà sách ở đây không phải là sách bình thường, mà là … sách giáo khoa :)). Nói cho chính xác là những cuốn sách nhập môn hoặc giáo trình đại học, chuyên giới thiệu những chủ đề liên quan cần phải biết của một chủ đề nào đó bạn quan tâm. Những cuốn sách đó dễ tiêu hóa ngay cả với những người chưa hề biết gì, nhưng sẽ nhanh chóng cho bạn cái khung nền (framework) để có thể kết nối những hiểu biết rời rạc và mông lung của bạn thành một bức tranh hoàn chỉnh. Vì nó thể hiện sự nhất trí của những người có chuyên môn, nên bạn không phải sợ chuyện thượng vàng hạ cám hay chín người mười ý nữa. Tất nhiên, nó sẽ không biến bạn trở thành chuyên gia, nhưng bạn sẽ định vị được nỗi băn khoăn của mình nằm ở đâu trong bản đồ tri thức. Những ngộ nhận của bạn sẽ được xóa bỏ nhanh chóng, những thắc mắc của bạn sẽ trở nên sắc bén và thú vị hơn bao giờ hết, và những thứ vô giá trị trước giờ bạn thấy sẽ trở thành vàng ròng. Đọc nó xong, các ông thầy bói mù sẽ không những hết cãi nhau liệu con voi là cái quạt mo hay là cái đòn gánh, mà còn biết được tên khoa học của nó là Elephantidae.

Tôi nghĩ quan điểm của Derrida là đúng: tất cả chỉ là trò chơi ngôn ngữ.

Nói tóm lại, cách để biết rằng mình không có bóp méo là:

  • Họ có những vấn đề đã nêu ở phần trước
  • Có ghi chép mọi dữ kiện. Không cho phép mình phụ thuộc vào trí nhớ bản thân
  • Đã giả sử họ cũng đã biết lý do của bạn rồi, và bạn mới là người cần lý giải tại sao họ biết mà vẫn làm
  • Trung thực rằng có những kiến thức mình chưa biết. Luôn truy tìm những bằng chứng phủ định mình
  • Tìm hiểu cho tới khi những người có chuyên môn đánh giá hiểu biết của bạn là chính xác (hoặc thậm chí thú vị)

Tất nhiên, sẽ luôn có những bất đồng về quan điểm mà có thể không thể hết được. Điều này là bình thường. Nó chỉ không bình thường khi những dấu hiệu ở phần 1 diễn ra. Sự khác biệt giữa một niềm tin lành mạnh và niềm tin không lành mạnh là ở việc có khả năng luôn giữ được sự giả định rằng mình có thể sai hay không. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó.

Làm sao để biết là mình đúng?

Câu hỏi bài này đặt ra ngoài việc “Làm sao biết mình không có bóp méo?” còn là “Làm sao để biết chắc chắn mình đúng?” Tức nghĩa là, đây không chỉ là “tin” nữa, mà là “biết” luôn. Biết một cách chắc chắn, hai năm rõ mười, không cần phải rào trước đón sau là đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng “biết” hơn “tin” chỗ nào? Hơn nhau ở chỗ thứ ta biết là kiến thức, còn thứ ta tin chỉ là niềm tin thôi. We know knowledge, and we believe in belief.

Như vậy, trả lời câu hỏi “Làm sao để biết là mình đúng?” cũng đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi “Kiến thức là gì?”. Có nhiều định nghĩa về kiến thức, nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi và dễ hiểu nhất là: kiến thức là niềm tin đúng có cơ sở (justified true belief). Ví dụ, nếu bạn biết rằng con mèo kêu meo meo, thì nghĩa là mệnh đề “con mèo kêu meo meo” là một kiến thức. Và để mệnh đề đó trở thành kiến thức, thì ba yếu tố sau phải được thỏa mãn:

  • Con mèo quả thật kêu meo meo (yêu cầu về tính đúng)
  • Bạn tin là con mèo kêu meo meo (yêu cầu về niềm tin)
  • Bạn có cơ sở để tin là con mèo kêu meo meo (yêu cầu về tính có cơ sở)

Có cơ sở để tin nghĩa là sao? Nghĩa là ít nhất tất cả những thông tin bạn có đều không mâu thuẫn với niềm tin đó. Ví dụ bạn đã từng nghe thấy tiếng kêu meo meo phát ra từ miệng một con mèo, thì đó là cở sở cho việc mọi con mèo đều kêu meo meo. Hoặc có thể cả đời bạn chưa từng gặp mèo bao giờ, nhưng cả bò, dê, cừu, chó, nai, sóc, thỏ đều khẳng định với bạn là con mèo kêu meo meo. Mọi thông tin bạn có đều không mâu thuẫn gì với nhau, vậy thì niềm tin của bạn là có cơ sở. Tất nhiên, có cơ sở không nhất thiết là luôn đúng mãi mãi. Ngay cả làm khoa học cũng luôn phải nghi ngờ những gì đã được thẩm định cả trăm năm và được xem là chân lý nữa là. Rất có thể sau này bạn phát hiện ra là có những con mèo không kêu meo meo thật, thì lúc đó cơ sở cho niềm tin đó cần phải được xem xét lại. Nhưng từ giờ cho đến lúc đó, nếu như chưa có bằng chứng gì để mâu thuẫn với niềm tin “con mèo kêu meo meo”, thì niềm tin đó vẫn là có cơ sở.

Việc ta có thực sự biết điều kiện 1 có xảy ra hay không không cần thiết. Rất nhiều kiến thức của chúng ta chỉ là kiến thức gián tiếp. Ở đây tôi chỉ chú trọng đến tính trôi chảy, dễ hiểu và thực dụng của bài viết. Ai thích tìm hiểu sâu hơn có thể xem thêm:  “Dinosaurs did exist once”. Is it knowledge or is it only justified belief?

Quay lại với trường hợp của chúng ta, để có thể biết liệu một người thật sự cần được giúp hay không, thì ba yếu tố sau cần phải được thỏa mãn:

  • Họ đúng là cần được giúp
  • Bạn tin là họ cần được giúp
  • Bạn có cơ sở để tin là họ cần được giúp

Các dấu hiệu đã nêu ở phần 1 sẽ là cơ sở cho kết luận họ cần được giúp. Các dấu hiệu đó hoàn toàn có thể được kiểm sai để tìm xem liệu niềm tin có lỗ hổng hay không. Tương tự như vậy, trong trường hợp những người xung quanh cho rằng bạn mới là người có bóp méo, thì ba yếu tố sau phải được thỏa mãn:

  • Bạn đúng là có bóp méo
  • Họ tin là bạn có bóp méo
  • Họ có cơ sở để tin là bạn có bóp méo

Như vậy, ngoài chuyện họ có niềm tin rằng bạn có bóp méo ra, họ còn phải có cơ sở cho niềm tin đó nữa. Cơ sở đó, tất nhiên, cũng không được mâu thuẫn với những gì bạn thể hiện (có sự ghi chép, luôn truy tìm bằng chứng phủ định mình, v.v.).

Cuối cùng, cũng lại quay trở về sự ghi chú. Hãy thử tìm hiểu xem tại sao con người này lại xứng đáng để bạn tốn thời gian với họ. Rốt cuộc thì bạn cần gì ở họ? Bạn cần họ quan tâm tới bạn, hay bạn cần họ sống một cuộc sống đáng sống? Bạn thấy đấy, cả hai câu đều có nghĩa rất khác biệt, nhưng khi chúng được lưu trữ trong não thì cả hai đều ở dạng cấu trúc bạn cần họ làm một cái gì đó. Bạn không thể lưu trữ nguyên văn câu thứ hai được, vì quá trình ghi nhớ và chú ý sẽ không cho phép bạn làm điều đó. Và từ đây sẽ nảy ra vô số rắc rối không đáng, vì bạn thì mặc định nghĩa thứ hai, trong khi mọi người thì luôn mặc định nghĩa thứ nhất.

Phần 0, Phần 1, Phần 4

87061809_1563618117120322_3239317454798716928_n

Khi nào sự tác động là cần thiết?

Phần này liệt kê những trường hợp tổn hại đến sự an lạc, hạnh phúc, hoặc chất lượng sống của họ, nhưng thứ duy trì sự tổn hại đó lại là chính họ. Có hẳn một danh sách các nhu cầu căn bản và các cảm xúc khi các nhu cầu đó được đáp ứng mà ai ai cũng có, nên ta có thể đánh giá một cách khách quan khi nào họ cần sự tác động. Có thể họ rồi cũng sẽ không chấp nhận nổi tình trạng của mình mà tìm cách thay đổi, nhưng nó sẽ kéo dài quá lâu một cách không cần thiết. Thậm chí trước khi họ kịp thay đổi thì sự tiêu cực đó đã kịp lây cho người khác.

Trường hợp 1: người muốn được nuông chiều

Để bắt đầu, tôi muốn giới thiệu một clip về những người hay trì hoãn. Clip rất vui, mời bạn xem trước khi đọc tiếp.

Sau khi xem xong clip, bạn sẽ hiểu thứ duy nhất làm con khỉ này sợ chính là Quái Vật Hoảng Loạn. Nếu Con Người Quyết Định Lý Trí không đủ mạnh để lôi nó ra, thì chỉ có nước đợi Quái Vật Hoảng Loạn thức giấc. Và nếu chưa tới lúc nó thức giấc, thì phải có ai đó đóng vai nó.

Hiện nay có rất nhiều app có thể giúp đóng vai con Quái Vật này. Điển hình nhất là Beeminder, ở đó người dùng sẽ bị trừ tiền khi bị trễ hẹn. Việc trò chơi hóa công việc cũng là để con khỉ này hứng thú làm việc.

Tôi bắt đầu bằng con khỉ này vì nó vui và vì có thể nhiều người cũng đã biết về nó. Nhưng thật ra ngoài con khỉ này ra ta còn có cả một sở thú:

normal-animal-brain1

Và những con vật này choán lấy vị trí làm việc của Con Người Quyết Định Lý Trí, nhảy nhó lung tung trong tâm trí họ.

Rất nhiều người để những con vật này chi phối cuộc sống. Họ có thể là người bố muốn con mình học thật giỏi để mình được hãnh diện, là người bạn gái ra đủ loại ám ký hiệu để được bạn trai tặng quà, là người hàng xóm luôn thích đánh giá, chê bai người khác. 7 loại tội lỗi mà Kinh Thánh nhắc đến cũng có thể xem là những con vật này. Nhưng tiếc là ở những trường hợp như vậy, thì chúng ta vẫn chưa có một app hữu hiệu nào để đóng vai Quái Vật Hoảng Loạn cả. Và nếu ai không thể tự mình lôi bản thân ra khỏi những con vật đó, thì người đó cần một sự tác động khác từ bên ngoài.

Chúng ta đã quá thành thạo trong việc nuông chiều chúng, thậm chí là ca tụng chúng, khiến cho những ai dù có thấy được chúng cũng nhanh chóng buông xuôi. Hằng ha sa số những ví dụ như vậy bủa vây chúng ta mỗi ngày. Những bài thơ buồn khiến mọi người chỉ muốn được tiếp tục ở lại trong nỗi buồn đó, và những status đanh đá thì được nhiều người thả tim. Việc biết rằng là có hại về lâu dài nhưng lại phớt lờ, thậm chí biện minh rằng như thế lại là tốt, với tôi, giống như việc chúng ta sắp bước vào điểm không thể quay lùi trong việc chống biến đổi khí hậu, nhưng đến giờ ai cũng còn thờ ơ vậy. (Xem thêm trường hợp 4.)

Những con vật này đến từ di sản tiến hóa của chúng ta. Nhờ có chúng mà chúng ta mới sống sót đến ngày hôm nay. Nhưng trong thời đại này, chúng xấu xí, và người bị chúng điều khiển sẽ trở nên kém hấp dẫn với những ai không bị chúng điều khiển.

Các bài viết của Wait But Why về các con vật này rất hay và sinh động, tôi khuyến khích bạn đọc hết:

Trường hợp 2: người có sự bất lực học được

Từ trường hợp này trở về sau là những trường hợp liên quan đến niềm tin, tức là với Con Người Quyết Định Lý Trí luôn.

Có một thí nghiệm như sau: người ta nhốt một con chó và cho nó bị giựt điện nhẹ. Ban đầu nó tìm mọi cách để thoát, nhưng vì bị nhốt nên nó đành chấp nhận. Sau đó, người ta để nó ra ngoài cùng với những con chó khác và làm lại thí nghiệm. Mặc dù lần này nó không khó khăn gì để thoát cả, và nó thấy rõ ràng là những con khác có thể thoát khỏi sự khó chịu đó, nó vẫn chấp nhận chịu đựng. Người ta phải tự tay đưa nó ra khỏi nơi bị giựt hai ba lần nó mới nhận ra là có thể thoát ra được thật. Con chó đã học được rằng nó sẽ luôn bất lực. Chính s bt lc hc đưc (learned helplessness) này làm nó không chịu thoát, dù nó biết là nó làm được. Clip này miêu tả khá hay vấn đề này:

Người làm thí nghiệm này, Martin Seligman, chính là cha đẻ của tâm lý học tích cực. Xem thêm What is Positive Psychology?

Bạn thấy, với những ai đã có sự bất lực học được rồi, thì ta bắt buộc phải giúp. Sự bất lực đơn thuần khác sự bất lực học được ở chỗ khi một người bất lực, họ vẫn muốn làm nhưng chỉ là không biết phải làm thế nào thôi. Nhưng ít nhất ở đâu đó họ vẫn muốn làm. Còn người đã học được rằng mình đã bất lực rồi thì kể cả khi thấy những người xung quanh bảo là có làm được đi chăng nữa, họ cũng tự thuyết phục mình là họ không liên quan. Họ sẽ không cố gắng đi tìm lối thoát mà sẽ chấp nhận ở lại với nỗi đau. Kể cả khi họ rất tin tưởng bạn, và bạn đã cho họ cảm thấy mình luôn được an toàn và ủng hộ vô điều kiện, thì họ vẫn sẽ mặc kệ sự tin tưởng đó để tiếp tục dày vò mình.

Những mẫu câu họ sẽ nói như:

  • Không bao giờ quen được
  • Không bao giờ chấm dứt được

Niềm tin rằng họ sẽ không bao giờ thay đổi được cũng sẽ dẫn tới trường hợp 3 và trường hợp 4 tiếp theo sau (mặc dù có thể đây không nhất thiết là nguyên nhân duy nhất cho những trường hợp đó).

👉 Bài chi tiết: Sự bất lực học được

Trường hợp 3: người có định kiến hoặc bóp méo nhận thức

thinking-errors_light

Đâu là dấu hiệu của một cái đầu mở? Là sự tôn trọng với những thứ trái ngược với những điều mình tin là đúng. Có thể trong một cuộc tranh luận, cả hai bên đều cứng đầu, và có thể sẽ không ai thuyết phục được ai. Nhưng miễn là cả hai đều đưa ra được một lý do mới cho mỗi lần nói thì đó vẫn là một cuộc trao đổi lành mạnh, và cả hai vẫn sẽ thu lại được một điều gì đó sau cuộc nói chuyện. Còn nếu chỉ có một bên đưa ra được lý do, còn bên kia gạt phắt ngay lập tức và cho rằng người kia chắc chắn là sai dù không hề xem xét lập luận đó, thì lúc đó đúng là có vấn đề.

Tất nhiên, cũng có rất nhiều lý do cho việc không đưa ra được lý do tại sao. Có thể là do họ e ngại việc trả lời sẽ bị đánh giá, có thể là lúc đó họ cũng không biết phải giải thích sao, có thể là họ biết giải thích nhưng cũng ý thức được rằng nếu nói thiếu ý sẽ dẫn đến một cách hiểu hoàn toàn khác. Nhưng biểu hiện của chúng là sự nhức đầu và bối rối, chứ ko phải là gạt ngay và nói bạn sai ngay lập tức. Nếu khi ta đưa một thông tin trái ngược cho họ và họ phản ứng là “ủa vậy à? Để từ từ nghĩ thêm”, hoặc “ừ biết rồi, nhưng giờ chưa biết giải thích sao”, thì tốt, ta không có gì phải lo. Nếu họ phủ nhận phản biện của bạn nhưng sự phủ nhận đó dựa trên những thông tin bạn nói, thì đó là đang tìm cách chỉ ra sự mâu thuẫn của bạn chứ không phải phớt lờ nó.

Nói về bản thân tôi một chút. Tôi cũng tự biết mình cứng đầu chứ không phải không. Tôi cũng có nhiều điểm không đồng ý với số đông. (Chính vì không đồng ý nên mới phải viết cái blog này.) Không những thế, từ lúc cảm thấy không đồng ý đến lúc có thể nói ra được lý do rõ ràng cho sự đồng ý đó là một quá trình dài. Nên trong khoảng thời gian đó, nhìn từ ngoài vào thì rõ là tôi không chịu nhìn nhận sự mâu thuẫn mình đang có. Nhưng tôi nghĩ, một người thành thật với bản thân là người sẽ tìm cách để làm lập luận của người phản bác mình mạnh hơn trước khi phản bác họ. Đó là sự khác biệt giữa trông như bóp méo và thật sự bóp méo.

Để có hình dung rõ hơn về sự cộng hưởng giữa sự bất lực học được và bóp méo nhận thức, bạn có thể xem phim 12 người đàn ông giận dữ để hiểu thêm.

Trường hợp 4: người cho rằng việc mình làm là hợp lý

Đây lý một số lý do ví dụ mà họ hoặc những người xung quanh họ thường viện vào. Nghe thì cũng hợp lý, nhưng thực chất chỉ là biện minh mà thôi:

  • Tôi không thích thay đổi, tại sao lại bắt tôi thay đổi?
  • Không ai có quyền bắt tôi phải làm điều tôi không muốn
  • Miễn điều tôi làm không hại ai là được
  • Tôi đã quá mệt mỏi rồi bây giờ tôi phải được tận hưởng
  • Cái này ai cũng làm mà đâu riêng gì tôi
  • Tôi bệnh tôi có quyền
  • Người điên là người tỉnh táo nhất
  • Phải điên mới có được những tác phẩm để đời
  • Cuộc đời tựa một bài thơ. Vui buồn gieo vận tình cờ trầm thanh
  • v.v.

Những người thích lừa phỉnh người khác (hay nặng hơn là đạo đức giả) cũng luôn có một lý do cho việc làm của họ.

Thật ra, bản thân những lý do đó ban đầu vốn rất hợp lý. Nhưng dưới sự biến đổi nghĩa của khái niệm, những gì họ nói từ việc chống lại sự nuông chiều lại thành ra phê bình lý trí, từ đó vô tình lại làm cho chúng được nuông chiều thêm. Nhưng bạn cũng khó mà lý giải tại sao.

Tình huống liên quan

Trước khi qua trường hợp 5, tôi muốn lưu ý một chút. Ở trường hợp “tôi bệnh tôi có quyền” đôi khi có một mắc mứu. Giả sử có hai người đang ở trong mối quan hệ “lá lành đùm lá rách”. Trong trường hợp đó, cả bên lá lành lẫn bên lá rách đều hiểu là bên lá rách cần được ưu tiên và thông cảm hơn. Cả hai cũng đều hiểu là sẽ có những lúc lá rách ăn vạ trong lúc quẫn trí, và cả hai cũng nghĩ là mình có thể gánh được vấn đề.

Chuyện chỉ xảy ra khi bên lá rách đang có chuyện và cảnh báo rằng nếu bây giờ lá lành không quan tâm thì lá rách sẽ gây ra tổn thương cho nhau, thì có khi là lá rách chỉ đang cố gắng truyền đi một sự thật mà lá lành không để ý. Đây không phải là ăn vạ, mà là cảnh báo sự nghiêm trọng của vấn đề mà thôi. Nhưng ngặt nỗi là việc đòi hỏi như vậy trông rất giống như đang ăn vạ. Mà cách để ứng phó với thực sự ăn vạ sẽ rất khác, và cách đó sẽ khiến bên lá rách cảm thấy mọi nỗ lực của mình như đổ sông đổ bể. Điều đó càng thúc đẩy bên lá rách làm dữ hơn để bên lá lành nhận ra được vấn đề. Tức là lúc đó, ăn vạ là cách duy nhất để bảo vệ cả hai khỏi sự… ăn vạ.

Tức là lúc này, sự oan và sự không oan cứ xen kẽ, lẩn khuất giữa nhau. Bên trong oan có không oan và bên trong không oan có oan. Điều này sẽ làm cả hai tức phát điên vì không biết phải hiểu vấn đề ra sao.

Trường hợp 5: người ngồi im chờ đợi một người trợ giúp hoàn hảo đến giải thoát cho mình

Để thuận tiện trong việc diễn đạt cũng như thống nhất với các bài viết khác trong blog, tôi sẽ đặt tên người cần được giúp là Megan, còn người đi giúp là Cueball.

Đây là Cueball và Megan:

Untitled picture

Trường hợp này khác các trường hợp trên ở chỗ đây là sự tự ý thức cao nhất của Megan về cuộc đời mình. Megan có một con mắt mà tôi đặt tên là con mắt lạnh như băng. Nhìn vào mắt cô, không ai còn có thể nghi ngờ việc người sở hữu nó thiếu tỉnh táo hay gì cả. Dưới ánh mắt đó, ruột gan của bạn sẽ bị phơi bày lộ thiên, và linh hồn bạn sẽ bị choán ngợp. Ánh mắt đó sẽ ám ảnh bạn cả đời.

Cô có ý thức rất rõ về bản thân. Cô biết điều cô làm là sai, nhưng cái sai của cô có một mục tiêu quan trọng: thử thách người đang cố gắng giúp đỡ họ. Bằng việc lợi dụng việc mình đang có sẵn những vấn đề kể ở trên, cô sẽ chủ động tìm cách vô hiệu hóa những cố gắng giúp đỡ của anh. Không phải cô muốn anh buông xuôi – cô muốn anh đến giúp cô thoát khỏi tình trạng này chứ – nhưng cô cần phải kiểm tra xem anh có đáng tin hay không. Anh sẽ phải vượt qua được một bài kiểm tra gắt gao nhất mình từng gặp chỉ để có thể giúp được cô.

Tùy vào mỗi cặp Cueball – Megan mà bài kiểm tra này sẽ khác nhau. Nhưng tôi thấy, cách để bài kiểm tra này đáng tin nhất là làm cho anh trở nên không đáng tin trong mắt mọi người. Cô không đặt điều để nói xấu anh gì cả, nhưng những đánh giá của cô về anh chỉ dựa trên những cảm xúc ngắn hạn chứ không phải là một sự cân nhắc thấu đáo. Và để có thể làm những người khác cảm thấy đây là sự cân nhắc thấu đáo chứ không phải cảm xúc ngắn hạn, cô cần ám thị bản thân, tự lẩm nhẩm kịch bản mỗi ngày để có thể hoàn toàn hoá thân vào nhân vật mình tạo ra. Nó cần trở thành một phản xạ để khi có ai hỏi đến thì cô có thể trả lời ngay mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Sự chống đối của cô có được áp dụng một cách triệt để hay không sẽ quyết định sự đáng tin cậy của bài kiểm tra dành cho anh.

Đúng ra với những người như đang giỡn mặt như vậy thì anh chẳng cần phải giúp chi cho phí công. Anh còn bao nhiêu thứ quan trọng hơn, mà những người giỡn mặt như vậy thì chẳng xứng đáng. Tuy nhiên, anh cũng hiểu là những gì cô làm là hợp lý, và thấy đúng là mình vẫn có thể làm tốt hơn. Anh hiểu nếu chính bản thân anh cũng còn chưa hài lòng với kết quả hiện tại, thì làm sao cô có thể bị thuyết phục hoàn toàn được. Anh biết là cô đang dùng sự tổn thương của mình như là một giải thưởng để anh tiếp tục nỗ lực, và anh cũng hiểu là người khác nhìn từ ngoài vào chỉ thấy đây là một mối quan hệ độc hại. Anh hiểu là cho đến chừng nào anh thể hiện được khả năng lãnh đạo và khiến cho những người từng tin tưởng cô và hoài nghi anh thôi hoài nghi anh và bắt đầu yêu cầu cô giải thích, thì cô sẽ không ngừng lại. Anh biết là với cô, tất cả những gì cô cần chỉ là một người có thể vượt qua được tất cả thử thách cô tạo ra, và anh biết là cô biết là anh biết hết những điều đó.

Đây không phải là sự nhõng nhẽo, hay trò chơi mèo vờn chuột, càng không phải là sự thao túng chuyên nghiệp, mà là của hai con người đang trao niềm tin cho nhau. Nó là một sự khẳng định mạnh mẽ và đầy tự chủ rằng cô đang chờ anh đến gặp cô. Với khả năng của mình, cô thừa hiểu là anh dư sức để vượt qua hết, nhưng cô vẫn trì hoãn càng nhiều càng tốt. Còn anh, anh cũng chẳng cần phải làm vậy chi cho mệt, nhưng anh biết cô xứng đáng được một lần hết đau khổ, và anh hiểu là cô làm như vậy là cần thiết. Chừng nào có anh có thể vượt qua được muôn ngàn sóng gió để tới thay đổi cô, thì cô sẽ thừa nhận mình đã sai. Còn từ giờ cho đến lúc đó thì đừng hòng.

Cho nên, bảo rằng cô không cần tác động cũng rất đúng, mà bảo rằng cô cần phải được tác động cũng đúng không kém. Người ngoài nhìn vào sẽ chỉ thấy cô rất ổn, và anh thì rất không ổn. Nhưng họ không tài nào hiểu nổi là trong rất không ổn có rất ổn và trong rất ổn có rất không ổn. Phải là những người nghĩ cho nhau kinh khủng lắm mới làm được những điều như thế.

Phần 0, Phần 3, Phần 4

vlcsnap-2019-12-31-13h47m49s663

Khi sự giúp đỡ lại trông như cưỡng ép

Khi một con hươu bị mắc kẹt trong bùn, nó sẽ tìm mọi cách để được thoát ra. Có khi thành công, có khi bất lực. Nhưng dù thành công hay bất lực thì nỗi sợ với người lạ cũng không mất đi. Nó rõ ràng là muốn thoát khỏi vũng bùn đó, nhưng khi có người tiếp cận nó thì không cần biết họ tốt hay xấu nỗi sợ vẫn lấn át. Nó vùng vằng, tấn công ngược lại người đang giúp nó, và phải mất tới 45 phút để họ đẩy nó lên. Thà nó cứ như một cái xác chết thì có khi chỉ 5 phút là xong.

Nhưng vẫn còn may vì nó vẫn chỉ là con hươu. Nếu con vật bạn đang muốn giúp lại là con người, sống trong xã hội loài người, thì sự phản kháng của nó sẽ không phải bằng gạc, mà bằng những câu như:

  • Nó không cần được giúp, tại sao lại cố giúp nó?
  • Nó ổn với cái suy nghĩ của nó, thì tại sao phải thay đổi?
  • Nó đã chấp nhận như vậy rồi, hãy để nó tự chịu trách nhiệm với lựa chọn đó
  • Chuyện riêng của người khác thì đừng can dự vào
  • Hãy biết tôn trọng sự khó chịu của người khác
  • Bạn là ai mà dám cho rằng mình đúng?
  • … và khoảng 50 câu tương tự …

Dĩ nhiên, nếu như người cần được giúp thực sự đang ở trong một vũng bùn thật thì chẳng ai phàn nàn cả. Người ta chỉ hoài nghi khi cả vũng bùn và tác hại của nó đều trừu tượng mà thôi. Nhưng vấn đề là dù là bùn thật hay bùn trừu tượng thì những câu hỏi này thật ra chỉ khiến tình trạng tồi tệ của họ kéo dài thêm. Cố gắng trả lời những câu này, hoặc tệ hơn, cho rằng chúng hợp lý, là nhắm mắt làm ngơ, là tự thuyết phục bản thân là không có chuyện gì đang xảy ra. Vào lúc đó, bao nhiêu triết lý được đưa ra cũng chỉ để dung dưỡng tình trạng đó mà thôi. Nếu như trong clip hai anh chàng kia đứng trả lời những câu hỏi như vậy của con hươu, thì nó đã chẳng bao giờ có thể thoát khỏi vũng bùn.

Có nhiều cách để giải quyết mà vẫn để họ cảm thấy được tôn trọng: giao tiếp phi bạo động, lắng nghe sâu, chánh niệm. Nhưng tất cả đều có vẻ như phụ thuộc vào một điều: dù có cảm xúc tiêu cực thì họ vẫn còn muốn nói chuyện với ta. Còn nếu họ nhất định mặc kệ, thì những phương pháp đó đều không làm gì được.

Lúc này mọi người sẽ nói, nếu như nếu cố gắng mà không được, thì là do mình làm không đúng thời điểm, hay con người lúc đó chưa sẵn sàng để tiếp nhận. Nhưng khi nào thì họ sẽ sẵn sàng? Tại sao phải chờ quá lâu? Tại sao phải chấp nhận để họ làm tổn thương hết người này đến người khác trong một thời gian nữa, trong khi nếu họ thực sự nghiêm túc suy nghĩ thì chẳng tốn quá một tuần? Đúng là cần để cho họ tự trải nghiệm và tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời của mình, nhưng cuộc sống đã cho họ quá đủ trải nghiệm rồi nên họ mới thành ra như thế. Giờ muốn họ thực sự suy nghĩ điều ngược lại thì cần cho họ một sự trải nghiệm mới nhiều gấp đôi, gấp ba. Liệu ai sẽ là người đem lại trải nghiệm nhiều gấp đôi, gấp ba cho họ, khi xã hội vẫn hằng ngày có những ví dụ để tiếp tục khẳng định niềm tin tiêu cực đấy? Tại sao lại phải trông chờ vào những thứ ngẫu nhiên, khi ta hoàn toàn có thể tạo ra môi trường phù hợp cho họ? Và nếu không ta thì ai, khi ta mới là người hiểu rõ họ nhất và nhiều động lực nhất để giúp họ?

“Hãy cứ gieo nhân đi, rồi duyên sẽ tự trổ” – nhiều người sẽ bảo nhau thế. Nhưng gieo nhân phải gieo đúng nhân. Không thể gieo nhân sai rồi hy vọng nó sẽ trổ được. Liệu cái nhân quan trọng nhất đã được gieo chưa? Vả lại, đã có ai khảo sát quan niệm này một cách kỹ lưỡng chưa? Nhiều người nói những câu này cũng là những người làm công việc khoa học, nhưng tôi cảm thấy câu nói này chưa hề được trải qua một sự khảo sát kỹ lưỡng và gắt gao, theo đúng tinh thần kiểm sai của khoa học.

Những quan điểm vừa được nêu tôi nghĩ chỉ phù hợp cho những ai vẫn còn muốn tin. Còn với những ai đã mất hoàn toàn niềm tin rồi, thì đơn giản là không áp dụng được. Ta có nói những điều đó với trong tình huống cứu hươu trên kia không? Một cách vô tình, việc sử dụng chúng chỉ làm trì hoãn sự can thiệp họ cần được nhận, và thậm chí không khác gì dung dưỡng vấn đề cả. Nó giống như việc bây giờ chúng ta sắp bước vào giai đoạn không thể đảo ngược của biến đổi khí hậu, nhưng ai cũng viện nhiều lý do để thờ ơ cả.

Quan niệm sẽ chỉ thay đổi khi ta có nhiều điều kiện tiếp xúc với thứ ta căm ghét hoặc chối bỏ. Sự phản tư sẽ chỉ được kích hoạt khi xuất hiện một tổ hợp các từ khóa được sắp xếp một cách hoàn hảo, để điền vào chỗ trống giữa trải nghiệm trong quá khứ và niềm tin mới họ muốn tin nhưng chưa biết làm sao để tin. Đó là cách duy nhất. Nó mạnh mẽ đến mức tôi còn mạnh dạn nghĩ là nếu ai đó bảo có cách thứ hai, thì hoặc là họ đang có một phát hiện mới mà bao nhiêu thế hệ các nhà khoa học tìm mãi mà vẫn không nhìn thấy, hoặc là họ đang nói chuyện phản khoa học.

Và không chỉ đó là cách duy nhất, mà nó còn kh thi. Kể cả khi họ đã xác quyết một niềm tin không bao giờ có thể lay chuyển nổi, thì tôi nghĩ tin lẩn khuất đâu đó họ vẫn luôn mong mình đang sai. Vấn đề chỉ là họ không biết nó sai ở đâu. Không ai chỉ cho họ cả, nhưng ai cũng luôn chỉ trích họ. Giống như những người sáng mắt cười nhạo những ông mù vì không hiểu con voi là gì. Nếu có ai đó gợi ý đường đi cho họ, thì tự họ sẽ tìm ra con đường cho mình mà chẳng phải phiền đến ai. Nếu chạm đúng cái ý họ đã tìm kiếm bao lâu nay, tự động họ sẽ ngẩng người ra suy nghĩ đến cùng. Tôi không nghĩ tước đi quyền được biết của họ là một điều hay ho.

Trong các phần tiếp theo, tôi sẽ đưa ra câu trả lời của mình cho những câu hỏi được liệt kê ở trên. Nó sẽ được chia ra thành các phần:

Như tiêu đề của bài viết, tôi đang bàn đến những trường hợp dù bạn có thể hiện sự yêu thương vô điều kiện đến mấy thì họ sẽ kháng cự đến cùng. Bây giờ bạn chỉ có hai lựa chọn duy nhất: hoặc là không làm gì cả, hoặc là trở thành người xứng đáng với sự tin tưởng của họ. Bạn sẽ chọn gì?