Phản hồi của người dịch: bạn đọc sách không thấm rồi

Đạo không thể được hiểu qua việc độc thoại, mà là qua đối thoại. Sau khi viết xong 3 phần đầu, tôi có dịp được trò chuyện với người dịch quyển sách này, anh Tuan Kiuti Di. Anh đã cho tôi vỡ lẽ ra nhiều điều.

Anh hỏi:

“Tôi đã dành ba mươi năm, bốn mươi năm để kiểm nghiệm xem liệu mình có nhầm lẫn hay không, vừa làm vừa nghiền ngẫm, nhưng chưa lần nào tôi tìm ra được bằng chứng chống lại điều ấy cả.”

Bạn có biết “điều ấy” ở đây mà cụ Fu nói đến là gì không? 😀 Toàn bộ bài viết của bạn vẫn chứng minh “điều ấy” là đúng mà thôi.

Tôi trả lời:

Cám ơn bạn đã nhắc nhở. Thật sự thì lúc mình viết bài này cũng hơi thấy nguy hiểm, vì mình biết trong lúc mình nói ông ấy nhầm lẫn về khoa học, thì mình cũng có thể đang nhầm lẫn về ý ông ấy nói. Sẽ có vô vàn ý nhỏ mà ông ấy muốn nói tới, mà chỉ cần sót một ý thôi thì có thể toàn bộ bài viết sẽ phải sửa lại, nếu không nói là sụp đổ. Nên cũng rất cần sự góp ý của mọi người.

Anyway, mình nghĩ cái ý của ông ấy là “khoa học là phân biệt”?

Anh đáp:

Không, bạn đọc sách không thấm rồi. “Điều ấy” không thể nói thành lời, nhưng nếu phải nói thành lời thì là “con người chẳng biết gì sất”, đấy là điều ông ấy dùng cả đời mình kiểm nghiệm, chứ không phải các chi tiết kiểu như “khoa học là phân biệt”

Đúng là không thấm thật. Câu đó nói ngay từ đầu, nhưng lại chẳng để ý. Cái “điều ấy”, cái điều mà kể cả việc phải nói là “ta không biết gì sất” cũng có thể bị hiểu nhầm ấy, là khởi nguồn của toàn bộ thế giới quan của ông ấy. Nếu không nắm được nó thì những chỉ trích vào ông ấy chỉ là lạc đề mà thôi. Và với những ai đã quen với việc có thể biết một cái gì đó, và đã trải qua nhiều lần tự hoài nghi bản thân mà vẫn thấy rằng thực sự là biết được nó, thì cái “điều ấy” khó mà thấm được.

Phần tiếp theo, Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm, được viết ra cho những ai muốn hiểu bản chất của chuyện hiểu nhầm này. Nếu bạn thấy không cần thiết, có thể bỏ qua để đọc phần Điều ông ấy thực sự nói.

P ・ 製 0 山 に H : リ 0 8-4 
0 0 〇 〇 
ⅱ 0 
ノ ノ 彡

Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm

Mọi người hiểu nhầm ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng

Thoạt nhìn, những chỉ trích của ông ấy không có gì mới. Ai cũng biết là bất cứ hệ thống, tổ chức nào (không chỉ mỗi hệ thống khoa học) cũng có phần xơ cứng. Ai cũng biết ở đâu cũng sẽ có người tham lam. Ai cũng biết không dễ gì có tầm nhìn dài hạn. Ai cũng biết muốn giải quyết vấn đề thì phải tìm đến gốc rễ. Ai cũng biết nếu có thể để tự nhiên làm thay công việc của mình thì tốt. Ai cũng biết là mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau. Ai cũng biết kiến thức ngày hôm nay sang ngày mai có thể không còn đúng nữa. Những lời cảnh tỉnh đó rất đúng, nhưng mà ai cũng biết. Chính vì ai cũng biết như vậy, nên một cách hoàn toàn tự nhiên người đọc sẽ nhanh chóng bỏ qua để thu thập thông tin hữu ích hơn.

Nhưng vì cái thông tin mới với họ, cái triết lý cốt lõi “ta chẳng biết gì sất” đó, lại cũng không có gì khác với bản chất của khoa học (như đã nói ở các phần trước), nên rốt cuộc họ cũng không thấy gì mới cả*. Thứ còn lại ở họ chỉ là cái cảm giác ông ấy không chịu hiểu đúng mà đã vội phê phán, và không khỏi cảm thấy ông ấy cao ngạo.

*Nó không mới, nhưng nó lại là thứ các nhà khoa học hay quên, và nếu quên thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Đó là lý do ông ấy “không giữ được bình tĩnh” khi thấy họ cứ quên hoài, và nhắc lại bao nhiêu cũng không đủ. Phần sau sẽ nói rõ hơn.

Hiểu nhầm không phải là vấn đề lớn; ai mà chẳng hiểu nhầm. Và thường cũng không ai trách người khác hiểu lầm cả, nếu họ thấy người đó có mong muốn sửa. Nhưng vì mục tiêu quan trọng và cấp thiết nhất của ông ấy là cảnh tỉnh người làm khoa học, nên mục tiêu hiểu đúng trở thành thứ yếu. Cái sai của nhà khoa học quá rõ ràng, nên không cần thiết phải hiểu thật đúng nữa. Chính vì như vậy, nên mới có chuyện ông ấy bị hiểm nhầm là ông ấy không muốn hiểu đúng. Chứ thật ra với một người luôn nói rằng mình chẳng biết gì hết thì mối quan tâm đó hẳn là rất lớn.

Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu nhầm

Nhưng hình như một mâu thuẫn gì ở đây: nếu ông ấy muốn đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà khoa học, thì ông ấy phải làm sao để họ nghe được tiếng chuông đó chứ?

Khi một người giải thích suy nghĩ của mình cho người khác, họ sẽ trình bày những gì mình biết một cách rõ ràng và chặt chẽ, để người kia cũng nắm được tường tận và rốt ráo ý của mình. Sự rõ ràng, như vậy, đồng nghĩa với sự hiểu biết. Nhưng vì ông ấy đã chấp nhận chuyện điều gì mình nói cũng có thể sai, chấp nhận chuyện mình không biết gì sất, nên ông ấy không thể cho phép mình nói một cách chặt chẽ và rõ ràng được. Nếu chỉ mới giải thích cái “điều ấy” thôi mà còn sai, thì làm sao có thể giải thích cái gì nữa chứ? Với ông ấy, sự hiển ngôn tai hại ở chỗ nó làm người nói ảo tưởng rằng mình đã hiểu toàn bộ vấn đề rồi.

Nhưng nếu không thể trình bày ý mình một cách rõ ràng, thì làm sao người khác hiểu được? Và kể cả nếu ông ấy tìm cách diễn đạt một cách chính xác đi nữa, thì làm sao để ngăn người nghe không suy diễn theo ý họ được? Và kể cả khi người nghe không suy diễn đi chăng nữa, thì vì nó được viết ra với tâm thế rằng nó không thể giúp được cho bất kỳ ai, và mỗi người phải tự cứu lấy mình, nên trách nhiệm hiểu cuốn ấy thật kỹ thuộc về người đọc, không phải người viết.

Thế nên, tất cả những chuyện này là lý do để ông ấy chấp nhận chuyện hiểu nhầm, và không còn thấy chuyện người khác có hiểu đúng mình hay không là cần thiết nữa. Khi đã chấp nhận mình không biết gì cả, thì cũng chấp nhận ý của mình không được trình bày một cách rõ ràng, và cũng sẽ chấp nhận việc người khác không hiểu đúng ý mình.

Tóm lại, đây là những rắc rối khiến cho tiếng chuông cảnh tỉnh ông ấy đánh, dù rất to, cũng không đến được tai những người cần nghe nó nhất:

  • Đầu tiên, ông ấy có hiểu nhầm khoa học. Điều đó cũng là bình thường, ai cũng thế, không có gì nghiêm trọng cả
  • Điều khiến nó trở nên nghiêm trọng là vì ông ấy có chuyện quan trọng và cấp thiết hơn chuyện hiểu đúng, nên không có tâm trí để hiểu kỹ hơn
  • Điều đó làm cho mọi người hiểu nhầm là ông ấy không quan trọng chuyện hiểu đúng
  • Nhưng vì đã chọn không quá đặt nặng chuyện rõ ràng, ông ấy chấp nhận chuyện mình bị người khác hiểu nhầm, nên những hiểu nhầm ban đầu không được khắc phục, dù nếu không khắc phục thì không ai nghe được tiếng chuông đó

Cho nên, tất cả các phần trước vẫn còn nông lắm, vì chúng mới chỉ mới chạm tới level 1 mà thôi. Còn level 2, 3, 4 thì chưa chạm tới. Những level này chỉ có thể nhận ra khi đã thấm nhuần cái triết lý “ta không biết gì sất”. Cái triết lý đó phải được đi kèm theo từng bước lập luận của ta.

Nếu một người vì một lý do quan trọng nào đó mà chấp nhận bị hiểu nhầm, vậy thì chính là câu con én đưa thoi vậy. Cái lắt léo ở đây là ông ấy chấp nhận chuyện bị hiểu lầm rằng ông ấy không quan tâm xem mình có đang hiểu lầm người khác hay không. Thường mọi người sẽ không lắt léo được tới mức đó. Và nó tạo ra hai vòng luẩn quẩn (feedback loop) cùng lúc:

  • Ông ấy không hài lòng, nhưng người khác lại không hiểu ý ông ấy muốn nói là gì, nên sự không hài lòng của ông ấy không được giải tỏa
  • Ông ấy chấp nhận chuyện mình bị hiểu lầm, làm cho người khác càng hiểu lầm ông ấy, nên sự hiểu lầm đó cũng không được giải tỏa

Đây không phải là lỗi của ai, nhưng cũng lại là lỗi của cả hai. Hình này chắc là minh họa tốt nhất cho chuyện này:

Nhìn thì trông đau khổ vật vã, nhưng ý tưởng cơ bản thì vẫn đúng: khi hiểu lầm xảy ra, lỗi không thuộc về cả hai, mà lại cũng thuộc về cả hai. Đã vậy, ai cũng không thấy lỗi là do mình, mà chỉ thấy lỗi của người kia. Chuyện này liên quan việc trí nhớ ngắn hạn và sự chú ý làm biến đổi nghĩa của từ, và sẽ không thể xảy ra nếu cả hai không từ bi với nhau.

Nguyên phần Lý do khiến ông ấy bị hiểu nhầm này là để giải thích level 3 và 4. Phần tiếp theo sẽ giải thích level 2. Phần cuối cùng sẽ giải thích cách để lên level này.

Điều ông ấy thực sự muốn nói: tâm thế của ông ấy khi làm khoa học

Đừng quên rằng cái gì cũng có thể có thể sai

Nhà khoa học có thể khiêm tốn nói rằng tôi không biết nhiều thứ, nhưng với những kiến thức đã được khoa học sản xuất ra, họ vẫn nói là tôi biết. Tôi biết trái đất quay quanh mặt trời, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết cây cam cùng họ với cây quýt, vì nó đã được kiểm sai. Tôi biết là về nguyên tắc những cái tôi nói có thể bị lật nhào vào ngày mai, nhưng tôi biết là tôi đúng. Cái sức mạnh dự đoán (predictive power) cho phép họ nói điều đó. Nhưng cái sức mạnh dự đoán đó chỉ là sản phẩm của tính kiểm sai, chứ không phải là bản thân tính kiểm sai. Tính kiểm sai mới là thứ làm nên khoa học, còn cái tính dự đoán đó thì không. Vậy mà, nhà khoa học chỉ nhớ đến những lý thuyết của mình như một thứ có sức mạnh dự đoán, chứ không phải là thứ có thể bị sai.

Quả thật, ai bước vào khoa học cũng mong muốn hiểu tự nhiên bằng sự logic, chặt chẽ. “Rồi một ngày mình cũng sẽ hiểu được vấn đề. Không những hiểu mà còn làm chủ được nó, khai phá hết tiềm năng của nó. Đời mình không biết thì đời con cháu mình biết.” Vì biết bất cứ lúc nào cũng có thể sai, nên họ mới phải xây dựng phương pháp khoa học để đảm bảo rằng kiến thức nó sản xuất đều kiểm sai được. Tiếc thay, khi họ ủy thác hết vào trong phương pháp khoa học đó, thì trong đầu họ chỉ còn lại cái sức mạnh dự đoán của nó. Họ có một hệ thống bình duyệt chặt chẽ, nhưng rồi sau khi bình duyệt xong thì lại quên mất rằng đó vẫn chưa phải là sự thật tối hậu. Còn ông ấy bước vào khoa học với tâm thế rằng cái gì mình đang nghĩ cũng có thể sai. Cái tâm thế đó mới đúng là định nghĩa của khoa học. Nên hóa ra, có khi ông ấy còn khoa học hơn những nhà khoa học.

Nói đi cũng phải nói lại, việc lý thuyết có khả năng dự đoán cực kỳ cao sau khi trải qua kiểm nghiệm là lý do để nó đáng được nhớ tới. Ông ấy chỉ nói là khả năng dự đoán không phải là chân lý tối hậu, chỉ vậy thôi. Nhà khoa học biết rõ điều đó chứ, nhưng lại không nhớ đủ thấm trong lúc sử dụng lý thuyết. Còn ông ấy nhất quyết không thỏa hiệp với cái nửa vời như vậy, nên triết lý của ông mới có thể thấm thật sâu, thật đậm vào tư duy của mình. Nhờ có vậy, nên ông ấy mới có thể thấy hết được những nguy cơ tiềm ẩn trên con đường mà họ đang đi. Nên đây chỉ là một lời cảnh tỉnh, chứ ông ấy không viết cuốn này để lập luận rằng khoa học là sai lầm.

Lúc làm việc đừng xả “rác”

Không những luôn nhớ rằng mình luôn có thể sai, ông ấy còn luôn tự nhắc nhở rằng dù mình có làm đúng thì cũng đừng xả “rác”:

Khi xuống ruộng hoặc lên vườn, tôi tự nhủ với mình: chớ có hứa hẹn gì cả, hãy quên ngày hôm qua đi, đừng nghĩ về ngày mai, nỗ lực hết mình vào công việc của từng ngày và không để lại dấu vết nào trên trái đất này hết. (101)

Giả sử bạn là một người hăng hái bảo vệ môi trường. Bạn tham gia chiến dịch cứu rùa biển, bạn vận động mọi người không dùng túi ni lông, thậm chí kể cả khi bạn là người đặt bút ký cam kết giảm lượng khí thải của đất nước mình trong hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu, thì với ông ấy, như vậy vẫn là chưa đủ. Lẩn khuất trong sự hăng hái đó là cái mong muốn giúp đỡ một ai đó, để lại cho đời một cái gì đó, và chỉ một chút xíu đó thôi cũng đã gọi là tham lam. Có thể bạn cũng chẳng màng gì đến danh lợi, nhưng để người khác nhớ đến bạn cũng đã là nguy hại rồi. Cái bạn để lại cho đời đó là rất tốt, rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng ông ấy còn muốn bạn làm triệt để hơn, sao cho những người đi sau thậm chí còn không nhận ra là bạn là người làm ra chúng nữa.

Khi ông ấy hỏi “không làm việc này thì sao nhỉ?”, ở phần 2 tôi đã nghĩ là nó cũng không thực sự khác với một người dừng lại để quan sát, và kết luận rằng nó cũng không khác cách tiếp cận của khoa học. Điều đó không sai, nhưng hóa ra tôi đã chưa hiểu hết ý ông ấy. Cách hiểu trọn vẹn hơn phải là: (Tôi) không làm việc này (mà để cho Tự nhiên làm) thì sao? Quả thực đây không phải là tâm thế của một người làm khoa học. Ông ấy làm, nhưng khi đã đủ hiểu để cảm thấy Tự nhiên có thể lo nốt phần còn lại thì ông ấy ngừng, không nghiên cứu tiếp. Còn tâm thế của người làm khoa học không như vậy. Họ cũng làm, nhưng làm xong họ lại quay sang vấn đề khác để tìm hiểu. Và như vậy thì họ vẫn để lại dấu vết của mình.


Nói theo đúng kiểu của Đạo gia, thì kết luận trên thể hiện sự tai hại của việc hiển ngôn. Vì nói nhà khoa học quay sang vấn đề khác là không xả rác cũng không đúng, mà nói họ xả rác cũng không đúng. Lý do họ quay sang làm vấn đề khác vừa có thể nói là dành việc của Tự nhiên, vừa có thể nói đó là việc Tự nhiên dành cho họ. Khám phá thì cứ khám phá thôi, chẳng cần phải có lý do gì cả. Có những vấn đề cứ phải mày mò như vậy mới có kết quả. Cứ làm đi, rồi Tự nhiên sẽ đưa ta đến những điều không ngờ tới.

Triết lý của ông ấy đã cho ra một nguồn thực phẩm ngon lành hơn, và giải quyết được vấn đề lương thực ở nhiều đất nước. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các công nghệ năng lượng mới như quang năng, phong năng, địa năng, và sự trợ giúp của AI, năng lượng sẽ được sản xuất và phân phối một cách hiệu quả hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ là với những công nghệ đó, không có lý do gì để không nói là con người đang giao cho tự nhiên làm việc. Người sử dụng chúng vẫn có thể tham lam, nhưng sự tham lam đó khó mà bắt bẻ hơn nữa, vì chúng rất xanh. Con người vẫn có thể tiêu xài thả ga mà vẫn thân thiện với môi trường. Sự khác biệt giữa họ với một người thực sự chọn thuận Tự nhiên có thể không còn nhiều. Có lẽ lúc đó nó chỉ là làm phong phú thêm tinh thần của con người, giống như môn bắn cung hoặc đấu kiếm ngày nay vậy.

Mỗi lần định đưa ra giải pháp cho một vấn đề nào đó, đặt câu hỏi “để làm gì?” mười lần

Việc tìm đến gốc rễ để giải quyết vấn đề không có gì mới. Vấn đề ở đây là người ta chỉ đặt câu hỏi được một hai lần rồi quên. Còn ông ấy thì muốn lúc nào cũng phải đặt câu hỏi như vậy. Và quả thực là nếu không làm như vậy, thì giải pháp đưa ra chỉ là tình thế, xử lý triệu chứng.

Nhưng đặt câu hỏi vậy hoài cũng mệt quá; ông ấy đưa ra cách đặt câu hỏi hay hơn: tại sao không nghĩ là mình lúc nào cũng đang sai? Vì luôn giả định là mình đang sai trước khi áp dụng bất cứ giải pháp nào, nên ông ấy có ngay cách để lần ra hướng giải quyết nhanh nhất: dùng trực giác nắm bắt hình dạng nguyên thuỷ của tự nhiên (116). Người làm khoa học khác ông ấy ở chỗ họ không tích hợp (cooperate) cái ý nguyên nhân nằm ở con người vào công việc của họ. Họ biết là nó quan trọng, nhưng họ không nhận thức đủ tầm quan trọng của nó. Họ chỉ cân nhắc ý đó một cách thoáng qua lúc đầu thôi, rồi sau khi có một đáp án nào đó, họ lại quên tích hợp nó vào bước suy luận kế tiếp của mình.

Cách quay về Tự nhiên khi đang sống trong thế giới khái niệm

Lướt qua những điều ở trên, ta sẽ thấy đây chỉ là vấn đề về trí nhớ: họ chỉ xa rời gốc rễ khi họ quên đi những điều này, và sẽ trở về gốc rễ khi họ nhớ chúng. Vậy, nếu vấn đề chỉ là quên và nhớ, và nếu quả thật bản thân hệ thống triết lý của hai bên là tương đồng và không mâu thuẫn nhau như đã nói ở các phần trước, thì tôi nghĩ mọi sự khác biệt đều bắt nguồn từ quá trình trí nhớ (memory) mà thôi. Nhà khoa học thì chọn giao phó trí nhớ của mình cho người khác để giải phóng trí nhớ của mình, còn ông ấy thì chọn luôn nhớ chúng. Có lẽ đó là nguồn cơn của mọi hiểu nhầm, mọi chỉ trích lẫn nhau.

Tôi chưa đọc triết học nhiều đủ để nói về bất cứ điều gì, nhưng tôi nghĩ nguồn cơn của mọi sự khác biệt về quan điểm bắt đầu từ đây. Đứng trước một giới hạn về việc xử lý nhiều thông tin cùng một lúc, ta buộc phải chọn ra một vài thông tin trong số đó để suy ngẫm, và tạm gác những thông tin còn lại. Đến lúc xử lý xong thì những thông tin chưa được chọn lại bị quên mất. Nên thành ra mỗi bộ thông tin khác nhau sẽ cho một hệ giá trị khác nhau.

Tại sao người ta lại phải xây dựng một thế giới toàn khái niệm? Vì họ cần quản lý bộ nhớ của mình. Một khái niệm mới được sinh ra sẽ làm giảm số thông tin cần phải nhớ, nên họ mới có đủ chỗ trống để xử lý thông tin khác. Chứ chỉ nói sống trong thế giới của khái niệm là xa rời gốc rễ thì cũng khó thuyết phục.

Nên phải chăng chỉ cần nhớ lại những điều cơ bản đó, thì ta sẽ quay trở lại Tự nhiên?

Nếu…thì?

Mình có tham gia biên tập cuốn này. Sách in ra có một số lỗi không ảnh hưởng lắm nên mình không ghi ra đây, nhưng có một chú thích ở trang 130 các bạn sửa lại như sau:

Ví dụ để lưu số 654321 cần 6 ngăn nhớ trước dấu phẩy, để lưu 0.12345 cần 5 ngăn sau dấu phẩy, tổng cộng là 11 ngăn. Nhưng nếu biểu diễn dưới dạng lũy thừa (6×10⁶, 5×10⁻⁵) thì chỉ cần 3 ngăn là đủ. Một ngăn cho cơ số, một ngăn cho số mũ, còn một ngăn cho dấu của số mũ. Nếu cần biểu diễn cả số âm thì là 4 ngăn.

Danh sách của Wired ở mép bìa 1 ở đây. Bạn sẽ thấy trong danh sách đó có cả pornography 🤩. Một đoạn phỏng vấn tác giả không được đưa vào sách, nhưng mình thấy cũng khá hay:

Một vài câu hỏi mà tôi thích đến từ trẻ con. Tôi nghĩ đôi khi người lớn quá chú trọng đến những kịch bản tạo càng nhiều sự phá hủy càng tốt. Khi ấy, tôi có trả lời thì cũng chỉ tô thêm vào những gì họ đã miêu tả, nên cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Trong khi trẻ con lại gửi những câu hỏi thật sự kỳ lạ nhưng vào thẳng vấn đề (“chuyện gì sẽ xảy ra nếu có một tòa nhà cao một triệu tầng?”). Tôi thích như vậy hơn, vì khi tôi trả lời, chúng thường đưa tôi đến những điều không lường trước được. (fivethirtyeight)

Bìa cuối mình viết lúc kiến thức không được vững vàng lắm nên nghe triết lý cao siêu 🤣. Nếu được thì mình sẽ viết lại thế này:

Bạn đang có một câu chuyện hay ho thú vị, và muốn nó được kéo dài mãi mà không cảm thấy chán? Hãy đặt câu hỏi. Đặt thật nhiều vào. Trả lời chúng tất nhiên là tốn công tốn sức, và rồi sẽ có lúc bạn cảm thấy hoang mang. Nhưng nhờ thế, bạn sẽ thấy thật yên tâm với những điều hiện tại. Nhưng hay hơn cả, là đặt câu hỏi cho những điều tưởng như không bao giờ tồn tại. Lúc đấy, dù điều gì có xảy đến thì ta cũng có thể cười thật rạng rỡ, vì ta đã có trong tay vô số lối đi để tiếp tục cuộc hành trình.

Nói thêm một chút về cái tên. Bìa gốc tên là “What if?”, dịch sát thì phải là “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu…?”. Đồng ý rằng tên này dài, nhưng mình nghĩ nó hay hơn tên “Nếu… thì…?” hơn nhiều. “Nếu… thì…?” chỉ đơn giản là sự thắc mắc, khám phá một vấn đề gì đó. Còn “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu…?” còn hàm nghĩa dám đối diện với thứ mình cho là vô lý, và dám đánh đổ những gì mình tin là chân lý. Hy sinh cái nghĩa như vậy cho một cái tên ngắn, mình thấy thật không đáng.

Thật ra mình cũng hiểu là một người biên tập viên tốt là một người có thể mạnh dạn cắt bỏ những gì không cần thiết. Mình chỉ muốn nói là ở trường hợp này nếu lựa chọn cách dịch như vậy thì sẽ có những lớp nghĩa như vậy bị mất đi. Nhờ những lớp nghĩa đó mà độc giả mới có cơ hội được tự mình khám phá ẩn ý của tác giả. Nếu bỏ chúng đi, đồng nghĩa với việc họ bị tước bỏ niềm vui được mở ra những góc nhìn mà trước đây họ chưa từng có.


Niềm vui hiểu Đạo

Tôi nghĩ, cái vui của người hiểu Đạo là cái vui của việc thấy được nghĩa của từ luôn thay đổi.

Lấy cặp từ đối nghịch “nóng – lạnh” làm ví dụ. Khi ta nói một cái gì đó là “nóng”, ta đã ngầm định rằng nó tốt hơn/nhiều hơn “lạnh”. Nhưng nếu ta tra vấn lại mối quan hệ ngữ nghĩa đó, thì nghĩa của “nóng” và “lạnh” sẽ thay đổi. Khi nghĩa này thay đổi, thì góc nhìn của ta cũng sẽ thay đổi theo. Tương tự với lập luận “ngựa trắng không phải là ngựa”. Khi Công Tôn Long tra vấn lại mối quan hệ giữa “ngựa” và “ngựa trắng”, lật lại cái ngầm định rằng ngựa trắng là ngựa, thì nghĩa của hai từ nay đã bị biến đổi. (Ta cũng có thể nói là nghĩa của từ “là” bị thay đổi cũng được.)

Điều này khác với trò chơi ngôn ngữ của Derrida. Ở đây vẫn là chuyện các từ có nghĩa, và góc nhìn của chủ thể được hình thành bởi nghĩa của từ (the perspective is created by word’s meaning).

Ở phương Tây, cũng cùng thời với Trang Tử, Socrates cũng đã thấy được điều này khi liên tục đặt câu hỏi cho học trò của mình. Từ đó làm thành phương pháp đặt câu hỏi Socratic, cơ sở của việc dạy học và trị liệu tâm lý hiện đại. Nên tôi nghĩ khi ta tra vấn những thứ ta ngầm định, nghĩa của từ bị biến đổi, và góc nhìn của bản thân cũng thay đổi theo (challenging assumption = meaning shifting = perspective changing).

Vì bản chất của ngôn ngữ là nghĩa luôn thay đổi, nếu nhận ra được điều đó thì ta có thể thoải mái dùng ngôn ngữ mà không sợ nó trói buộc mình nữa. Nói như nhà Phật thì là không còn chấp niệm nữa. Lúc đó thì những giận dữ, sợ hãi, kiêu ngạo do bị cố định vào một ý niệm không còn nữa, mà chắc chỉ ngồi nghệch mặt ra cười vì thấy một góc nhìn khác. Khi ta có thể tra vấn lại những thứ ta luôn tin là đúng, thì có khi thấy rằng nhiều khi cái mình cho là sai lại không sai nữa. Nếu sai lại hóa thành không sai, thì thật và ảo sẽ thành một. Nên tôi nghĩ khi Lão Tử nói “danh khả danh phi thường danh”, ông ấy đang nói rằng các từ luôn biến đổi nghĩa không ngừng.

Cũng vì luôn tạo ra được nét nghĩa mới của từ, mà ta sẽ luôn lách vào được những chỗ khó khăn để xử lý. Tôi nghĩ, nói ra bản chất của một thứ gì đó rất dễ, chứ không phải là bất khả đắc, bất khả tư nghị. Ví dụ, ta biết rằng vị chua của cam, quýt và chanh rất khác nhau, nhưng ta chỉ có thể diễn tả chung chung là chua, chứ không nói được gì hơn. Nhưng đó là do kiến thức ngầm rất khó để nói ra mà thôi. Nếu là một nhà nghiên cứu về tính acid của các cây họ cam, họ có thể nói ra được sự khác nhau đó mà vẫn súc tích dễ hiểu. Làm được những điều tưởng như bất khả một cách dễ dàng mới chính là tinh thần vô vi.

Để hiểu cụ thể hơn chuyện đó được xử lý thế nào, xin xem:
  1. Making concrete analogy and big picture
  2. Connections between cognitive linguistics, cognitive psychology, Buddhism and Daoism

Đạo gia với sự học

Năm mầu khiến người mù mắt.
Năm giọng khiến người điếc tai.
Năm mùi khiến người tê lưỡi.
Sải ngựa săn bắn,
Khiến lòng người hoá cuồng.

Đạo gia thường không đề cao kiến thức, vì cho rằng nó làm ta mù mắt, mù tai. Thật ra tôi nghĩ nó lại rất đề cao hiểu biết, chỉ là do vào ngày xưa thì không biết phải diễn tả nó ra sao mà thôi. Cái mù mắt, mù tai đơn giản là hiện tượng mồi (priming). Bạn có thể xem một thí nghiệm về nó ở đây.

Tuy vậy, vẫn có một điều gì đó bí ẩn mà ngay đến cả các học giả nghiên cứu Đạo gia cũng cảm thấy là họ sẽ không bao giờ làm vừa lòng được Trang Tử. Điều này được thể hiện rõ qua bài viết của Alan Jay Levinovitz, Trang Tử: Ngôi nhà cười của tâm trí (Zhuang Zi: A funhouse mirror for the soul):

Mỗi khi nói về Trang Tử, tôi đều cảm thấy không thoải mái, hệt như việc tôi thấy việc đoán ý của bạn mình rồi thay họ nói luôn không được hay cho lắm. Và không phải chỉ có mình tôi là thấy vậy. […] Thầy Trang […] có vẻ đã thiết kế công trình của mình sao cho mọi nỗ lực diễn giải nó đều bị kháng lại. […] Nhà Hán học và dịch giả Burton Watson đã tóm được cái cảm giác này như sau: “Mỗi khi tôi ngồi xuống và cố viết một cái gì đó thật nghiêm túc về Trang Tử, tôi thấy, ở đâu đó phía sau trong đầu mình, Trang Tử đang cười khùng khục với những nỗ lực khiên cưỡng và vô dụng như thế”

Thử hỏi, một người xem Trang Tử là bạn, mà nói cái gì cũng bị cười, thì còn làm gì được nữa?

Trước khi đi tiếp, ta hãy nhắc lại xem Đạo là gì. Theo như tác giả Edward Slingerland trong cuốn Vô vi như là mt n d khái nim và lý tưng tinh thn thi Chiến Quc (Effortless Action: Wu-wei as Conceptual Metaphor and Spiritual Ideal in Early China), thì với những nhà tư tưởng Trung Quôc thời đó:

Sự tích lũy kiến thức không được hiểu theo kiểu nắm bắt quy luật trừu tượng, mà bằng khả năng đi giữa thế giới tự nhiên và xã hội loài người một cách hoàn toàn tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của chúng (hòa hợp được với Đạo).

The culmination of knowledge is understood not in terms of a grasp of abstract principles but rather as an ability to move through the world and human society in a manner that is completely spontaneous and yet still fully in harmony with the normative order of the natural and human worlds—the Dao or “Way.”

Thế nào là “đi lại giữa thế giới”? Lấy ví dụ, bạn thấy nhà cháy to, và bạn cứ xông vào mà cứu người. Điều đó rất nguy hiểm, vì bạn không có đồ bảo hộ, cũng không được huấn luyện như lính cứu hỏa. Tuy nhiên, nhờ trước đó bạn đã biết sơ về nguyên lý cứu người khi xảy ra hỏa hoạn (bò dưới sàn vì khi khói bay ở trên sẽ chừa không khí giàu oxy ở dưới, dùng khăn tẩm nước bịt mũi), mà đt nhiên ni s ca bn biến mt. Từ việc lửa, khói là một thứ nguy hiểm, chúng giờ chỉ là một trở ngại nhỏ đến mục tiêu của bạn, thậm chí là nơi bạn cảm thấy thân thuộc và an toàn, và bạn “move through the world”.

Tuy nhiên, để có thể đạt được sự tự phát mà vẫn hòa hợp được với mọi thứ đó, không thể không học hành nghiêm chỉnh. Đây đơn giản là cách bộ não hoạt động. Mà cách bộ não hoạt động cũng chính là một quy luật khách quan. Nếu ta đòi phải bỏ qua bước này, thì cái cảm giác hòa hợp với tự nhiên đó chỉ là cảm giác khoái chí vì mình hiểu được thứ mà người khác không hiểu. Nó sẽ bồi đắp cho sự tự tôn của mình, và điều này rất nguy hiểm, vì nó là thứ Đạo giáo cố gắng loại bỏ.

Nói gì thì nói, đã gọi là giả định ngầm thì không phải cứ muốn lật lại là sẽ lật được. Phải suy tư, phải học hành thì mới làm được. Và người học cũng không cảm thấy gò bó gì ở đó mà chỉ thấy vui khi mình có khả năng đi lại giữa thế giới một cách tự phát mà vẫn hòa hợp được với trật tự của nó. Nghĩa là họ đang vô vi.

Nên quay lại chuyện Trang Tử cười khùng khục, nếu Trang Tử cười những lúc người khác đang tập trung nghiêm túc, thì đơn gin là Trang T sai. Cố gắng làm vừa lòng Trang Tử chỉ càng làm cho Trang Tử thấy mình vẫn còn đang mắc kẹt. Cách tốt nhất là pht lờ và tiếp tc vic đang làm. Hoặc thậm chí là cưi ngưc li Trang T. Chỉ có như vậy mới làm Trang Tử cảm thấy hài lòng. Đó là câu trả lời mà Trang Tử mong ta nhận ra.

Chuyện Tiểu Cúc

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Heo may qua không một chút tình cờ.
Con dế buồn hát một điệu bơ vơ
Dòng sông nhỏ bay về trời làm bão
Lão lang thang lạc nhịp bỗng quay đầu
Thấy cuộc đời vẫn hồn nhiên tấu nhạc.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say - nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời
Đàn se sẻ một chốc bỗng lên ngôi
Tha cọng cỏ thả trên đồi mộng mị.
Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

***

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ - hóa mộng giữa sương ngời…
....
Tiểu Cúc à...
...Tiểu Cúc của ai ơi?

Đây là một bài thơ trong tập thơ Dấu vết thiên di. Tác giả là bạn Nguyễn Băng Ngọc. Bạn có thể mua sách hoặc ghé thăm fanpage Clouds will tell của bạn ấy. Mình thấy bài này hay nên mình muốn phân tích nó.

Mình có đưa bài này cho một số người bạn đọc, và họ nói rằng bài thơ này không gợi được cảm xúc gì cả. Nó giống như tác giả đang tham lam cho thật nhiều hình ảnh vào nhưng lại thiếu sự liên kết, làm cho mạch cảm xúc bị vỡ vụn, rời rạc. Nhưng theo quan sát của tôi, bài thơ này thể hiện rất rõ lối tư duy của tác giả, và nếu ai có thể hiểu được sẽ thấy nó vô cùng trật tự và biến hóa.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta
Mùa thu nói điều gì rất lạ:
Lá đổ vàng trầm tư sắc lá

Khổ đầu bài thơ miêu tả con người Tiểu Cúc. Mỗi một câu là một chủ đề riêng biệt: mùa thu, lá vàng, heo may, con dế, dòng sông, lão lang thang. Nhưng chúng liên quan gì đến nhau? Và chúng liên quan gì đến Tiểu Cúc? Thật ra các chủ đề đó đều là các ký ức riêng biệt trong cuộc đời Tiểu Cúc, và chúng sẽ được kích hoạt (activate :v) khi có Tiểu Cúc cảm xúc. Nhưng vì chúng ùa đến quá nhanh, mỗi ký ức chỉ được nói rất gọn trong một câu trước khi một ký ức khác chen vào, nên chỉ có những ai có chung cảm xúc và ký ức với Tiểu Cúc mới thấy, còn không thì chỉ thấy chúng rời rạc, lạc lõng.

Con người Tiểu Cúc là như vậy, chứ không phải là dùng nhiều hình ảnh. Những ai có ý thức cao về bản thân và thích triết lý thường hay đặt câu hỏi: tôi là ai? Ở khổ thơ này, Tiểu Cúc nói rằng: tôi là một sự hòa quyện của ký ức. Nói rằng có “tôi” thì đúng là có đấy, nhưng để mà hiểu được tôi thì bạn phải cùng tôi lần mò. Tôi không muốn làm khó bạn, nhưng tôi cũng chẳng có một ý niệm cố định hay một quan điểm triết học nào, mà chỉ có rất nhiều góc nhìn đan xen nhau. Muốn hiểu về tôi chỉ có cách là có được nhiều góc nhìn đan xen cùng lúc như tôi vậy.

Cũng chính vì như vậy, nên khi gặp vấn đề, họ sẽ bị quá tải bởi suy nghĩ của mình. Họ có thể xử lý từng vấn đề đơn lẻ rất tốt, nhưng khi phải xử lý chúng cùng lúc thì dễ bị ngộp. Có quá nhiều góc nhìn cần xử lý, mà bộ não chỉ có thể làm từng góc nhìn một. Điều đó làm ta có cảm giác họ vừa mong manh vừa mạnh mẽ.

Chính vì mong manh như vậy, Tiểu Cúc đã bị lạc.

Tiểu Cúc này, Tiểu Cúc của ta đâu?
Em chớ nghe mùa thu say - nói nhảm
Em chớ nghe vầng trăng khóc trên trời

Những thứ kỳ lạ mùa thu mang đến chỉ là những lời nói nhảm. Đàn se sẻ, như con dế, như mọi kỷ niệm khác, đều chỉ là những thứ phù phiếm. Tác giả như muốn nói: Em ơi, xin hãy nghe tôi. Đừng chạy theo những cảm xúc phù du nữa.

Người trăm năm liệu có biết đi tìm?
Chuyện Tiểu Cúc, chữ Tình ai viết vội…

Người trăm năm phải tự đi tìm Tiểu Cúc, chứ Tiểu Cúc không tìm người trăm năm đâu. Đây không chỉ đơn giản là tâm lý muốn được làm cao, muốn được chinh phục của con gái, mà ở đây là sự thờ ơ với người mình tin tưởng và muốn gắn bó nhất. Họ muốn thì họ tự đi tìm, còn Tiểu Cúc thì sẽ mặc kệ họ. Phải là người có thể mặc kệ được sự mặc kệ của Tiểu Cúc, thì mới là người Tiểu Cúc cần tìm.

Vậy từ giờ cho đến lúc đó, Tiểu Cúc cần gì?

Tiểu Cúc à, Tiểu Cúc của ta ơi!
Ngày mùa hạ Tiểu Cúc hãy rong chơi
Đêm mùa thu-xin về đây nằm ngủ…

Tác giả muốn nói: dù em có thế nào, thì tôi vẫn yêu em. Ngày mùa hạ, em rong chơi không màng tới tôi thì tôi vui cho em. Đêm mùa thu, khi em mệt mỏi rồi thì xin hãy quay về cho tôi che chở.

Hoa cúc nhỏ mỏng như lời nói dối
Em như tơ - hóa mộng giữa sương ngời…
....
Tiểu Cúc à...
...Tiểu Cúc của ai ơi?

Tuy có ý thức được là mình cần phải sống tốt hơn, nhưng đóa hoa ấy lựa chọn điều ngược lại. Mù quáng thì sẽ đau khổ, nhưng Tiểu Cúc sẽ chấp nhận cái giá đó để được thêm một lần tự huyễn hoặc chính bản thân mình. Tiểu Cúc lựa chọn làm mình trở thành huyền ảo, nửa tỉnh nửa mê, làm cho mọi thứ đối với mình trở nên mơ hồ, hư hư thực thực. Nghĩa là nhập tâm vào vai diễn của mình. Tiểu Cúc muốn được một lần sống giữa những lời nói dối.

Tại sao điều này lại quan trọng đến như vậy? Tôi không chắc, nhưng có thể là để có sự trải nghiệm. Trải nghiệm sự mơ hồ, trải nghiệm sự lừa dối. Đây là thứ không ai dám làm, nhưng nếu không dám làm, không dám biết, thì làm sao có thể hiểu được về cuộc sống?  Thế nên, tuy điều này có thể đi ngược quan điểm chánh kiến của Phật, nhưng với Tiểu Cúc, đây chính là con đường để đi tới Sự Thật.

Quay trở lại chuyện Tiểu Cúc là một sự hòa quyện của ký ức. Những ký ức tạo nên con người Tiểu Cúc giờ đã tan vào trong sự mơ hồ, mộng ảo rồi. Em tan đi không một lời từ biệt. Tất cả giờ chỉ còn là sự luyến tiếc của tác giả: em không còn là của tôi nữa rồi. Nhưng dù trong đau khổ cùng cực như vậy, tác giả vẫn nghĩ về em, lo lắng cho em hơn là cho chính mình: em đã có được hạnh phúc cho riêng mình chưa?

PS: Cứ tưởng viết ra không có ma nào chú ý, vậy mà không ngờ chỉ nội trong một ngày lại có cả một bài review cho bài review này. Bài của bạn Nguyễn Trần Anh: Chuyện Tiểu Cúc | Một lời đáp. Thật sự cảm động. Cảm ơn em đã nhiều chuyện với tôi, với tác giả bài thơ, và với Tiểu Cúc.